CHÚ Ý – Video

Chú ý

 

9 Responses to CHÚ Ý – Video

  1. haiz00 says:

    HUỲNH QUỐC HUY LÀ AI ?




    __________________
    Vô đây xem tiếp

    • haiz00 says:


      PARIS ! Mời xem một cảnh ở ngoại ô Paris 2017 .
      Dân Hồi Giáo tại Paris có thánh đường để cầu nguyện, nhưng họ còn ra ngoài đường phố cầu nguyện.

  2. haiz00 says:

    Sóng ngầm địa chính trị khu vực và lựa chọn của Việt Nam

    Lê Hồng Hiệp
    Theo Nghiên cứu Quốc Tế

    Trong năm 2014, sự kiện nổi bật nhất của ngành đối ngoại Việt Nam có lẽ chính là cuộc đấu tranh xung quanh sự kiện giàn khoan Hải Dương 981. Việc Trung Quốc cuối cùng phải rút giàn khoan ở một chừng mực nào đó có thể coi là một thành công đối với Việt Nam, nhưng đó cũng là một thách thức còn để ngỏ khi hàng loạt câu hỏi vẫn chưa có lời đáp: Liệu Trung Quốc có tái diễn vụ giàn khoan, nếu có thì ở đâu, và nếu không thì Trung Quốc sẽ có hành động gì trên Biển Đông? Quan trọng hơn, Việt Nam cần phải xử lý mối quan hệ với Trung Quốc ra sao trong bối cảnh rộng lớn hơn là các sóng ngầm địa chính trị khu vực đang diễn biến ngày càng phức tạp?
    Bài phân tích này sẽ cố gắng trả lời các câu hỏi trên. Tuy nhiên, trước khi đi vào vấn đề chính là quan hệ Việt – Trung, chúng ta cần điểm lại một số nét chính trong tình hình các quốc gia chủ chốt cũng như bối cảnh địa-chính trị khu vực, những yếu tố vốn có tác động quan trọng tới cục diện quan hệ song phương.
    Bối cảnh các quốc gia chủ chốt
    Trung Quốc
    Sau hơn 3 thập niên phát triển liên tục với tốc độ 2 con số, hiện nay tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đang chững lại ở mức khoảng 7%/năm với nhiều khó khăn chồng chất như mô hình tăng trưởng cũ hết động lực, cơ cấu và xu hướng dân số bất lợi, các rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống tài chính – ngân hàng và thị trường nhà đất… Điều này đặt ra những thách thức lớn cho tính chính danh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).
    Một mặt, thực tế này yêu cầu Trung Quốc phải tiến hành cải cách cơ cấu nền kinh tế theo hướng từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư và xuất khẩu sang dựa trên tiêu dùng trong nước và sức sáng tạo của các doanh nghiệp, thể hiện qua các biện pháp đề ra tại Hội nghị TW 3 năm 2013. Mặt khác, Trung Quốc cũng tiến hành cuộc chiến chống tham nhũng mạnh mẽ, vừa giúp củng cố quyền lực của tân Chủ tịch Tập Cận Bình, vừa giúp loại bỏ các rào cản, các nhóm lợi ích gây cản trở cải cách kinh tế, đồng thời giúp nâng cao uy tín của Đảng trong bối cảnh trụ cột chính trong tính chính danh của Đảng là thành tích phát triển kinh tế đang gặp khó khăn.
    Về đối ngoại, Trung Quốc đã thoát ra ngoài tư thế “giấu mình chờ thời”, bắt đầu công khai và mạnh mẽ cạnh tranh vị thế và ảnh hưởng với Hoa Kỳ trong khu vực và trên thế giới, thể hiện qua các sáng kiến như “con đường tơ lụa thế kỷ 21”, “con đường tơ lụa trên biển”, ý tưởng “châu Á là của người châu Á”, hay việc thành lập Ngân hàng Phát triển Mới với nhóm BRIC…
    Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc đề xướng mô hình “quan hệ cường quốc kiểu mới” nhằm thuyết phục Mỹ không “ngăn chặn” Trung Quốc vươn lên, vừa nhằm đạt được vị thế ngang hàng với Mỹ, qua đó phân chia khu vực ảnh hưởng với Washington. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tỏ ra hung hăng và cứng rắn hơn trong các tranh chấp biển và lãnh thổ với láng giềng, mà ví dụ tiêu biểu là vụ giàn khoan 981. Điều này vừa phù hợp với xu thế chung trong chính sách đối ngoại của chính quyền Tập Cận Bình, vừa có tác dụng giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc để củng cố sự ủng hộ của người dân trong bối cảnh tính chính danh trong nước của ĐCSTQ ngày càng bị thách thức.
    Trong năm tới Trung Quốc có thể thực hiện “ngoại giao hòa hoãn” do e dè trước phản ứng của cộng đồng quốc tế sau vụ giàn khoan 981 và lo sợ các nước trong khu vực sẽ nghiêng về phía Mỹ, đi ngược lại mục tiêu lớn của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong dài hạn, với việc Trung Quốc từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời” để theo đuổi tham vọng siêu cường, kết hợp với khó khăn trong nước nhiều khả năng sẽ ngày càng nghiêm trọng, xu thế hung hăng, lấn lướt của Bắc Kinh trong chính sách đối ngoại, đặc biệt là trên vấn đề Biển Đông, nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn.
    Nhật Bản
    Sau khi quay lại làm thủ tướng năm 2012, ông Shinzo Abe đã tiến hành nhiều cải cách kinh tế và chính trị quan trọng. Về kinh tế ông Abe đã tiến hành chính sách Abenomics, với ba “mũi tên” gồm kích thích tài khóa, nới lỏng tiền tệ và cải cách cơ cấu. Tuy nhiên sau khi phát huy hiệu quả vào năm 2013 với việc kinh tế Nhật tăng trưởng 1,5%, thì sang năm 2014 chính sách này đã bị “hụt hơi” khi nền kinh tế bị co lại 2%, trong đó một nguyên nhân chủ yếu được đánh giá là việc chính quyền Abe tăng thuế tiêu dùng quá sớm (vào tháng 4/2014) từ mức 5% lên 8%,[1] khiến lòng tin của người tiêu dùng sụt giảm, tác động tiêu cực tới phục hồi kinh tế.
    Trong bối cảnh đó, ông Abe đã tuyên bố giải tán quốc hội vào tháng trước và tổ chức bầu cử sớm vào ngày 14/12 vừa qua. Kết quả Đảng Dân chủ Tự do (LDP) đã tiếp tục giành thắng lợi áp đảo,[2] qua đó giúp củng cố và kéo dài tuổi đời chính trị của ông Abe, giúp ông có nhiều thời gian hơn để tiếp tục thực hiện chính sách Abenomics cũng như các thay đổi về chính sách đối ngoại.
    Về chính sách đối ngoại, điểm tiêu biểu trong thời gian qua là chính quyền Abe đã diễn dịch lại hiến pháp để cho phép quân đội Nhật có vai trò lớn hơn. Cụ thể hiến pháp Nhật sau khi được diễn dịch lại đã cho phép Nhật tham gia phòng thủ tập thể ở những nơi lợi ích của Nhật bị đe dọa, đồng thời mở đường cho quân đội Nhật đóng vai trò quốc tế lớn hơn (nhất là trong sứ mệnh hỗ trợ nhân đạo).
    Ngoài ra, mặc dù Nhật tiếp tục đề cao hợp tác quân sự với Mỹ thông qua liên minh Mỹ – Nhật, nhưng chính quyền Abe muốn tự chủ lớn hơn và bớt phụ thuộc hơn vào Mỹ về quốc phòng. Dưới thời Abe, Nhật cũng thể hiện xu hướng cứng rắn hơn với Trung Quốc, như quốc hữu hóa quần đảo Senkaku, phản đối và tảng lờ Khu vực nhận diện phòng không (ADIZ) của Trung Quốc thiết lập trên biển Hoa Đông… Nhật cũng tích cực hỗ trợ Philippines và Việt Nam về ngoại giao và an ninh, trong đó tiêu biểu là viện trợ các tàu tuần tra cho Hà Nội và Manila. Dù quy mô viện trợ còn hạn chế do bản thân Nhật cũng đang cần các nguồn lực để đối phó với Trung Quốc trên biển Hoa Đông, nhưng nó cho thấy xu thế ngày càng cứng rắn của Nhật đối với Trung Quốc.
    Nay với việc Abe tiếp tục khởi đầu một nhiệm kỳ mới, các chính sách đối ngoại và an ninh mạnh mẽ của ông sẽ hầu như chắc chắn được duy trì và thúc đẩy, đưa Nhật tái trỗi dậy thành một cường quốc “bình thường” với sức ảnh hưởng đồng thời cả về kinh tế lẫn quân sự trong khu vực và trên thế giới.
    Nga
