LUẬT PHÁP

Tài Liệu Luật Pháp

1_Ngo dinhz

Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967

3 Responses to LUẬT PHÁP

  1. haiz00 says:

    Vì sao phát triển lại cần nền tảng pháp quyền

    zzx4

    Lê Duy Nam chuyển ngữ, CTV Phía Trước
    James Goldston, Open Society Foundation

    Những quốc gia có nhiều giao tranh thường là những quốc gia thiếu vắng nềng tảng pháp quyền – tức thượng tôn pháp luật – và phần lớn thường ở các quốc gia đang phát triển, thiếu giáo dục và tỉ lệ trẻ em tử vong cao.

    Tại Mexico kể từ năm 2006, mười nghìn người đã bị giết và nhiều người khác bị mất tích khi cuộc chiến nổ ra giữa các băng đảng buôn thuốc phiện và lực lượng an ninh quốc gia. Người dân bị nhấn chìm vào cuộc chiến khốc liệt trong khi chỉ có vài kẻ tội phạm bị đưa ra ánh sáng. Tại quốc gia Euqatorial Guinea, một nơi có GPD cao hơn cả Italy và Hàn Quốc trong đó 60% dân số chỉ tồn tại qua ngày với ít hơn 1 đô la một ngày, vì dầu mỏ ở đây bị rút ruột bởi nạn tham nhũng không kiểm soát được. Xuyên suốt Trung và Đông Âu, trẻ em dân tộc thiểu số Roma vẫn bị phân biệt đối xử chỉ bởi vì màu xa của chúng. (Roma là dân tộc thiểu số sống rải rác khắp châu Âu với khoảng 10 triệu người, một trong những nhóm dân tộc thiểu số lớn nhất châu Âu),

    Một vấn đề nằm đằng sau tất cả những bi kịch này: sự thất bại của nền tảng pháp puyền.

    Trong những năm gần đây, khái niệm “pháp quyền” đã ngày càng thu hút được mối quan tâm trong cộng đồng học thuật và chính trị. Giờ đây, một cơ hội lớn để hiện thực hoá pháp quyền đang ở phía chân trời rồi: Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ hậu thế hệ 2015.

    Vào tháng Chín năm 2000, các nhà lãnh đạo thế giới đã tập hợp lại và tuyến bố trong Tuyên ngôn Thiên niên kỷ rằng, “thách thức trọng tâm mà chúng ta phải đối mặt hiện nay là để đảm bảo sự toàn cầu hoá trở thành một sức mạnh tích cực cho toàn nhân loại trên toàn thế giới” (khổ 5). Bản tuyên ngôn đã yêu cầu Hội đồng Liên Hiệp Quốc thực hiện một tập hợp các mục tiêu tham vọng cao, có hạn định cụ thể và có thể đo đạc được nhằm thúc đẩy phát triển và giảm đói nghèo. Nhưng bản Tuyên ngôn cũng nhận diện một con số các “mục tiêu quan trọng,” bao gồm hoà bình và an ninh tương lai, bảo vệ môi trường, và “thúc đẩy dân chủ đồng thời củng cố pháp quyền, cũng như sự tôn trọng đối với nhân quyền đã được quốc tế thừa nhận và các quyền tự do căn bản khác”.

    Trong năm 2001, khi bản Tuyên ngôn đang được khái niệm hoá để trở thành một tập các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, thì pháp quyền, nhân quyền, dân chủ và môi trường đã bị bỏ ngoài rìa. Tuy nhiên, Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đã có một tác động mạnh trong các lĩnh vực của nó. Trong năm 2010, năm năm trước khi hết thời hạn, mục tiêu trọng tâm về việc tiêu diệt đói nghèo cơ cực đã đạt được. Tỉ lệ đi học cho tiểu học đã tăng đáng kể tại nam Á và vành đai sa mạc Sahara tại châu Phi. Những thành tựu khác trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ liên quan đến bệnh sốt rét và HIV cũng đã giảm sút đáng kể đối với tỉ lệ tử vong trẻ em tại vài quốc gia.

    Cùng lúc đó, sự thiếu vắng pháp quyền đã được ghi nhận. Không một quốc gia thu nhập thấp và xung đột vũ trang nào đạt được một – chỉ một chỉ tiêu – trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Ở những quốc gia có xung đột vũ trang này, nơi thiếu  vắng pháp quyền, chiếm phần lớn trong các quốc gia nghèo đói, dân trí thấp và tỉ lệ trẻ em tử vong cao trên thế giới. Trong những nền kinh tế phát triển, phần lớn dân số, những người bị từ chối truy cập công lý, phải hứng chịu mức độ phân biệt đối xử cao trong giáo dục cũng như những dịch vụ công cộng khác.

    Cuộc tranh luận về thế hệ tiếp theo của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đang được chuẩn bị. Một ban cấp cao Liên Hiệp Quốc, với sự góp mặt của Thủ tưởng Anh David Cameron, Tổng thống Liberia Ellen Johnson Sirleaf, và Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono, sẽ công bố bản tư vấn trước tháng Sáu, và Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc sẽ báo cáo trước Hội đồng Liên Hiệp Quốc trong tháng Chín. Sau đó các chính phủ sẽ quyết định.

    Có nhiều lý do tốt để đưa pháp quyền vào trong bản tư vấn này, bao gồm những đóng góp của nó đối với sự phát triển bền vững, giảm thiểu đói nghèo và an ninh cũng như sức mạnh công dân.

    Và có rất nhiều cách khác nhau để thực hiện điều này.

    Pháp quyền là “nền tảng quan trọng cho đối thoại chính trị và hợp tác chính trị giữa các chính quyền và đối với sự phát triển tương lai của ba trụ cột mà dựa vào đó Liên Hiệp Quốc được dựng lên, đó là: hoà bình quốc tế và an ninh, nhân quyền, và phát triển.

    Pháp quyền cũng có thể trở thành những mục tiêu cụ thể và có thể đo đạc được, ví dụ như tăng gấp đôi số lượng người dùng có thể tiếp cận được luật sư ở chi phí thấp hoặc không mất tiền, ví dụ như nhà nước phải có trách nhiệm cung cấp hỗ trợ thuốc thang cần thiết đối với một số trường hợp sức khoẻ nhất định, hoặc cung cấp giáo dục cho mọi trẻ em ở mọi lứa tuổi.

    Nhưng lý do quan trọng nhất cần bổ sung pháp quyền vào nền tảng phát triển hậu 2015: đây là điều đúng cần phải làm. Một nền văn hoá tôn trọng pháp quyền sẽ giữ được nền tảng quan trọng đối với sức khoẻ con người.

    Thất bại trong việc đưa pháp quyền vào trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ hậu 2015 có thể sẽ gửi đi một bản tin không thể chấp nhận được: điều này sẽ không mang tới đầy đủ vốn chính trị để mang tới thay đổi tích cực. Cho đến khi nào ý tưởng về pháp quyền chưa đạt được sự hưởng ứng trên toàn thế giới thì các nhà lãnh đạo chính trị sẽ cần phải làm tốt hơn những gì họ đang cố gắng hiện nay.

    © 2007–2015 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – http://www.phiatruoc.info

  2. haiz00 says:

    Trong vòng pháp luật

    Donald Boudreaux, FEE
    Nguyễn Thủy, CTV Phía Trước dịch

    Chúng ta vẫn luôn đồng ý rằng chế độ pháp quyền là tốt, về cả mặt đạo đức lẫn kinh tế. Gần như không ai, trừ những hệ tư tưởng chính trị, dám đặt câu hỏi về những mặt tốt và tầm quan trọng của pháp quyền.