    Sau khi phạm sai lầm vì đã vội vàng sáp nhập Crimea, nước Nga của Putin đã phải vật lộn trong khó khăn để đương đầu với các lệnh trừng phạt của phương Tây, bên cạnh các khó khăn kinh tế chồng chất do giá dầu thế giới giảm và tình trạng rớt giá của đồng Rúp.
    Ngoài ra, do bị phương Tây cô lập nên Nga đã tìm cách thắt chặt quan hệ với Trung Quốc, dẫn tới một số lo ngại rằng Trục Bắc Kinh – Moscow sẽ được hình thành nhằm giúp 2 nước đối phó với các áp lực từ Mỹ và phương Tây. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích, bao gồm cả các quan chức Mỹ, đều cho rằng giữa hai nước vẫn còn những khác biệt lớn về sự quan tâm, mục tiêu, lợi ích… nên sự gần gũi gia tăng giữa hai nước thời gian qua chủ yếu mang tính chiến thuật chứ không phải là một liên minh chiến lược lâu dài.
    Trong bối cảnh đó, mối bận tâm chính của chính quyền Putin trong thời gian qua cũng như sắp tới chủ yếu là vấn đề Ukraine và quan hệ với phương Tây chứ không phải khu vực Thái Bình Dương. Cụ thể, trước áp lực của phương Tây, khó khăn kinh tế chồng chất và nhất là địa vị “thân cô thế cô”, Nga nhiều khả năng sẽ phải nhún nhường, tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Đông Ukraine và Crimea để dần dần bình thường hóa quan hệ với phương Tây. Tuy nhiên điều này sẽ không đến sớm nếu Tổng thống Putin tiếp tục cầm quyền. Vì vậy, xu hướng chính sách đối ngoại Nga trong thời gian tới sẽ phụ thuộc vào diễn biến chính trị trong nước của Nga, đặc biệt là vị thế của Tổng thống Putin.
    Hoa Kỳ
    Trái với các quan điểm bi quan cho rằng Mỹ đang trượt dài vào thời kỳ suy thoái, sức mạnh kinh tế và quyền lực quốc gia nói chung của Hoa Kỳ vẫn được duy trì và thúc đẩy. Cụ thể, mặc dù một vài ước tính cho rằng GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) của Trung Quốc đã vượt Mỹ trong năm nay, ưu thế về sức năng động – sáng tạo, trình độ công nghệ, sự áp đảo của các công ty đa quốc gia, sự vượt trội về GDP tính theo đầu người… về cơ bản vẫn giúp cho Hoa Kỳ duy trì được khoảng cách xa về kinh tế so với Trung Quốc.
    Trong khi triển vọng kinh tế Trung Quốc bắt đầu có dấu hiệu ảm đạm, thì kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng 2,3% năm 2012, 2,2% năm 2013, và dự kiến đạt 2,5% năm 2014, trong khi tỉ lệ thất nghiệp tới tháng 10/2014 đã giảm xuống chỉ còn 5,8%, mức thấp nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và thấp hơn đáng kể so với hầu hết các nước công nghiệp phát triển.
    Một đặc điểm nổi bật của kinh tế Mỹ được nhiều người đánh giá cao trong thời gian gần đây là việc ngành sản xuất dầu lửa của nước này đã phát triển mạnh nhờ vào công nghệ khai thác dầu đá phiến (shale). Cụ thể, chỉ trong vòng năm năm, công nghệ này đã đưa sản lượng dầu của Mỹ tăng gần gấp đôi từ mức 5 triệu thùng/ngày năm 2008 lên 9 triệu thùng vào năm nay.
    Nếu xu hướng này tiếp tục thì đến khoảng năm 2020 Mỹ có thể vượt Arab Saudi trở thành nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Việc ngành sản xuất dầu phát triển mạnh không chỉ mang lại sự thịnh vượng và tạo công ăn việc làm cho người Mỹ mà còn mang lại cho Mỹ một vũ khí địa chính trị lợi hại, đặc biệt là giúp Mỹ có thể giảm bớt sự chú ý vào khu vực rốn dầu Trung Đông để tập trung vào các khu vực khác.
    Về đối ngoại và quân sự, Hoa Kỳ đang giảm dần sự can dự vào khu vực Trung Đông, một phần do sự “mệt mỏi chiến lược” vì những can dự kéo dài nhưng kém hiệu quả ở khu vực này kể từ sau sự kiện 11/9/2001, một phần do tầm quan trọng chiến lược của khu vực có xu hướng giảm sút trong mắt Washington.
    Trong khi vẫn phối hợp với EU và các đồng minh trong các vấn đề như Ukraine hay không kích Nhà nước Hồi giáo, Mỹ sẽ tập trung nhiều sự chú ý hơn vào khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nhất là sự trỗi dậy của Trung Quốc, bởi chính Trung Quốc sẽ là vấn đề “sống còn”, là đối thủ duy nhất đủ tầm để có thể lật đổ vị thế siêu cường của Mỹ cũng như trật tự thế giới mà Mỹ dẫn dắt. Trong bối cảnh đó, Mỹ sẽ tiếp tục duy trì chính sách “tái cân bằng” sang khu vực, đồng thời thúc đẩy việc gắn kết, tăng cường sức mạnh của các nước đồng minh và đối tác, biến họ trở thành các quốc gia giàu mạnh và thực sự độc lập để có thể giúp hạn chế bớt ảnh hưởng của Trung Quốc, đồng thời giúp Mỹ có được vị thế tốt hơn nhằm đối phó với sự trỗi dậy ngày càng không êm ả của Bắc Kinh.
    Xu hướng địa chính trị khu vực
    Một xu hướng địa chính trị khu vực đang ngày càng trở nên nổi trội, đó chính là việc Mỹ cùng các đồng minh ngày càng bất an trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và việc nước này công khai thách thức trật tự khu vực, nhất là vị thế siêu cường dẫn đầu của Mỹ. Xu hướng này khiến cho khu vực nhiều khả năng sẽ bước vào một cuộc Chiến tranh Lạnh mới trong vòng khoảng 20 năm tới.
    Về mặt lý thuyết, nếu Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy và thách thức Mỹ, mâu thuẫn và xung đột giữa hai cường quốc là không thể tránh khỏi. Trái với thuyết “cân bằng quyền lực” (balance of power theory) cho rằng hệ thống quốc tế sẽ ổn định và hòa bình khi đạt được sự cân bằng giữa các trung tâm quyền lực chính, thuyết “chuyển giao quyền lực” (power transition theory) cho rằng một khi một cường quốc đang lên tiệm cận sức mạnh của cường quốc thống trị và khao khát giành vị thế bá chủ của cường quốc đó thì xung đột giữa hai bên là không thể tránh khỏi. Chỉ sau khi cường quốc đang lên bị kiềm chế hoặc đánh bại (giữ vững nguyên trạng) hoặc cường quốc bá chủ bị lật đổ (thiết lập nguyên trạng mới) thì hệ thống quốc tế mới lại đạt được thế cân bằng và ổn định. Quy luật này đã được chứng minh nhiều lần trong lịch sử, và sẽ tiếp tục là logic trường tồn của chính trị hiện thực trong quan hệ quốc tế.
    Về mặt thực tế, hiện nay cục diện địa chính trị khu vực đang dần đi theo hướng dự báo của thuyết “chuyển giao quyền lực”. Cụ thể, trong khi Trung Quốc (cường quốc đang lên) tìm cách mở rộng ảnh hưởng, tranh giành quyền lực với Mỹ (cường quốc thống trị), thì Mỹ đang âm thầm cố gắng tìm cách kiềm chế Trung Quốc, thông qua các chiến lược tiêu biểu như “tái cân bằng” quân sự sang tây Thái Bình Dương, đàm phán Hiệp định TPP với các nước trong khu vực mà không có sự tham gia của Trung Quốc; cải thiện và thắt chặt quan hệ với các nước đồng minh và đối tác, nhất là các nước láng giềng Trung Quốc; sử dụng các công cụ như luật pháp quốc tế và các thể chế quốc tế để kiềm chế và điều chỉnh hành vi của Bắc Kinh….
    Hiện nay, giới chức Mỹ vẫn đang cố gắng thận trọng, tránh “tư duy Chiến tranh lạnh”, trong khi cố gắng can dự với Trung Quốc để xây dựng lòng tin, giảm căng thẳng. Tuy nhiên đây không phải là xu hướng lâu dài mà chỉ là ngắn hạn. Trước mắt Mỹ chưa sẵn lòng mạnh tay kiềm chế Trung Quốc như từng kiềm chế Liên Xô trước đây bởi quan hệ tốt với Trung Quốc đang mang lại cho Mỹ nhiều lợi ích, đồng thời Mỹ cần thêm thời gian để đánh giá xu hướng hành vi của Trung Quốc khi hiện nay Bắc Kinh dù có biểu hiện hung hăng và thách thức lợi ích của Mỹ nhưng sự thách thức đó chưa đủ lớn để đe dọa các lợi ích sống còn, nhất là vị thế bá chủ của Mỹ.