    Tất nhiên là cả tôi cũng không.

    Nhưng, chính xác thì chế độ pháp quyền là gì? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã khám phá ra lý do tại sao con người có thể có vô vàn quan điểm khác nhau về vai trò đúng đắn của chính phủ nhưng đều thể hiện lòng trung thành đối với chế độ nhà nước pháp quyền.

    Sau đây liệt kê những đặc điểm không phải là bản chất của một chế độ pháp quyền. Chế độ pháp quyền không tồn tại đơn giản vì chính phủ, với nhiệm vụ ban bố mệnh lệnh và hành pháp, được bầu chọn một cách hợp pháp và dân chủ. Chế độ pháp quyền không tồn tại đơn giản vì mệnh lệnh và luật lệ được thi hành theo đúng ý nghĩa các thuật ngữ pháp lý mà không thiên vị, không ngoại lệ hay sai khác. Chế độ pháp quyền không tồn tại đơn giản vì tất cả các cá nhân trong xã hội, bao gồm cả những cá nhân nắm giữ quyền lực chính trị, đều phải tuân theo mệnh lệnh của chính phủ.

    Một hệ thống chính trị và pháp lý chuẩn mực với những đặc trưng kể trên hẳn là một giấc mơ, nhưng dù có tách ra hay gộp lại thì chúng đều không phải là cốt lõi của một chế độ pháp quyền.

    Mệnh lệnh và Luật pháp

    Một chế độ pháp quyền tồn tại khi và chỉ khi sự cai trị do chính phủ áp đặt chính là pháp luật một cách thực tế.

    Định nghĩa của bản thân tôi có thể hơi trùng lặp. Nhưng rốt cục, liệu tất cả các mệnh lệnh đều trở thành pháp luật chính thức khi được áp chế bởi chính phủ không?

    Không phải vậy. Nhưng, thuật ngữ “Pháp quyền” vì thế trở nên nhập nhằng do bị phổ cập quá nhanh , trong khi vẫn bị hiểu sai rằng, việc mệnh lệnh trở thành luật là do chính phủ áp đặt thi hành.

    Về bản chất, pháp luật được sinh ra từ những hoạt động thường ngày của con người trong quá trình nỗ lực phát triển bản thân, đồng thời vừa phải tránh xung đột với nhau. Pháp luật vì thế gắn liền với những kì vọng to lớn nhất của con người trong một cộng đồng.

    Lấy một ví dụ điển hình, sát hại người vô tội là phạm pháp vì chính phủ đã quy định như vậy. Hành động như vậy là phạm pháp vì nó phá vỡ quy chuẩn và kỳ vọng của xã hội. Theo quy chế chống lại tội danh giết người trong pháp lệnh toàn thư, không một trường hợp nào liên quan đến việc giết người được coi là hợp pháp.

    Nói chung, trong một thế giới tự do, chính quyền sẽ hợp thức hóa luật chống lại tội sát nhân và dùng quyền lực của mình để kiểm soát nó, bởi chính phủ thực tế là một tổ chức trong xã hội có ưu thế cạnh tranh đặc biệt trong hoạt động khống chế. Cũng giống với lý do Starbucks trở thành chuyên gia về bán lẻ café, chính phủ trở thành chuyên gia về thi hành pháp luật. Cũng giống như Starbucks đáp lại xu hướng uống café đang thịnh hành – hãng café này không cho khách hàng biết họ phải cần gì hay không cần gì mà thay vào đó phục vụ họ café và bánh ngọt theo đúng khẩu vị riêng của họ -, một  chính quyền dân chủ và chính thống thực sự sẽ không áp đặt và ra lệnh cho người dân mà phục vụ họ bằng một hệ thống pháp luật độc lập với chính phủ.

    Chỉ bằng cách hiểu luật như vậy, ta mới chấp nhận rằng: “Coi thường luật pháp là điều không thể tha thứ”. Bởi lẽ luật pháp chân chính luôn luôn gắn với việc lan tỏa kỳ vọng của cộng đồng; người dân càng tuân thủ pháp luật, xã hội sẽ hạnh phúc và yên bình hơn. Điều này cũng có nghĩa: con người ngày càng kiên định hơn với những kỳ vọng cộng đồng.  Vì thế, nếu một cá nhân không hiểu được những kỳ vọng ấy thì anh ta cũng không có quyền bào chữa hay thanh minh rằng “tôi không biết”, chẳng hạn như “không biết” rằng lấy mất ví tiền của người khác khi không được phép là vi phạm pháp luật.

    Việc xử phạt những hành vi cướp giật ví tiền là điều hết sức công bằng. Các quy định của pháp luật về hành vi đó không có điểm gì là độc đoán, bởi chính các quy định này dần dần len lỏi vào bên trong chính cộng đồng dân cư và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại bền vững dài lâu của cộng đồng. Thêm vào đó, vì những kỳ vọng cộng đồng mang tên “luật pháp” kia được phổ biến rộng rãi một cách nhanh chóng, do đó, tỷ lệ tội phạm “không biết mình phạm pháp” là rất thấp. Thật chẳng bõ công cho người phạm tội khi viện cớ cho sự coi thường pháp luật của mình để cãi lại sự truy tố từ pháp luật.

    Hãy cùng so sánh cách hiểu về luật pháp dựa trên kỳ vọng cộng đồng nói trên với một “lập luận hư cấu hiện đại” cho rằng pháp luật chỉ là những mệnh lệnh ban hành bởi nhà nước. Trong trường hợp của “lập luận hư cấu” ấy,người có sẵn sàng chịu sự trừng phạt hay không, hỡi kẻ chủ đích phá vỡ luật pháp Nhà nước? Tôi nghĩ là KHÔNG đâu.

    Như vậy, việc một kẻ giật ví tiền không nhận thức được việc hắn làm là vi phạm pháp luật nghe thật vô lý, còn việc này lại không hề vô lý: một người dân không hiểu tại sao cơ quan nhà nước hay một vị viên chức nhà nước nào đó lại phán rằng anh ta đã phạm pháp chỉ vì đã lấp cái hố nước nhỏ ở sau vườn nhà mình. Thực tế, việc quy chuẩn của xã hội không bao giờ cấm đoán hành động lấp hố trên đã là một bằng chứng chắc nịch cho thấy, việc lấp hố ấy chẳng ảnh hưởng gì đến sự vận hành trơn tru của xã hội hết.

    Vậy, trong khi coi thường pháp luật là không thể chấp nhận được vì nó được gắn với quy chuẩn và kỳ vọng của xã hội thì coi thường mệnh lệnh tuyệt đối của cơ quan nhà nước lại chấp nhận được, thậm chí đôi lúc phải thực hiện vì đó là cách ứng xử tự vệ hiệu quả nhất đối những mệnh lệnh luật pháp ấy.

    Sự coi trọng không xứng đáng

    Thật không may, những mệnh lệnh tuyệt đối từ cơ quan nhà nước và viên chức nhà nước lại bị hiểu nhầm thành “luật” nên các mệnh lệnh kiểu này thường nhận được sự coi trọng và tôn trọng cao hơn mức xứng đáng.