    Vì vậy trong tương lai, mức độ kiềm chế của Mỹ và đồng minh đối với Trung Quốc sẽ biến chuyển tùy theo mức độ hung hăng và thách thức mà Trung Quốc theo đuổi trong chính sách đối ngoại của mình. Ngoài ra, về phía Mỹ, nếu trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 một ứng cử viên Cộng hòa đắc cử thì nhiều khả năng Mỹ sẽ có một chính sách đối ngoại cứng rắn hơn, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc.
    Mặc dù có một khả năng là Trung Quốc do các vấn đề trong nước sẽ bị chững lại, thậm chí rối loại và suy yếu, không thể đủ sức “trỗi dậy” mãi mãi đủ để đe dọa vị thế của Mỹ, nhưng khả năng cao hơn là Trung Quốc sẽ tiếp tục vươn lên, dù chậm dù nhanh, để làm cho Mỹ và đồng minh cảm thấy bất an, lo sợ. Khi đó, một cuộc Chiến tranh lạnh Mới ở khu vực, như đã nói trên, là khó có thể tránh khỏi. Cuộc Chiến tranh lạnh Mới giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ khác với cuộc Chiến tranh lạnh thế kỷ 20 giữa Mỹ và Liên Xô ở 4 điểm chính:
    Chiến lược chứ không phải ý thức hệ: Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chủ yếu tập trung vào yếu tố lợi ích chiến lược chứ không phải ý thức hệ. Việc tập hợp lực lượng của hai bên sẽ dựa vào điểm đồng về lợi ích chiến lược chứ không phải ý thức hệ. Đây là đặc điểm chi phối 3 đặc điểm còn lại.
    Ở cấp độ khu vực chứ không phải toàn cầu: Cuộc Chiến tranh lạnh này sẽ tập trung chủ yếu tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mà ít có khả năng lan rộng ra toàn cầu bởi Trung Quốc không có một hệ thống đồng minh rộng lớn và lợi ích của Mỹ và Trung Quốc không mâu thuẫn lớn ở các khu vực khác.
    Không phải giữa 2 khối nước cứng nhắc: Khác với Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô khi hai bên dẫn đầu hai khối nước trải khắp 5 châu thì trong Chiến tranh lạnh mới sự đối đầu tập trung chủ yếu vào quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Nga, như đã nói ở trên, ít có khả năng tham gia cùng Trung Quốc thành một khối chiến lược để đối đầu với Mỹ và đồng minh.
    Vai trò của tương thuộc kinh tế: Khác với Chiến tranh lạnh thế kỷ 20, trong cuộc Chiến tranh lạnh mới, sự tương thuộc kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ giúp kiềm chế bớt hành vi của hai bên, giúp hai bên dễ đối thoại với nhau để giải quyết bất đồng. Tuy nhiên do lợi ích địa chính trị được coi trọng hơn lợi ích kinh tế nên sự tương thuộc kinh tế sẽ không đủ ngăn cản Chiến tranh lạnh mới diễn ra. Viễn cảnh khả dĩ nhất là “kinh tế nóng, chính trị lạnh” giữa các cường quốc.
    Vậy xu hướng địa chính trị khu vực này sẽ tác động như thế nào tới Việt Nam, và Việt Nam cần phải ứng phó ra sao?
    Lựa chọn chiến lược của Việt Nam
    “Lời nguyền địa lý” khiến Việt Nam luôn phải đối diện với những thách thức trong xử lý quan hệ với Trung Quốc. Trước một Trung Quốc lớn mạnh hơn nhiều lần, chiến lược Trung Quốc truyền thống của Việt Nam là ngoại giao hòa hiếu, trong đế ngoài vương, nhún nhường với Trung Quốc trong khả năng cho phép để giữ hòa bình và độc lập.
    Nếu không có tranh chấp Biển Đông thì Việt Nam hiện nay sẽ có điều kiện thuận lợi hơn nhiều để duy trì một chính sách hòa hiếu cùng mối quan hệ ổn định, tương kính với Trung Quốc. Thế nhưng, với việc Trung Quốc ngày càng thực hiện các chính sách hung hăng và cưỡng ép, mà sự kiện Giàn khoan 981 là ví dụ điển hình, việc duy trì một chính sách ngoại giao hòa hiếu truyền thống như vậy với Trung Quốc đang ngày càng khó khăn, thậm chí phản tác dụng.
    Chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc hiện đối mặt với hai lựa chọn căn bản: ưu tiên quan hệ hữu hảo với Trung Quốc hay ưu tiên chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ?
    Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước, lựa chọn này luôn được đặt ra cho các nhà cầm quyền Việt Nam, và câu trả lời luôn rõ ràng: Chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích quốc gia tối thượng. Đã có những lúc Việt Nam tỏ ra hòa hiếu, nhún nhường với Trung Quốc, nhưng đó là khi Trung Quốc không trực tiếp đe dọa chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, hoặc sau khi Việt Nam đã đánh bại các cuộc xâm lược của các đội quân phương Bắc (ví dụ, Lê Lợi cấp thuyền và ngựa cho lính nhà Minh rút quân về nước, Nguyễn Huệ cho chôn cất tử tế lính nhà Thanh tử trận, gửi sứ thần sang nhận sắc phong và “tạ tội” với hoàng đế nhà Thanh…). Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại nhún nhường, mềm yếu trước Trung Quốc khi Trung Quốc tìm cách xâm lược hoặc cưỡng ép, đe dọa… Việt Nam.
    Hiện nay, đương nhiên chúng ta vẫn luôn coi chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích tối thượng. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần xác định Trung Quốc đang đe dọa Việt Nam đến mức nào để quyết định nên hòa hiếu, nhún nhường, hay cứng rắn với Trung Quốc. Nếu mối đe dọa Trung Quốc chưa lớn mà chúng ta quá cứng rắn thì sẽ gây căng thẳng không cần thiết, ngược lại nếu mối đe dọa lớn mà chúng ta nhún nhường, mềm yếu sẽ càng khuyến khích Trung Quốc lấn tới, làm phương hại lợi ích quốc gia.
    Trong thời gian qua, xu hướng mối đe dọa từ Trung Quốc đang gia tăng là rõ ràng. Đặc biệt trong vấn đề Biển Đông, một loạt các hành động của Trung Quốc từ năm 2007 đến nay càng cho thấy rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Các hành động như cắt cáp tàu Bình Minh 02, đưa giàn khoan 981 cùng lực lượng hộ tống hùng hổ vào vùng biển Việt Nam, xây dựng và mở rộng đảo nhân tạo… cho thấy cường độ hung hăng của Trung Quốc ngày càng tăng, và chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên Biển Đông đang bị đe dọa hơn bao giờ hết.
    Trong tương lai gần, việc Trung Quốc đưa các giàn khoan xuống Trường Sa và bãi Tư Chính, thiết lập ADIZ trên Biển Đông, tăng cường quân sự hóa các điểm chiếm đóng, thậm chí tìm cách khống chế các tuyến đường biển của Việt Nam hay xâm lược các đảo của Việt Nam đang nắm giữ… là những khả năng không thể bị loại bỏ, nếu không muốn nói đó chỉ là vấn đề thời gian.
    Trong bối cảnh đó, ngoài việc nâng cao nội lực về kinh tế, quốc phòng, xây dựng sự đoàn kết và đồng thuận trong cũng như ngoài nước, Việt Nam cần tranh thủ tận dụng các diễn biến địa chính trị khu vực để nâng cao vị thế chiến lược của mình, góp phần kiềm chế tham vọng của Trung Quốc. Đặc biệt việc mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc đang dần gia tăng đang tạo cơ hội cho Việt Nam tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước đồng minh và đối tác của Mỹ, nhất là những nước có chung nhận thức về mối đe dọa và lợi ích trên Biển Đông.
    Vì vậy, như tác giả bài viết từng đề xuất, trong khi vẫn duy trì nguyên tắc “ba không” trên danh nghĩa, Việt Nam cần từng bước thắt chặt quan hệ chiến lược – an ninh với các quốc gia chủ chốt trong khu vực dưới dạng các “liên minh” mềm, không chính thức, đặc biệt là với Hoa Kỳ và Nhật Bản, để có thể nâng cao vị thế chiến lược của mình trong quan hệ với Trung Quốc, nhất là trên hồ sơ Biển Đông.