    Chính vì thế, theo một cách nói  suồng sã, một điểm đặc trưng của chế độ pháp quyền là chế độ pháp quyền với đại diện là luật pháp lại đối nghịch hoàn toàn với “luật rừng” – là cách nói khác của “luật lệ của cá nhân” Pháp quyền là quyền lực của những chuẩn mực mở ra các kỳ vọng của xã hội. Không một người nào, không một Ủy ban, không một đảng phái, Nghị viện hay tòa án nào có thể tạo ra các chuẩn mực này – hay chính là những luật này. Như giá cả thị trường hay hình mẫu sản xuất công nghiệp chẳng hạn, luật pháp chân chính (theo cách nói ưa thích của Hayek (1)) “là kết quả của hành động của con người chứ không phải do con người kiến tạo ra”.

    Pháp quyền đồng nghĩa với việc phải thể hiện sự tôn trọng chung với các chuẩn mực và kỳ vọng xã hội được đúc rút từ hoạt động phi tập trung hóa của con người. Ngược lại, quyền lực của mệnh lệnh tuyệt đối lại luôn luôn là quyền lực được thi hành bởi các cá nhân lạm dụng quyền hạn cưỡng chế của mình, coi nhẹ những chuẩn mực và kỳ vọng đó. Trong thực tế, những chính trị gia sẽ được dân bầu chỉ khi họ không có ý tưởng biến những mệnh lệnh tuyệt đối này thành pháp luật.

    Luật pháp theo định nghĩa ở đây, không bao giờ hoàn hảo. Như lịch sử đã chứng minh, luật pháp có thể vướng phải bất cứ vết nhơ ở bất kỳ mức độ nào. Nhưng luật pháp có lực hấp dẫn cực lớn vì thi thoảng lại được trở thành công cụ cho việc theo đuổi, thực thi quyền lực của riêng con người. Những mệnh lệnh tuyệt đối do những kẻ thống trị khát khao quyền lực tạo nên và gọi bằng cái tên “pháp luật” nhằm cải trang chúng bằng một bức màn hợp pháp giả mạo. Đó gần như luôn luôn là công cụ viễn tiến của những kẻ thống trị – những kẻ không màng đến cuộc sống ấm no hạnh phúc của nhân dân.
    ________

    Cước chú:

    * (1) Friedrich August von Hayek (8/ 5/ 1899 – 23/3/ 1992) là một nhà kinh tế học và nhà khoa học chính trị người Anh gốc Áo nổi tiếng.

    © 2007-2014 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – http://www.phiatruoc.info

    Vô đây xem tiếp

  3. haiz00 says:

     Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967

    LacLongAuCo

    LỜI MỞ ĐẦU

    VN map

    Tin tưởng rằng lòng ái quốc, chí quật cường, truyền thống đấu tranh của dân tộc bảo đảm tương lai huy hoàng của đất nước.

    Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể Cộng Hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc Lập Tự Do Dân Chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.

    Chúng tôi một trăm mười bảy (117) Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến đại diện nhân dân Việt Nam, sau khi thảo luận, chấp thuận Bản Hiến Pháp sau đây :

    CHƯƠNG I: Điều khoản căn bản

    ĐIỀU 1
    1- VIỆT NAM là một nước CỘNG HÒA, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
    ĐIỀU 2
    1- Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của mọi công dân
    2- Quốc Gia chủ trương sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, đảng phái. Đồng bào thiểu số được đặc biệt nâng đỡ để theo kịp đà tiến bộ chung của dân tộc.
    3- Mọi công dân có nghĩa vụ góp phần phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc.
    ĐIỀU 3
    Ba cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự Do, Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội.
    ĐIỀU 4
    1- Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức
    2- Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ.
    ĐIỀU 5
    1- Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận các nguyên tắc quốc tế pháp không trái với chủ quyền quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
    2- Việt Nam Cộng Hòa cương quyết chống lại mọi hình thức xâm lược và nỗ lực góp phần xây dựng nền an ninh và hòa bình thế giới.