    Như đã lập luận trước đây, tranh chấp Biển Đông hiện tại gồm ba tầng nấc, với tầng nấc ngoài cùng đang trở nên ngày càng quan trọng là sự cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này biến Biển Đông trở thành một trong những “chiến trường” cho sự đối đầu giữa hai cường quốc. Một câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh đó, Việt Nam có nên can dự vào cuộc đối đầu này để rồi trở thành “nạn nhân” của một cuộc đấu đá giữa các cường quốc hay không?
    Một điều chúng ta phải chấp nhận đối mặt là với vị trí địa lý của mình, đặc biệt là do sự tham gia của chúng ta vào tranh chấp Biển Đông với các lợi ích đan xen, chồng chéo, chúng ta không thể và không nên đứng ngoài các diễn biến địa chính trị khu vực. Nói cách khác, làm sao để Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi cuộc đối đầu đang tăng cường giữa Mỹ và Trung Quốc là một nhiệm vụ bất khả thi. Điều chúng ta có thể làm chỉ là làm sao hạn chế được tối đa các tác động tiêu cực của cuộc đối đầu này lên chúng ta mà thôi.
    Để làm được điều này, không có cách nào khả dĩ hơn việc chúng ta chủ động can dự vào các diễn biến địa chính trị khu vực, góp phần định hình các diễn biến đó (nếu có thể), hoặc ít nhất nắm bắt được các thông tin, diễn biến, can dự vào ý đồ của các cường quốc để không phải trở thành kẻ ngoài lề, bị động đối phó, và rốt cuộc sẽ trở thành “nạn nhân” bị đem ra mặc cả trong ván cờ giữa các nước lớn như đã từng xảy ra trong lịch sử.
    Hiện tại, trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam có hai vũ khí quan trọng có thể khiến Trung Quốc e sợ, đó là các lựa chọn pháp lý và việc theo đuổi chính trị liên minh. Tuy nhiên, trong khi phát súng pháp lý chưa thật sự sẵn sàng và một khi bắn ra sẽ không thể thu hồi lại, thì theo đuổi chính trị liên minh là một biện pháp linh hoạt và hiệu quả hơn mà Việt Nam có thể thực hiện để răn đe Trung Quốc.
    Thứ nhất, biện pháp này đánh vào tâm lý sợ bị bao vây, “ngăn chặn” của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không bao giờ muốn Việt Nam ngã vào tay một cường quốc đối địch, vì vậy nếu Việt Nam dịch chuyển theo hướng chính trị liên minh thì Trung Quốc sẽ phải cân nhắc trong hành động để không đẩy Việt Nam ra quá xa.
    Thứ hai, chính trị liên minh không phải là một con đường một chiều. Cách dễ nhất để hình dung chính trị liên minh là một đường trục với hai thái cực đối diện, một thái cực (-1) là phù thịnh (bandwagoning), đi theo đối thủ, và thái cực còn lại (+1) là tham gia liên minh quân sự để cân bằng (balancing) lại đối thủ. Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam lý tưởng nhất là ở vị trí cân bằng (0), tuy nhiên tùy theo diễn biến quan hệ song phương và bối cảnh khu vực, chúng ta có thể điều chỉnh vị trí của mình trong khoảng từ -1 đến +1 cho phù hợp. Ví dụ, nếu Trung Quốc hung hăng, hiếu chiến, Việt Nam có thể điều chỉnh dần sang vị trí +1, nhưng nếu Trung Quốc ôn hòa, xuống nước, Việt Nam có thể điều chỉnh dần về vị trí số 0. Như vậy chúng ta không nên lo sợ phá vỡ quan hệ với Trung Quốc vì chúng ta có thể điều chỉnh tùy theo tình hình. Điều chúng ta phải lo sợ hơn là mất lãnh thổ, thứ một khi đã rơi vào tay người khác sẽ khó có thể đòi lại được.
    Thứ ba, do có sự linh hoạt như trên, nên Việt Nam nếu khéo léo có thể điều chỉnh từng bước đi trong chính trị liên minh để đáp lại các hành động của Trung Quốc. Trước mắt, nếu Trung Quốc tiếp tục đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, chúng ta có thể áp dụng lại chiến thuật như vừa qua, kiềm chế và kiên nhẫn đấu tranh để Trung Quốc rút, phục hồi nguyên trạng. Tuy nhiên nếu Trung Quốc lặp đi lặp lại hoặc leo thang, ví dụ không rút giàn khoan, đưa giàn khoan xuống khu vực Trường Sa/ Tư Chính, thiết lập ADIZ trên Biển Đông, hay thậm chí xâm lược các vị trí Việt Nam đang nắm giữ, thì Việt Nam cần ứng phó ra sao? Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần phải có các bước chuẩn bị để khi Trung Quốc đi một nước cờ thì Việt Nam có thể đi được một nước tương ứng để đáp lại, tránh tình trạng Trung Quốc leo thang nhưng Việt Nam chỉ có một bài để đấu tranh. Với các nấc thang khác nhau như đã kể trên, chính trị liên minh giúp Việt Nam dự liệu trước các quân bài khác nhau để đối phó với Trung Quốc, bên cạnh chuyện đấu tranh trên thực địa.
    Như vậy, trước bối cảnh Trung Quốc ngày càng có các hành động hung hăng mang tính cưỡng bức trên Biển Đông, Việt Nam cần tận dụng các biến đổi địa chính trị khu vực để giành thế chiến lược có lợi cho mình. Trước mắt, Việt Nam cần thực hiện một số các biện pháp như cảnh báo Trung Quốc về hậu quả chiến lược nếu tiếp tục có cách hành động cưỡng bức hoặc leo thang tranh chấp; làm việc cùng các quốc gia đối tác quan trọng (đặc biệt là Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Philippines) để lập kế hoạch tăng cường các mối quan hệ song phương, nhất là trong lĩnh vực an ninh – quốc phòng, đồng thời lập kế hoạch các bước đi và nấc thang tiếp theo mà Việt Nam cần thực hiện để đáp lại các hành động gây hấn mới hoặc leo thang tranh chấp trên Biển Đông của Trung Quốc.
    Tóm lại, Việt Nam chỉ có thể hòa hiếu với Trung Quốc nếu Trung Quốc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nếu Trung Quốc dùng bạo quyền để cưỡng bức thì chúng ta không thể mềm yếu để rồi mãi mãi đánh mất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ vì một thứ “hữu nghị viễn vông”.
    Trong khi tìm mọi cách cố gắng duy trì quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và tương kính với Trung Quốc, chúng ta cũng nên sẵn sàng theo đuổi các mối quan hệ liên minh với các đối tác ở các lĩnh vực và mức độ khác nhau để đối phó với các mối đe dọa trên Biển Đông. Theo nghĩa đó, liên minh không nên được hiểu là đi với nước này để chống nước kia, mà là đi với nước nào để chúng ta có thể bảo vệ được tốt nhất lợi ích quốc gia của mình.
    Lê Hồng Hiệp, vừa hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia, Canberra, là giảng viên tại Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV TPHCM, và là biên tập viên sáng lập và điều hành trang mạng Nghiencuuquocte.net.
    —————
    [1] Việc tăng thuế tiêu dùng (có tác động giảm phát) dựa trên cơ sở rằng trước đó hai mũi tên mở rộng tài khóa và nới lỏng tiền tệ (có tác dụng gây lạm phát) đã được thực hiện, nên sẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế. Ngoài nguyên nhân chính là tăng thuế tiêu dùng thì các vấn đề như cải cách cơ cấu chậm có tác dụng, đồng yen yếu làm tăng chi phí nhập khẩu đầu vào sản xuất và cơ cấu dân số bất lợi đều tác động tiêu cực tới kinh tế Nhật trong năm 2014.
    [2] Hầu như chắc chắn liên minh giữa LDP và Đảng Công minh (Komeito) sẽ tiếp tục. Trong bầu cử, LDP giành 291 ghế, Keomeito giành 35 ghế, tổng cộng là 326/475 (68,63%) ghế.

  3. haiz00 says:

    Liệu Quốc hội Mỹ có thể chặn đứng Trung Quốc ở Biển Đông?

    Trần Văn Minh dịch
    Harry J. Kazianis, The National Interest

    Một nỗ lực của lưỡng đảng đang diễn ra, nhấn mạnh các xu hướng nguy hiểm ở châu Á và đặc biệt ở khu vực Biển Đông. Nhưng liệu Obama sẽ lắng nghe? Cán cân quyền lực ở Á Châu đang thay đổi và theo hướng không có lợi cho Washington.

    Hoa Kỳ không còn khả năng chỉ đơn giản tập hợp lực lượng kiểu chiến tranh vùng vịnh lần thứ I và nhanh chóng chạy đến trợ giúp các đồng minh nếu như chiến cuộc xảy ra trên bán đảo Triều Tiên, trong biển Hoa Đông, xung quanh Đài Loan hoặc ở Biển Đông – tất cả vì sự gia tăng quân sự to lớn của Trung Quốc và sự phát triển khả năng chống tiếp cận/ từ chối khu vực. Chính quyền Obama đã nhanh chóng chỉ ra rằng Mỹ đang “xoay trục” hoặc “tái cân bằng” sang châu Á, có lẽ là một trong những khẩu hiệu đối ngoại “mập mờ” nhất trong hai mươi lăm năm qua. Nhưng khẩu hiệu không thể thay đổi sự thật và nhiều người cho rằng sự xoay trục vẫn chỉ là một khẩu hiệu khi chúng ta nhìn thẳng vào các sự kiện thực sự trên mặt đất. Trung Quốc không chỉ làm thay đổi nguyên trạng trên đất liền, mà còn trên mặt biển, trên bầu trời, ngoài không gian và có lẽ ngay cả trên không gian ảo.