    CHƯƠNG II: Quyền lợi và Nghĩa vụ công dân

    ĐIỀU 6
    1- Quốc Gia tôn trọng nhân phẩm.
    2- Luật pháp bảo vệ tự do, sinh mạng, tài sản và danh dự của mọi công dân.
    ĐIỀU 7
    1- Quốc Gia tôn trọng và bảo vệ quyền an toàn cá nhân và quyền biện hộ.
    2- Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ nếu không có mệnh lệnh hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền luật định, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp.
    3- Bị can và thân nhân phải được thông báo tội trạng trong thời hạn luật định. Mọi sự câu lưu phải đặt dưới quyền kiểm soát của cơ quan Tư Pháp.
    4- Không ai có thể bị tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách thú tội. Sự nhận tội vì tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách không được coi là bằng chứng buộc tội.
    5- Bị can phải được xét xử công khai và mau chóng.
    6- Bị can có quyền được luật sư biện hộ dự kiến trong mọi giai đoạn thẩm vấn kể cả trong cuộc điều tra sơ vấn.
    7- Bị can về các tội Tiểu Hình, chưa có tiền án quá ba (3) tháng tù về các tội phạm cố ý, có thể được tại ngoại hầu tra nếu có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn. Nữ bị can về các tội tiểu hình, có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn, nếu có thai trên ba (3) tháng.
    8- Bị can được suy đoán là vô tội cho đến khi bản án xác nhận tội trạng trở thành nhất định.
    Sự nghi vấn có lợi cho bị can.
    9- Bị can bị bắt giữ oan ức, sau khi được tuyên bố vô tội, có quyền đòi Quốc Gia bồi thường thiệt hại trong những điều kiện luật định.
    10- Không ai có thể bị câu thúc thân thể vì thiếu nợ.
    ĐIỀU 8
    1- Đời tư, nhà cửa và thư tín của công dân phải được tôn trọng.
    2- Không ai được quyền xâm nhập, khám xét nơi cư trú và tịch thâu đồ vật của người dân, trừ khi có lệnh của Tòa Án hoặc cần bảo vệ an ninh và trật tự công cộng trong phạm vi luật định.
    3- Luật pháp bảo vệ tánh cách riêng tư của thư tín, những hạn chế, nếu có phải do một (1) đạo luật qui định.
    ĐIỀU 9
    1- Quốc Gia tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do truyền giáo và hành đạo của mọi công dân miễn là không xâm phạm đến quyền lợi quốc gia, không phương hại đến an ninh, trật tự công cộng và không trái với thuần phong mỹ tục.
    2- Quốc Gia không thừa nhận một tôn giáo nào là Quốc Giáo. Quốc Gia vô tư đối với sự phát triển của các tôn giáo.
    ĐIỀU 10
    1- Quốc Gia công nhận quyền tự do giáo dục.
    2- Nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí.
    3- Nền giáo dục Đại Học được tự trị.
    4- Những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
    5- Quốc Gia khuyến khích và nâng đỡ các công dân trong việc nghiên cứu và sáng tác về khoa học, văn học và nghệ thuật.
    ĐIỀU 11
    1- Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.
    2- Một ngân sách thích đáng phải được dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục.
    ĐIỀU 12
    1- Quốc Gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục.
    2- Chế độ kiểm duyệt không được chấp nhận, ngoại trừ các bộ môn điện ảnh và kịch trường.
    3- Một đạo luật sẽ ấn định qui chế báo chí.
    ĐIỀU 13
    1- Mọi công dân đều có quyền tự do hội họp và lập hội trong phạm vi luật định.
    2- Mọi công dân đều có quyền bầu cử , ứng cử và tham gia công vụ trên căn bản bình đẳng theo điều kiện và thể thức luật định.
    3- Quốc Gia tôn trọng các quyền chính trị của mọi công dân kể cả quyền tự do thỉnh nguyện, quyền đối lập công khai bất bạo động và hợp pháp.
    ĐIỀU 14
    Mọi công dân đều có quyền tự do cư trú, đi lại, xuất ngoại và hồi hương, ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do y tế, an ninh và quốc phòng.
    ĐIỀU 15
    1- Mọi công dân đều có quyền, có bổn phận làm việc và được hưởng thù lao tương xứng để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
    2- Quốc Gia nỗ lực tạo công việc làm cho mọi công dân.
    ĐIỀU 16
    Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được tôn trọng trong phạm vi và thể thức luật định.
    ĐIỀU 17
    1- Quốc Gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc Gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, săn sóc sản phụ và thai nhi.
    2- Hôn nhân được đặt căn bản trên sự ưng thuận, sự bình đẳng và sự hợp tác giữa vợ chồng.
    3- Quốc Gia tán trợ sự thuần nhất gia đình.
    ĐIỀU 18
    1- Quốc Gia nỗ lực thiết lập chế độ an ninh xã hội.
    2- Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập chế độ cứu trợ xã hội và y tế công cộng.
    3- Quốc Gia có nhiệm vụ nâng đỡ đời sống tinh thần và vật chất của các chiến sĩ quốc gia, bảo trợ và dưỡng dục các quốc gia nghĩa tử.
    ĐIỀU 19
    1- Quốc Gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu.
    2- Quốc Gia chủ trương hữu sản hóa nhân dân.
    3- Sở hữu chủ các tài sản bị truất hữu hoặc trưng dụng vì lý do công ích phải được bồi thường nhanh chóng và thoả đáng theo thời giá.
    ĐIỀU 20
    1- Quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh được công nhận nhưng không được hành xử để nắm giữ độc quyền, độc chiếm hay thao túng thị trường.
    2- Quốc Gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác kinh tế có tánh cách tương trợ.
    3- Quốc Gia đặc biệt nâng đỡ những thành phần xã hội yếu kém về kinh tế.
    ĐIỀU 21
    Quốc Gia chủ trương nâng cao đời sống nông dân và đặc biệt giúp đỡ nông dân có ruộng đất canh tác.
    ĐIỀU 22
    Trên nguyên tắc quân bình giữa nghĩa vụ và quyền lợi, công nhân có quyền cử đại biểu tham gia quản trị xí nghiệp, đặc biệt về những vấn đề liên quan đến lương bổng và điều kiện làm việc trong phạm vi và thể thức luật định.
    ĐIỀU 23
    1- Quân Nhân đắc cử vào các chức vụ dân cử, hay tham chánh tại cấp bậc trung ương phải được giải ngũ hay nghỉ giả hạn không lương, tùy theo sự lựa chọn của đương sự.
    2- Quân Nhân tại ngũ không được sinh hoạt đảng phái.
    ĐIỀU 24
    1- Quốc Gia công nhận sự hiện hữu của các sắc tộc thiểu số trong cộng đồng Việt Nam.
    2- Quốc Gia tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào thiểu số. Các tòa án phong tục phải được thiết lập để xét xử một số các vụ án phong tục giữa các đồng bào thiểu số.
    3- Một đạo luật sẽ qui định những quyền lợi đặc biệt để nâng đỡ đồng bào thiểu số.
    ĐIỀU 25
    Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc và chánh thể Cộng Hòa.
    ĐIỀU 26
    Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Hiến Pháp và tôn trọng luật pháp.
    ĐIỀU 27
    Mọi công dân đều có nghĩa vụ thi hành quân dịch theo luật định.
    ĐIỀU 28
    Mọi công dân đều có nghĩa vụ đóng thuế theo luật định.
    ĐIỀU 29
    Mọi sự hạn chế các quyền công dân căn bản phải được qui định bởi một đạo luật có ấn định rõ phạm vi áp dụng trong thời gian và không gian. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, tánh cách thiết yếu của các quyền công dân căn bản vẫn không được vi phạm.