    Trong lúc chính quyền Obama muốn tiếp tục chiến lược hiện tại để cố gắng lôi kéo Bắc Kinh và làm việc theo cách như một “liên hệ kiểu mới giữa các cường quốc”, thì xuất hiện một nhóm các nhà lập pháp đang hành động để thúc đẩy chính quyền tìm kiếm một phương pháp khác. Phương pháp đó có lẽ là khuyến khích Bắc Kinh tham gia vào một loạt các vấn đề của vùng Indo-Thái Bình Dương, với sự chú trọng đặc biệt đối với những thách thức ở Biển Đông. Trong khi đó, chắc chắn còn sớm để xét đoán bất kỳ tác động cấp thời nào trong những nỗ lực mà lưỡng đảng này ảnh hưởng lên chính sách của chính phủ, có một điều rõ ràng: các nhà lập pháp chắc chắn biết rõ những vấn đề hiện tại và có thể cung cấp hướng dẫn vô cùng cần thiết khi nói tới những thách thức khác nhau mà Washington đối mặt ở châu Á. Ít nhất họ có thể giúp xoay chuyển sự chú ý vô cùng cần thiết vào các vấn đề thường bị giới truyền thông lớn bỏ qua.

    Trong một bức thư được công bố vào cuối ngày thứ Năm gửi cho Ngoại trưởng John Kerry và Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter, Thượng nghị sĩ John McCain và Jack Reed (chủ tịch và phó chủ tịch của Ủy ban Quân vụ Thượng viện) cùng với Thượng nghị sĩ Bob Corker và và Bob Menendez (Chủ tịch và phó chủ tịch của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện) hối thúc hai vị bộ trưởng về việc “phát triển và tiến hành một chiến lược toàn diện cho các khu vực hàng hải chung của khu vực Indo-Thái Bình Dương”.

    Vào thời điểm dễ dàng hơn cho các thành viên cao cấp của Quốc hội tập trung vào các vấn đề nóng bỏng và đáng giá như sự trỗi dậy của Nhà nước Hồi giáo, các hành động của Nga ở Ukraine và cuộc chiến ngân sách quốc phòng đang diễn ra, chọn lựa sự thách thức về hành động của Trung Quốc ở Biển Đông là một điều mà các nước Á Châu sẽ tán đồng. Trong khi mọi người có thể không đồng ý với những giọng điệu của bức thư cũng như những khuyến cáo – sự tập trung vào các vấn đề ở vùng Indo-Thái Bình Dương và mối quan hệ quan trọng nhất trên thế giới, trong đó chủ yếu là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Như các thượng nghị sĩ giải thích:

    Biển Đông là một con đường hàng hải quan trọng, qua đó khoảng 5 nghìn tỷ USD thương mại thế giới đi qua mỗi năm. Những nỗ lực đơn phương để thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực, dọa nạt hoặc ép buộc, sẽ gây nguy hiểm cho hòa bình và sự ổn định, những điều có lợi cho tất cả các nước trong khu vực Indo-Thái Bình Dương. Việc bồi đắp đảo, và các hoạt động xây dựng của Trung Quốc trên nhiều đảo trong quần đảo Trường Sa và các khả năng huy động, kiểm soát, giám sát và khả năng quân sự mà họ có thể thực hiện từ những khu đất mới này, là một thách thức trực tiếp không chỉ đối với lợi ích của Hoa Hoa và khu vực, mà còn là thách thức đối với toàn bộ cộng đồng quốc tế.

    Đây thực sự là một gáo nước lạnh. Có vẻ như các dự án xây dựng đảo của Trung Quốc ở Biển Đông đang di chuyển với một tốc độ rất nhanh, có lẽ nhanh hơn các nhà phân tích nghĩ rất nhiều:

    Chúng tôi hiểu rằng phần lớn các công trình này đã được hoàn thành chỉ trong mười hai tháng trở lại đây, và nếu tốc độ xây dựng như hiện nay vẫn tiếp tục, Trung Quốc có thể hoàn thành công việc bồi đắp đảo ở mức độ theo dự tính của họ vào năm tới. Đá Ga Ven có khoảng đất mới rộng 114.000 mét vuông kể từ tháng 3 năm 2014. Đá Gạc Ma, mà trước đó là một bãi san hô bị ngập nước, bây giờ hiển hiện là một “hòn đảo” 100.000 mét vuông. Công cuộc xây dựng và bồi đắp đảo đã gia tăng kích thước của đá Chữ Thập hơn 11 lần kể từ tháng 8 năm ngoái. Sự bồi đắp đảo bởi bất kỳ nước nào để làm tăng chủ quyền của họ ở Biển Đông chỉ làm phức tạp thêm các tranh chấp và đi ngược lại với các lời kêu gọi từ Hoa Kỳ và Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đến các bên tranh chấp nên kiềm chế hành động. Tuy nhiên, trong khi các nước khác xây dựng trên vùng đất có sẵn, Trung Quốc đang thay đổi kích thước, cấu trúc và tính chất định hình của chính các thực thể đất. Đây là sự thay đổi về tính năng có vẻ như được thiết kế để làm biến đổi nguyên trạng ở Biển Đông.

    Các thượng nghị sĩ sau đó chỉ ra những thách thức này được tạo ra từ mối quan hệ Mỹ-Trung, nhưng đưa ra các khuyến nghị của riêng họ:

    Giống như Tổng thống Obama, chúng tôi tin rằng Trung Quốc có thể và nên đóng một vai trò xây dựng trong khu vực. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng cái giá phải trả để uốn nắn hành vi của Trung Quốc ở các vùng biển chung có thể ảnh hưởng đến các yếu tố khác trong mối quan hệ song phương của chúng ta. Nhưng nếu Trung Quốc tiếp tục theo đuổi phương cách tiếp cận cưỡng ép và leo thang để giải quyết các tranh chấp hàng hải, cái giá phải trả cho an ninh và thịnh vượng trong khu vực, cũng như lợi ích của Mỹ, sẽ chỉ gia tăng. Để cộng đồng quốc tế tiếp tục được hưởng lợi từ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, là điều đã mang lại sự ổn định và thịnh vượng cho khu vực Indo-Thái Bình Dương trong bảy thập niên qua, Hoa Kỳ phải làm việc với các đối tác có cùng quan điểm và đồng minh để thành hình và tiến hành một chiến lược nhằm uốn nắn hành vi cưỡng ép trong thời bình của Trung Quốc.

    Chắc chắn Hoa Kỳ phải tiếp tục duy trì một sự cân bằng quân sự trong khu vực, là điều bảo đảm lợi ích chính trị và kinh tế lâu dài của chúng ta, giữ vững các cam kết có hiệp ước, và bảo vệ tự do hàng hải và thương mại. Đồng thời, nỗ lực có chủ ý của Trung Quốc trong việc sử dụng phương pháp cưỡng ép phi quân sự để thay đổi nguyên trạng, cả ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, đòi hỏi một phản ứng toàn diện từ Hoa Kỳ và các đối tác. Trong khi các viên chức chính quyền đã chỉ ra các bài phát biểu và đề nghị khác nhau như là bằng chứng của một chiến lược rộng lớn hơn, chúng tôi tin rằng một chính sách chính thức và chiến lược rõ ràng để đối phó với các kiểu ép buộc này của Trung Quốc là cần thiết. Đó là lý do tại sao điều luật Ủy Quyền Quốc Phòng năm 2015 (National Defense Authorization Act of 2015) gồm một yêu cầu phải báo cáo về chiến lược an ninh hàng hải với sự nhấn mạnh tới Biển Đông và Biển Hoa Đông.