    CHƯƠNG III: Lập Pháp

    ĐIỀU 30
    Quyền Lập Pháp được quốc dân ủy nhiệm cho Quốc Hội.
    Quốc Hội gồm hai viện :
    – Hạ Nghị Viện
    – Thượng Nghị Viện
    ĐIỀU 31
    Hạ Nghị Viện gồm từ một trăm (100) đến hai trăm (200) Dân Biểu.
    1- Dân Biểu được bầu theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín theo thể thức đơn danh, trong từng đơn vị lớn nhất là tỉnh.
    2- Nhiệm kỳ Dân Biểu là bốn (4) năm. Dân Biểu có thể được tái cử.
    3- Cuộc bầu cử tân Hạ Nghị Viện sẽ được kết thúc chậm nhất là một (1) tháng trước khi pháp nhiệm cũ chấm dứt.
    ĐIỀU 32
    Được quyền ứng cử Dân Biểu những công dân :
    1- Có Việt tịch từ khi mới sanh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất bảy (7) năm, hoặc đã thủ đắc hoặc hồi phục Việt tịch ít nhất năm (5) năm tính đến ngày bầu cử.
    2- Đủ hai mươi lăm (25) tuổi tính đến ngày bầu cử.
    3- Được hưởng các quyền công dân.
    4- Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch.
    5- Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Dân Biểu.
    ĐIỀU 33
    Thượng Nghị Viện gồm từ ba mươi (30) đến sáu mươi (60) Nghị Sĩ.
    1- Nghị Sĩ được cử tri đoàn toàn quốc bầu lên trong một cuộc phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín theo thể thức Liên Danh đa số. Mỗi Liên Danh gồm từ một phần sáu (1/6) đến một phần ba (1/3) tổng số Nghị Sĩ.
    2- Nhiệm kỳ Nghị Sĩ là sáu (6) năm, mỗi ba (3) năm bầu lại phân nửa (1/2). Nghị Sĩ có thể được tái cử.
    3- Các Nghị Sĩ trong pháp nhiệm đầu tiên sẽ được chia làm hai nhóm đều nhau, theo thể thức rút thăm. Nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ sáu (6) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ ba (3) năm.
    4- Cuộc bầu cử các tân Nghị Sĩ phải được tổ chức chậm nhất là một (1) tháng trước khi phân nửa (1/2) tổng số Nghị Sĩ chấm dứt pháp nhiệm.
    ĐIỀU 34
    Được quyền ứng cử Nghị Sĩ những công dân đủ ba mươi (30) tuổi tính đến ngày bầu cử, hội đủ các điều kiện dự liệu trong đạo luật bầu cử Nghị Sĩ và các điều kiện qui định ở Điều 32.
    ĐIỀU 35
    1- Trong trường hợp khống khuyết Dân Biểu vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức trong hạn ba (3) tháng, nếu sự khống khuyết xảy ra trên hai (2) năm trước ngày chấm dứt pháp nhiệm.
    2- Trong trường hợp khống khuyết Nghị Sĩ vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức chung với cuộc bầu cử phân nửa (1/2) tổng số Nghị Sĩ gần nhất.
    ĐIỀU 36
    Các thể thức và điều kiện ứng cử, bầu cử Dân Biểu và Nghị Sĩ, kể cả Dân Biểu đồng bào Thiểu số, sẽ do những đạo luật quy định.
    ĐIỀU 37
    1- Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân Biểu hay Nghị Sĩ vì những sự phát biểu và biểu quyết tại Quốc Hội.
    2- Trong suốt thời gian pháp nhiệm, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân Biểu hay Nghị Sĩ, nếu không có sự chấp thuận của ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ.
    3- Trong trường hợp quả tang phạm pháp, sự truy tố hay bắt giam sẽ được đình chỉ nếu có sự yêu cầu của Viện sở quan.
    4- Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền bảo mật về xuất xứ các tài liệu trình bày trước Quốc Hội.
    5- Dân Biểu và Nghị Sĩ không thể kiêm nhiệm một chức vụ công cử hay dân cử nào khác.
    6- Dân Biểu và Nghị Sĩ có thể phụ trách giảng huấn tại các trường đại học và cao đẳng kỹ thuật.
    7- Dân Biểu, Nghị Sĩ và người hôn phối không thể tham dự những cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan công quyền.
    ĐIỀU 38
    1- Trong trường hợp can tội phản quốc hay các trọng tội khác, Dân Biểu hay Nghị Sĩ có thể bị Viện sở quan truất quyền.
    2- Sự truất quyền phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ đề nghị.
    3- Quyết định truất quyền phải được ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ chấp thuận.
    4- Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truất quyền.
    ĐIỀU 39
    Quốc Hội có thẩm quyền :
    1- Biểu quyết các đạo luật.
    2- Phê chuẩn các hiệp ước và hiệp định quốc tế.
    3- Quyết định việc tuyên chiến và nghị hòa.
    4- Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh.
    5- Kiểm soát chính phủ trong việc thi hành chánh sách Quốc Gia.
    6- Trong phạm vi mỗi viện, quyết định hợp thức hóa sự đắc cử của các Dân Biểu hay Nghị Sĩ.
    ĐIỀU 40
    1- Mỗi viện với một phần ba (1/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ có quyền yêu cầu Thủ Tướng hay các nhân viên chính phủ ra trước Viện sở quan để trả lời các câu chất vấn về sự thi hành chánh sách quốc gia.
    2- Chủ tịch Ủy Ban của mỗi viện có quyền yêu cầu các nhân viên chánh phủ tham dự các phiên họp của Uũy Ban để trình bày về các vấn đề liên quan đến Bộ sở quan.
    ĐIỀU 41
    Thượng Nghị Viện có quyền mở cuộc điều tra về sự thi hành chánh sách quốc gia và yêu cầu các cơ quan công quyền xuất trình các tài liệu cần thiết cho cuộc điều tra này.
    ĐIỀU 42
    1- Quốc Hội có quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay toàn thể Chánh phủ với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ.
    2- Nếu Tổng Thống không có lý do đặc biệt để khước từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu lực.
    3- Trong trường hợp Tổng Thống khước từ, Quốc Hội có quyền chung quyết sự khuyến cáo với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ. Sự khuyến cáo sau này của Quốc Hội có hiệu lực kể từ ngày chung quyết.
    ĐIỀU 43
    1- Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền đề nghị các dự án luật.
    2- Tổng Thống có quyền đề nghị các dự thảo luật.
    3- Các dự án luật và dự thảo luật, gọi chung là dự luật phải được đệ nạp tại văn phòng Hạ Nghị Viện.
    4- Trong mọi trường hợp Hạ Nghị Viện chấp thuận hoặc bác bỏ một dự luật, Viện này đều chuyển dự luật sang văn phòng Thượng Nghị Viện trong thời hạn ba (3) ngày tròn.
    5- Nếu Thượng Nghị Viện đồng quan điểm với Hạ Nghị Viện, dự luật sẽ được chuyển sang Tổng Thống để ban hành hoặc sẽ bị bác bỏ.
    6- Nếu Thượng Nghị Viện không đồng quan điểm với Hạ Nghị Viện, dự luật sẽ được gởi về văn phòng Hạ Nghị Viện trong thời hạn ba (3) ngày tròn, kèm theo quyết nghị có viện dẫn lý do.
    7- Trong trường hợp sau này, Hạ Nghị Viện có quyền chung quyết dự luật với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu.
    8- Nếu Hạ Nghị Viện không hội đủ đa số hai phần ba (2/3) nói trên, quan điểm của Thượng Nghị Viện được coi là chung quyết.
    9- Thời gian thảo luận và biểu quyết một dự luật tại Thượng Nghị Viện chỉ có thể bằng phân nửa (1/2) thời gian thảo luận và biểu quyết tại Hạ Nghị Viện. Thời gian thảo luận và chung quyết một dự luật tại Hạ Nghị Viện chỉ có thể gấp đôi thời gian thảo luận và biểu quyết tại Thượng Nghị Viện.
    ĐIỀU 44
    1- Các dự luật được Quốc Hội chung quyết sẽ được chuyển sang Tổng Thống trong thời hạn ba (3) ngày tròn.
    2- Thời gian ban hành là mười lăm (15) ngày tròn kể từ ngày Tổng Thống tiếp nhận dự luật.
    3- Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc Hội thẩm định, thời hạn ban hành là bảy (7) ngày tròn.
    4- Nếu Tổng Thống không ban hành trong các thời hạn kể trên, dự luật đã được Quốc Hội biểu quyết đương nhiên thành luật và sẽ được Chủ Tịch Thượng Nghị Viện ban hành.
    ĐIỀU 45
    1- Trong thời hạn ban hành, Tổng Thống có quyền gởi thông điệp có viện dẫn lý do yêu cầu Quốc Hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản của dự luật.
    2- Trong trường hợp này, Quốc Hội sẽ họp khoáng đại lưỡng viện để chung quyết dự luật với đa số quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ. Nếu Quốc Hội chung quyết bác bỏ lời yêu cầu phúc nghị của Tổng Thống, dự luật đương nhiên thành luật và được chuyển sang Tổng Thống để ban hành.
    ĐIỀU 46
    1- Dự thảo ngân sách được đệ nạp tại văn phòng Hạ Nghị Viện trước ngày ba mươi tháng chín (30-09).
    2- Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền đề nghị các khoản chi mới nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
    3- Hạ Nghị Viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi tháng mười một (30-11) và chuyển bản văn đã được chấp thuận đến văn phòng Thượng Nghị Viện chậm nhất là ngày một tháng mười hai (1-12).
    4- Thượng Nghị Viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi mốt tháng mười hai (31-12).
    5- Trong thời hạn nói trên, nếu Thượng Nghị Viện yêu cầu Hạ Nghị Viện phúc nghị một hay nhiều điều khoản trong dự thảo ngân sách, thủ tục qui định tại điều 43 phải được áp dụng. Trường hợp này Tổng Thống có quyền ký sắc luật cho thi hành từng phần ngân sách tương đương với một phần mười hai (1/12) ngân sách thuộc tài khoá trước cho đến khi Hạ Nghị Viện chung quyết xong dự thảo ngân sách.
    ĐIỀU 47
    1- Mỗi Viện họp những khóa thường lệ và những khóa bất thường.
    2- Hằng năm mỗi viện họp hai khóa thường lệ. Một khóa họp bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Tư dương lịch, một khóa họp bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không thể lâu quá chín mươi (90) ngày. Tuy nhiên Hạ Nghị Viện có thể triển hạn khóa họp để chung quyết dự thảo ngân sách.
    3- Mỗi viện có thể triệu tập các khóa họp bất thường khi có sự yêu cầu của Tổng Thống hoặc một phần ba (1/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ. Nếu khóa họp bất thường do Tổng Thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp do Tổng Thống ấn định.
    ĐIỀU 48
    1- Quốc Hội họp công khai trừ khi quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ hiện diện yêu cầu họp kín.
    2- Trong các phiên họp công khai, biên bản tường thuật toàn vẹn cuộc thảo luận và các tài liệu trình bày tại Quốc Hội sẽ được đăng trên Công Báo.
    ĐIỀU 49
    1- Mỗi viện bầu Chủ Tịch và các nhân viên văn phòng.
    2- Mỗi viện thành lập các Ủy Ban thường trực và các Ủy Ban đặc biệt.
    3- Mỗi viện trọn quyền ấn định nội quy.
    4- Văn phòng hai (2) viện ấn định thủ tục liên lạc và sinh hoạt giữa hai (2) viện.
    ĐIỀU 50
    1- Chủ Tịch Thượng Nghị Viện triệu tập và chủ tọa các phiên họp khoáng đại lưỡng viện.
    2- Trường hợp Chủ Tịch Thượng Nghị Viện bị ngăn trở, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện sẽ thay thế Chủ Tịch Thượng Nghị Viện trong nhiệm vụ này .