    Một chiến lược toàn diện để làm tăng cái giá phải trả khi nói đến các hành động cưỡng ép của Trung Quốc ở Biển Đông là vô cùng cần thiết. Trong lúc Bắc Kinh tiếp tục đẩy mạnh việc bồi đắp đảo và chủ yếu xây dựng những hòn đảo mới tại Biển Đông, một xu hướng nguy hiểm thực sự đang được “đóng cốt”, theo kiểu mà Trung Quốc có thể thay đổi hiện trạng trong khi các nước láng giềng, trong đó có nhiều đồng minh của Mỹ, không thể làm gì cả về điều đó. Nếu Bắc Kinh tuyên bố một vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông, như các thượng nghị sĩ đề cập tới trong thư, hành động như vậy sẽ làm mất ổn định trong khu vực và có khả năng sẽ làm gia tăng căng thẳng đến mức độ chưa từng thấy trong nhiều thập niên.

    Như thế, một một chiến lược toàn diện để uốn nắn hành động cưỡng ép của Trung Quốc sẽ như thế nào trong thực tế? Có thể là, để bắt đầu, Washington phải bảo đảm ngân sách quốc phòng không liên tục bị đe dọa cắt giảm. Trong khi Mỹ đang suy yếu về sức mạnh tài chánh, khi thâm hụt ngân sách chồng chất năm này sang năm khác, Washington phải bảo đảm cung cấp cho người của chúng ta các phương tiện và nguồn lực cần thiết để phòng vệ lợi ích quốc gia chính đáng. Mỹ đúng ra là đang gửi lời mời đến các đối thủ cạnh tranh ở các khu vực khác nhau để tạo ra sự bất ổn, khi chúng ta hoạt động từ một vị trí quân sự suy yếu, do các vết thương tự gây ra từ việc cắt giảm ngân sách quốc phòng.

    Một khía cạnh khác phải bao gồm một tư duy mang tính chiến lược nhiều hơn nữa khi đối diện với các hành động của Trung Quốc. Ví dụ, như tôi đã lưu ý trước đây trong các bài viết trên mạng, nếu Bắc Kinh có hành động như bồi đắp đảo nhân tạo hoặc xây dựng các thực thể đảo mới tại Biển Đông, Washington phải hành động để chứng tỏ rằng sẽ có một sự trả giá mỗi lần Bắc Kinh hành động ác ý. Như thế, nếu Bắc Kinh bồi đắp một đảo mới, Washington sẽ phản ứng bằng cách gửi hệ thống vũ khí mới tới Philippines hay Việt Nam – thậm chí có thể bán hệ thống vũ khí mới cho Đài Loan, là nước sẽ ở trong tình trạng tuyệt vọng nếu Bắc Kinh cố gắng tái chiếm đảo [Đài Loan] bằng vũ lực. Ý tưởng ở đây thật dễ hiểu: Trung Quốc phải học một cách nhanh chóng rằng hành động phá bỏ nguyên trạng sẽ dẫn đến sự trả giá cao. Và tính nhất quán là mấu chốt. Bắc Kinh có thể nghĩ rằng đó chỉ là một hành động nhất thời. Chúng ta sẽ cần phải tỏ rõ quyết tâm, trong trường hợp Trung Quốc liên tục thách thức tính nguyên trạng, với các hành động củng cố sức mạnh, điều sẽ làm tăng giá phải trả cho sự cưỡng ép của Trung Quốc.

    Một khả năng khác là xem xét những bức ảnh gần đây được CSIS ở Washington và IHS Janes công bố, các bức ảnh cho thấy chi tiết rõ ràng tốc độ và tầm mức của dự án bồi đắp đảo của Trung Quốc ở Biển Đông. Sự kiện này tập hợp giới truyền thông và cộng đồng an ninh quốc gia để làm sáng tỏ vấn đề này trong môi trường tin tức liên tục lặp đi lặp lại. Chính phủ Hoa Kỳ nên có chính sách công bố các hình ảnh như thế một cách thường xuyên để gây áp lực lên Bắc Kinh. Ví dụ, nếu có bất kỳ video về sự cố của USS Cowpens, khi một tàu của Trung Quốc tiến gần một cách nguy hiểm, đến có thể va chạm với một tàu hải quân Mỹ, thì sẽ rất tốt để công bố nó. Trong khi một chiến lược đáng xấu hổ không thể thay đổi tình hình thực địa, nếu chúng ta nhớ lại khi chính phủ Hoa Kỳ và Nhật Bản công bố hình ảnh của việc gần va chạm trên không với máy bay Trung Quốc vài năm trước, đã buộc Bắc Kinh phải trả lời. Gây áp lực qua các phương tiện truyền thông là quan trọng.

    Trong khi tôi có thể tiếp tục liệt kê các điểm chi tiết của chiến lược, có một điều trên hết là phải tiếp tục: các đại diện dân cử của chúng ta phải tiếp tục dấn bước làm nổi bật các thách thức chiến lược mà Washington và các đồng minh phải đối mặt ở Indo-Thái Bình Dương. Trong khi một lá thư chỉ có thể đi xa tới mức của nó, chúng ta chỉ có thể hy vọng đây là một khoản đặt cọc cho một cuộc tranh luận cần phải xảy ra ở ngay tại thủ đô: tìm kiếm một giải pháp cho mối quan hệ Mỹ-Trung vượt xa khỏi các khẩu hiệu “dán sau xe” về chính sách đối ngoại, để bảo đảm tính nguyên trạng hòa bình ở châu Á vẫn còn nguyên vẹn.
    _______
    Harry J. Kazianis là biên tập viên của trang RealClearDefense, thuộc gia đình website RealClearPolitics. Ông Mazianis cũng là học giả nghiên cứu Chính sách Quốc phòng Center for the National Interest và là học giả tại Viện Chính sách Trung Quốc. Ông còn là cựu biên tập viên điều hành của báo The National Interest và là cựu biên tập của báo The Diplomat.

    Một góc của tôi

  4. haiz00 says:

    Ngăn chặn Trung Quốc ra sao (I)

    neofob chuyển ngữ
    Andrew F. Krepinevich Jr., Foreign Affairs số tháng Giêng/Hai 2015
    Đối với quân đội Hoa Kỳ, ít ra là chuyện “xoay trục” sang Châu Á đã xảy ra rồi. Đến năm 2020, lực lượng hải quân và không quân hoạch định bố trí 60 phần trăm lực lượng của họ ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Ngũ Giác Đài, trong khi đó đang đầu tư một phần lớn những máy bay ném bom tầm xa và tàu ngầm hạt nhân được thiết kế để hoạt động trong vùng có nhiều đe dọa.