    CHƯƠNG IV: Hành Pháp

    ĐIỀU 51
    Quyền Hành Pháp được Quốc Dân ủy nhiệm cho Tổng Thống.
    ĐIỀU 52
    1- Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một liên danh, được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín.
    2- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là bốn (4) năm. Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử một lần.
    3- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ bốn mươi tám (48) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy.
    4- Cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày chúa nhật bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt.
    ĐIỀU 53
    Được quyền ứng cử Tổng Thống hoặc Phó Tổng Thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây :
    1- Có Việt tịch từ khi mới sanh ra và liên tục cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam ít nhất mười (10) năm tính đến ngày bầu cử.
    Thời gian công cán và lưu vong chánh trị tại ngoại quốc được kể như thời gian cư ngụ tại nước nhà.
    2- Đủ ba mươi lăm (35) tuổi tính đến ngày bầu cử.
    3- Được hưởng các quyền công dân.
    4- Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch.
    5- Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống.
    ĐIỀU 54
    1- Tối cao Pháp viện lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tánh cách hợp thức của cuộc bầu cử và tuyên bố kết quả.
    2- Các ứng cử viên được hưởng đồng đều phương tiện trong cuộc vận động tuyển cử.
    3- Một đạo luật sẽ qui định thể thức ứng cử và bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống.
    ĐIỀU 55
    Khi nhậm chức, Tổng Thống tuyên thệ trước quốc dân với sự chứng kiến của Tối cao Pháp viện và Quốc Hội : “Tôi long trọng tuyên thệ trước quốc dân sẽ bảo vệ Tổ Quốc, tôn trọng Hiến Pháp, phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc và tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa”.
    ĐIỀU 56
    1- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước hạn kỳ trong những trường hợp :
    a- Mệnh chung.
    b- Từ chức.
    c- Bị truất quyền.
    d- Bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc Hội xác nhận với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
    2- Trong trường hợp nhiệm vụ của Tổng Thống chấm dứt trên một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống cho nhiệm kỳ mới.
    3- Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng Thống chấm dứt dưới một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống đến hết nhiệm kỳ, ngoại trừ trường hợp Tổng Thống bị truất quyền.
    4- Nếu vì một lý do gì Phó Tổng Thống không thể đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện sẽ đảm nhiệm chức vụ này trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống.
    ĐIỀU 57
    Tổng Thống ban hành các đạo luật trong thời hạn qui định ở điều 44.
    ĐIỀU 58
    1- Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng; theo đề nghị của Thủ Tướng, Tổng Thống bổ nhiệm các nhân viên Chánh Phủ.
    2- Tổng Thống có quyền cải tổ toàn bộ hay một phần Chánh Phủ, hoặc tự ý, hoặc sau khi có khuyến cáo của Quốc Hội.
    ĐIỀU 59
    1- Tổng Thống bổ nhiệm với sự chấp thuận của Thượng Nghị Viện :
    a- Các trưởng nhiệm sở ngoại giao.
    b- Viện Trưởng các viện Đại Học.
    2- Tổng Thống thay mặt Quốc Gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao.
    3- Tổng Thống ký kết và sau khi được Quốc Hội phê chuẩn, ban hành các hiệp ước và hiệp định quốc tế.
    ĐIỀU 60
    Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh tối cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
    ĐIỀU 61
    1- Tổng Thống ban các loại huy chương.
    2- Tổng Thống có quyền ân xá và ân giảm hình phạt các phạm nhân.
    ĐIỀU 62
    1- Tổng Thống hoạch định chánh sách quốc gia.
    2- Tổng Thống chủ tọa Hội Đồng Tổng Trưởng.
    ĐIỀU 63
    1- Tổng Thống tiếp xúc với Quốc Hội bằng thông điệp. Vào mỗi khóa họp thường lệ và mỗi khi thấy cần, Tổng Thống thông báo cho Quốc Hội biết tình hình quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chánh Phủ.
    2- Thủ Tướng và các nhân viên Chánh Phủ có thể tham dự các phiên họp của Quốc Hội hoặc của các Ủy Ban để trình bày và giải thích về các vấn đề liên quan đến chánh sách quốc gia và sự thi hành chánh sách quốc gia.
    ĐIỀU 64
    1- Trong các trường hợp đặc biệt, Tổng Thống có thể ký sắc luật tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm hay khẩn trương trên một phần hay toàn lãnh thổ.
    2- Quốc Hội phải được triệu tập chậm nhất mười hai (12) ngày kể từ ngày ban hành sắc luật để phê chuẩn, sửa đổi hoặc bải bỏ.
    3- Trong trường hợp Quốc Hội bải bỏ hoặc sửa đổi sắc luật của Tổng Thống, các tình trạng đặc biệt đã được ban hành sẽ chấm dứt hoặc thay đổi hiệu lực.
    ĐIỀU 65
    Trong tình trạng chiến tranh không thể tổ chức bầu cử được, với sự chấp thuận của hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ, Tổng Thống có quyền lưu nhiệm một số các cơ quan dân cử và bổ nhiệm một số tỉnh trưởng.
    ĐIỀU 66
    1- Phó Tổng Thống là Chủ tịch hội đồng văn hóa giáo dục, hội đồng kinh tế xã hội và hội đồng các Sắc Tộc thiểu số.
    2- Phó Tổng Thống không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào khác trong Chánh phủ.
    ĐIỀU 67
    1- Thủ Tướng điều khiển Chánh Phủ và các cơ cấu hành chánh quốc gia.
    2- Thủ Tướng chịu trách nhiệm về sự thi hành chánh sách quốc gia trước Tổng Thống.
    ĐIỀU 68
    1- Tổng Thống, Phó Tổng Thống và các nhân viên Chánh Phủ không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào thuộc lãnh vực tư, dù có thù lao hay không.
    2- Trong mọi trường hợp người hôn phối của các vị này không được tham dự các cuộc đấu thầu hoặc kết ước với các cơ quan công quyền.
    ĐIỀU 69
    1- Hội Đồng An Ninh Quốc Gia có nhiệm vụ :
    – Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng.
    – Đề nghị các biện pháp thích ứng để duy trì an ninh quốc gia.
    – Đề nghị tuyên bố tình trạng bắo động, giới nghiêm, khẩn trương hoặc chiến tranh.
    – Đề nghị tuyên chiến hay nghị hòa.
    2- Tổng Thống là Chủ Tịch Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.
    ĐIỀU 70
    1- Nguyên tắc địa phương phân quyền được công nhận cho các tập thể địa phương có tư cách pháp nhân như : xã, tỉnh, thị xã và thủ đô.
    2- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành nền hành chánh địa phương.
    ĐIỀU 71
    1- Các cơ quan quyết định và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành các tập thể địa phương phân quyền sẽ do cử tri bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín.
    2- Riêng ở cấp xã, xã trưởng có thể do hội đồng xã bầu lên trong số các hội viên hội đồng xã.
    ĐIỀU 72
    Các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền là :
    – Xã trưởng ở cấp xã.
    – Tỉnh trưởng ở cấp tỉnh.
    – Thị trưởng ở cấp thị xã
    – Đô trưởng ở thủ đô.
    ĐIỀU 73
    Các cơ quan quyết nghị của các tập thể địa phương phân quyền là: Hội đồng Xã ở cấp Xã, Hội Đồng Tỉnh ở cấp Tỉnh; Hội đồng Thị xã ở cấp Thị xã; Hội đồng Đô thành ở Thủ đô.
    ĐIỀU 74
    Chánh Phủ bổ nhiệm bên cạnh các Đô Trưởng, Thị Trưởng, Xã Trưởng hai (2) viên chức có nhiệm vụ phụ tá về hành chánh và an ninh cùng các nhân viên hành chánh khác.
    ĐIỀU 75
    Nhân viên các cơ quan quyết nghị và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền có thể bị Tổng Thống giải nhiệm trong trường hợp vi phạm Hiến Pháp, luật pháp quốc gia hay chánh sách quốc gia.

    CHƯƠNG V: Tư Pháp

    ĐIỀU 76
    1- Quyền Tư Pháp độc lập, được ủy nhiệm cho Tối Cao Pháp Viện và được hành xử bởi các Thẩm Phán xử án.
    2- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành ngành Tư Pháp.
    ĐIỀU 77
    Mọi Tòa Án phải do một đạo luật thiết lập với một thành phần Thẩm Phán xử án và Thẩm Phán công tố chuyên nghiệp và theo một thủ tục tôn trọng quyền biện hộ.
    ĐIỀU 78
    1- Thẩm Phán xử án và Thẩm Phán công tố được phân nhiệm rõ rệt và có qui chế riêng biệt.
    2- Thẩm Phán xử án quyết định theo lương tâm và pháp luật dưới sự kiểm soát của Tối Cao Pháp Viện.
    3- Thẩm Phán công tố theo dõi sự áp dụng luật pháp để bảo vệ trật tự công cộng dưới sự kiểm soát của Bộ Tư Pháp.
    ĐIỀU 79
    Thẩm Phán xử án chỉ có thể bị giải nhiệm trong trường hợp bị kết án, vi phạm kỷ luật hay bất lực về tinh thần hoặc thể chất.
    ĐIỀU 80
    1- Tối Cao Pháp Viện gồm từ chín (9) đến mười lăm (15) Thẩm Phán. Tối Cao Pháp Viện do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm theo một danh sách ba mươi (30) người do Thẩm Phán Đoàn, Công Tố Đoàn và Luật Sư Đoàn bầu lên.
    2- Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện phải là những Thẩm Phán hay Luật Sư đã hành nghề ít nhất mười (10) năm trong ngành Tư Pháp.
    3- Nhiệm kỳ của Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm.
    4- Thành phần cử tri thuộc Thẩm Phán Đoàn, Công Tố Đoàn và Luật Sư Đoàn phải đồng đều.
    5- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện.
    ĐIỀU 81
    1- Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền giải thích Hiến Pháp, phán quyết về tánh cách hợp hiến hay bất hợp hiến của các đạo luật, sắc luật; tánh cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chánh.
    2- Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về việc giải tán một chánh đảng có chủ trương và hành động chống lại chánh thể Cộng Hòa.
    3- Trong trường hợp này, Tối Cao Pháp Viện sẽ họp khoáng đại toàn viện, các đại diện Lập Pháp hoặc Hành Pháp có thể tham dự để trình bày quan điểm.
    4- Những quyết định của Tối Cao Pháp Viện tuyên bố một đạo luật bất hợp hiến hoặc giải tán một chánh đảng phải hội đủ đa số ba phần tư (3/4) tổng số Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện.
    ĐIỀU 82
    Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về các vụ thượng tố các bản án chung thẩm.
    ĐIỀU 83
    Tối Cao Pháp Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để quản trị ngành Tư Pháp.
    ĐIỀU 84
    1- Hội Đồng Thẩm Phán có nhiệm vụ :
    – Đề nghị bổ nhiệm, thăng thưởng, thuyên chuyển và chế tài về kỷ luật các Thẩm Phán xử án.
    – Cố vấn Tối Cao Pháp Viện về các vấn đề liên quan đến ngành Tư Pháp.
    3- Hội Đồng Thẩm Phán gồm các Thẩm Phán xử án do các Thẩm Phán xử án bầu lên.
    4- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Thẩm Phán.

    CHƯƠNG VI: Các Định Chế Đặc Biệt
    Đặc Biệt Pháp Viện

    ĐIỀU 85
    Đặc Biệt Pháp Viện có thẩm quyền truất quyền Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, các Tổng Bộ Trưởng, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện và các Giám Sát Viện trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác.
    ĐIỀU 86
    1- Đặc Biệt Pháp Viện do Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện giữ chức Chánh Thẩm và gồm năm (5) Dân Biểu và năm (5) Nghị Sĩ.
    2- Khi Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện là bị can, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện giữ chức Chánh Thẩm.
    ĐIỀU 87
    1- Đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ ký tên. Quyết định khởi tố phải được đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ biểu quyết chấp thuận.
    Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ ký tên Quyết định khởi tố phải được đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ biểu quyết chấp thuận.
    2- Đương sự phải đình chỉ nhiệm vụ từ khi Quốc Hội biểu quyết truy tố đến khi Đặc Biệt Pháp Viện phán quyết.
    3- Đặc Biệt Pháp Viện phán quyết truất quyền theo đa số ba phần tư (3/4) tổng số nhân viên. Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống phán quyết truất quyền theo đa số bốn phần năm (4/5) tổng số nhân viên.
    4- Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truy tố.
    5- Sau khi bị truất quyền, đương sự có thể bị truy tố trước các tòa án có thẩm quyền.
    6- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức, điều hành và thủ tục trước Đặc Biệt Pháp Viện.

    Giám Sát Viện

    ĐIỀU 88
    Giám Sát Viện có thẩm quyền :
    1- Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân đồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi quốc gia.
    2- Thẩm tra kế toán đối với các cơ quan công quyền và hợp doanh.
    3- Kiểm kê tài sản các nhân viên các cơ quan công quyền kể cả Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, Dân Biểu, Nghị Sỉ, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện.
    4- Riêng đối với Chủ Tịch Giám Sát Viện và các Giám Sát Viên, việc kiểm kê tài sản do Tối Cao Pháp Viện đảm trách.
    ĐIỀU 89
    1- Giám Sát Viện có quyền đề nghị các biện pháp chế tài về kỷ luật đối với nhân viên phạm lỗi hoặc yêu cầu truy tố đương sự ra trước tòa án có thẩm quyền.
    2- Giám Sát Viện có quyền công bố kết quả cuộc điều tra.
    ĐIỀU 90
    1- Giám Sát Viện gồm từ chín (9) đến mười tám (18) Giám Sát viên, một phần ba (1/3) do Quốc Hội, một phần ba (1/3) do Tổng Thống và một phần ba (1/3) do Tối Cao Pháp Viện chỉ định.
    2- Giám Sát viên được hưởng những quyền hạn và bảo đảm cần thiết để thi hành nhiệm vụ.
    ĐIỀU 91
    Giám Sát Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để tổ chức nội bộ và quản trị ngành giám sát.
    Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Giám Sát Viện.

    Hội Đồng Quân Lực

    ĐIỀU 92
    1- Hội Đồng Quân Lực cố vấn Tổng Thống về các vấn đề liên quan đến Quân Lực, đặc biệt là việc thăng thưởng, thuyên chuyển và trừng phạt quân nhân các cấp.
    2- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Quân Lực.

    Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục

    ĐIỀU 93
    1- Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục có nhiệm vụ cố vấn Chánh Phủ soạn thảo và thực thi chánh sách văn hóa giáo dục.
    Một Lâm Viện Quốc Gia sẽ được thành lập
    2- Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ.
    3- Các dự luật liên quan đến văn hóa giáo dục có thể được Hội Đồng tham gia ý kiến trước khi Quốc Hội thảo luận.
    ĐIỀU 94
    1- Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục gồm :
    – Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định.
    – Hai phần ba (2/3) hội viên do các tổ chức văn hóa giáo dục công và tư, các hiệp hội phụ huynh học sinh đề cử.
    2- Nhiệm kỳ củ Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục là bốn (4) năm.
    3- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục.

    Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội

    ĐIỀU 95
    1- Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội có nhiệm vụ cố vấn chánh phủ về những vấn đề kinh tế và xã hội.
    2- Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ.
    3- Các dự luật kinh tế và xã hội có thể được Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội tham gia ý kiến trước khi Quốc Hội thảo luận.
    ĐIỀU 96
    1- Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội gồm :
    – Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định.
    – Hai phần ba (2/3) hội viên do các tổ chức công kỹ nghệ, thương mại, nghiệp đoàn, các hiệp hội có tánh cách kinh tế và xã hội đề cử.
    2- Nhiệm kỳ Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội là bốn (4) năm.
    3- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội.

    Hội Đồng các Sắc Tộc

    ĐIỀU 97
    1- Hội Đồng các Sắc Tộc có nhiệm vụ cố vấn chánh phủ về các vấn đề liên quan đến đồng bào thiểu số.
    2- Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Đồng các Sắc Tộc có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ.
    3- Các dự luật liên quan đến đồng bào thiểu số có thể được Hội Đồng các Sắc Tộc tham gia ý kiến trước khi đưa ra Quốc Hội thảo luận.
    ĐIỀU 98
    1- Hội Đồng các Sắc Tộc gồm có :
    – Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định.
    – Hai phần ba (2/3) hội viên do các Sắc Tộc Thiểu Số đề cử.
    2- Nhiệm kỳ Hội Đồng các Sắc Tộc là bốn (4) năm.
    3- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng các Sắc Tộc.

    CHƯƠNG VII: Chính Đảng và Đối Lập

    http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2d/Southvietmap.jpg/200px-Southvietmap.jpg

    http://bits.wikimedia.org/static-1.21wmf8/skins/common/images/magnify-clip.png
    Bản đồ hành chính cho biết địa giới các tỉnh của Việt Nam Cộng Hòa, tháng 6 năm 1967
    ĐIỀU 99
    1- Quốc Gia công nhận chánh đảng giữ vai trò thiết yếu trong chế độ dân chủ.
    2- Chánh đảng được tự do thành lập và hoạt động theo các thể thức và điều kiện luật định.
    ĐIỀU 100
    Quốc Gia khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng.
    ĐIỀU 101
    Quốc Gia công nhận sự định chế hóa đối lập chính trị.
    ĐIỀU 102
    Một đạo luật sẽ ấn định quy chế chánh đảng và đối lập chính trị.

    CHƯƠNG VIII: Tu Chính Hiến Pháp

    ĐIỀU 103
    1- Tổng Thống, quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu hay quá bán (1/2) tổng số Nghị Sĩ có quyền đề nghị tu chính Hiến Pháp.
    2- Đề nghị phải viện dẫn lý do và được đệ nạp tại văn phòng Thượng Nghị Viện.
    ĐIỀU 104
    Một Ủy Ban lưỡng Viện sẽ được thành lập để nghiên cứu về đề nghị tu chính Hiến Pháp và thuyết trình trong những phiên họp khoáng đại lưỡng Viện.
    ĐIỀU 105
    Quyết định tu chính Hiến Pháp phải hội đủ hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ.
    ĐIỀU 106
    Tổng Thống ban hành đạo luật tu chính Hiến Pháp theo thủ tục quy định ở Điều 44.
    ĐIỀU 107
    Không thể huỷ bỏ hoặc tu chính điều một (1) và điều này của Hiến Pháp.

    CHƯƠNG IX: Điều khoản Chuyển Tiếp

    ĐIỀU 108
    Hiến Pháp bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày ban hành và Ước Pháp tạm thời ngày mười chín tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm (19.06.1965) đương nhiên hết hiệu lực.
    ĐIỀU 109
    Trong thời gian chuyển tiếp, Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) đại diện Quốc Dân trong phạm vi lập pháp
    1- Soạn thảo và chung quyết :
    – Các đạo luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống, Thượng Nghị Viện và Hạ Nghị Viện.
    – Cá đạo luật tổ chức Tối Cao Pháp Viện và Giám Sát Viện.
    – Các quy chế chánh đảng và báo chí.
    2- Phê chuẩn các Hiệp Ước.
    ĐIỀU 110
    Kể từ khi Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức, Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) đảm nhiệm quyền Lập Pháp cho đến khi Quốc Hội pháp nhiệm một (1) được triệu tập.
    ĐIỀU 111
    Trong thời gian chuyển tiếp, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương lưu nhiệm cho đến khi Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức.
    ĐIỀU 112
    Trong thời gian chuyển tiếp, các Tòa Án hiện hành vẫn tiếp tục hành xử quyền Tư Pháp cho đến khi các định chế Tư Pháp qui định trong Hiến Pháp này được thành lập.
    ĐIỀU 113
    Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) sẽ lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tánh cách hợp thức và tuyên bố kết quả cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1).
    ĐIỀU 114
    Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng Thống có thể bổ nhiệm các Tỉnh Trưởng.
    ĐIỀU 115
    Cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống phải được tổ chức chậm nhất sáu (6) tháng kể từ ngày ban hành Hiến Pháp này.
    ĐIỀU 116
    Cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Pháp, việc tổ chức Tối Cao Pháp Viện và Giám Sát Viện phải được thực hiện chậm nhất là mười hai (12) tháng kể từ ngày Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức.
    ĐIỀU 117
    Các cơ cấu khác do Hiến Pháp qui định phải được thiết lập chậm nhất là hai (2) năm kể từ ngày Quốc Hội pháp nhiệm một (1) được thành lập.

    Bản Văn Hiến Pháp này đã được Quốc Hội chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng ba năm 1967.

    Sài gòn, ngày 18 tháng 3 năm 1967
    Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến
    PHAN KHẮC SỬU
    Chủ Tịch Ủy Ban Thảo Hiến
    ĐINH THÀNH CHÂU

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s