    Những sự chuyển đổi này rõ ràng có dự tính để kiềm chế một Trung Quốc ngày càng táo tợn hơn. Hơn nữa có lý do của nó: những tuyên bố chủ quyền bành trướng của Bắc Kinh đe dọa gần như tất cả các nước dọc theo vùng thường biết đến là “chuỗi đảo thứ nhất” khoanh vùng nhiều phần của Nhật Bản, Philippines, và Đài Loan—tất cả được Washington phải có bổn phận bảo vệ. Thế nhưng để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc có hiệu quả, Ngũ Giác Đài buộc phải làm hơn nữa. Những năng lực đang lên của Trung Quốc có chủ đích làm thui chột khả năng của Washington lo liệu yểm trợ quân sự cho đồng minh và đối tác. Dẫu cho việc ngăn chặn bằng viễn cảnh của trừng phạt, thông qua hình thức không tập và phong tỏa hải quân, có một vai trò đáng kể trong việc làm nản chí chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc, mục tiêu của Washington và đồng minh và của đối tác nên là đạt được mục tiêu ngăn chặn bằng việc phủ nhận—để thuyết phục cho được Bắc Kinh rằng là họ đơn giản không thể đạt được các mục tiêu bằng vũ lực.

    Tận dụng khả năng tiềm tàng của các lực lượng lục quân của Hoa Kỳ, đồng minh, và đối tác, Washington có thể đạt được mục tiêu kể trên tốt nhất bằng việc thiết lập một chuỗi những phòng thủ liên hoàn dọc theo chuỗi đảo thứ nhất—một “Phòng ngự Quần đảo”—và bằng cách đó khước từ Bắc Kinh khả năng để đạt được những mục tiêu theo chủ nghĩa xét lại thông qua xâm lược hoặc cưỡng chiếm.

    Những hiểm họa của Chủ nghĩa Xét lại

    Trung Quốc tuyên bố rằng sự trỗi dậy của họ có chủ đích hòa bình thế nhưng hành xử của họ lại cho thấy một câu chuyện khác hẳn: rằng một cường quốc mới nổi đang tìm cách thống lĩnh phía tây Thái Bình Dương. Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền không chỉ đối với Đài Loan mà còn cả Quần đảo Senkaku của Nhật Bản (được biết là Điếu Ngư Quần đảo ở Trung Quốc) và hầu hết 4.3 triệu km vuông chiếm phần lớn Biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Biển Đông–ND). Đây là nơi mà sáu quốc gia khác có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và hàng hải. Và Trung Quốc chẳng ngượng ngùng gì về chuyện theo đuổi những mục tiêu đó. Ví dụ vào năm 2010, bộ trưởng bộ ngoại giao lúc bấy giờ là Dương Khiết Trì gạt bỏ những quan ngại về sự bành trướng của Trung Quốc trong chớp mắt “Trung Quốc là một nước lớn và những nước khác là nước nhỏ, và đó là một thực tế.”

    Nói đến chuyện Bắc Kinh bắt nạt các nước khác gần đây ở Biển Đông. Vào tháng 3 năm 2014, tàu hải giám của Trung Quốc ngăn cản tàu của Philippines không cho tiếp cận các tiền đồn của họ ở Quần đảo Trường Sa. Hai tháng sau đó, Trung Quốc di chuyển một giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đụng độ với tàu cá của Việt Nam. Những hành động này lặp lại những vụ trước đó ở Biển Hoa Đông. Vào tháng 10 năm 2010, để trả đũa cho việc bắt giữ thuyền trưởng tàu đã đâm vào hai tàu duyên của Nhật Bản, Trung Quốc tạm thời không xuất khẩu đất hiếm sang Nhật Bản—đất hiếm là nguyên liệu cần thiết để sản xuất điện thoại di động và máy tính. Và vào tháng 11 năm 2013, Trung Quốc đơn phương tuyên bố “vùng nhận dạng phòng không” lên không phận thuộc quần đảo Senkaku đang trong tranh chấp và những vùng khác của Biển Hoa Đông buộc các máy bay phải tuân theo quy định không lưu của họ. Họ cảnh báo rằng sẽ có hành động quân sự đối với máy bay không tuân thủ quy định của họ.

    Một số đã cho rằng một khi sức mạnh quân sự của họ lớn mạnh hơn và các nhà lãnh đạo của họ cảm thấy an tâm hơn, Trung Quốc sẽ tiết chế những hành động như vậy. Thế nhưng điều ngược lại xem ra có vẻ đúng hơn. Quả thực là những hành động khiêu khích của Bắc Kinh đã trùng khớp với sự khuyếch trương dữ dội sức mạnh quân sự của họ. Trung Quốc đang đầu tư vào một số năng lực mới mà chúng đặt ra một mối đe dọa trực tiếp cho ổn định của khu vực. Lấy ví dụ Quân đội Giải phóng Nhân dân (QĐGPND) Trung Quốc đang tăng cường những khả năng của cái gọi là chống xâm nhập, phủ nhận vùng kiểm soát nhằm để ngăn chặn quân đội các nước khác khỏi chiếm giữ hoặc di hành qua những vùng lãnh thổ trải rộng với mục đích hiển nhiên là làm cho vùng Tây Thái Bình Dương thành một vùng không lối thoát cho quân đội Hoa Kỳ. Điều này bao gồm chuyện phát triển những biện pháp để nhắm đến những hệ thống bộ tư lệnh của Ngũ giác Đài mà chúng phụ thuộc mạnh mẽ vào vệ tinh và Internet để phối hợp hành quân và hậu cần. QĐGPND đã có tiến bộ đáng kể về mặt này trong những năm gần đây như thử nghiệm tên lửa chống vệ tinh, dùng laser để làm mù vệ tinh của Hoa Kỳ, và phát động những vụ tấn công mạng tinh vi vào hệ thống mạng của quốc phòng Hoa Kỳ.

    Trung Quốc cũng đang tăng cường khả năng của họ để nhắm đến những quân cụ và giới hạn khả năng của Hải Quân Hoa Kỳ hoạt động trong hải phận quốc tế. QĐGPND đã có tên lửa đạn đạo quy ước và tên lửa hành trình có thể đánh các cơ sở quan trọng của Hoa Kỳ trong khu vực như Căn cứ Không quân Kadena ở Okinawa, Nhật Bản. Và họ đang phát triển máy bay tàng hình có khả năng tấn công nhiều mục tiêu dọc theo chuỗi đảo thứ nhất. Để phát hiện và nhắm bắn các chiến hạm ở tầm xa hơn, QĐGPND Trung Quốc đã triển khai các trạm radar mạnh mẽ và vệ tinh do thám cùng với máy bay không người lái có thể thi hành các nhiệm vụ trinh sát tầm xa. Và để theo dõi các hàng không mẫu hạm cũng như các chiến hạm bảo vệ chúng, hải quân Trung Quốc đang tậu tàu ngầm võ trang với ngư lôi tối tân và tên lửa hành trình được thiết kế để đánh tàu tầm xa.

    Những hành động của Bắc Kinh không thể thanh minh như thể là một phản ứng đáp trả việc tăng cường lực lượng quân sự của Hoa Kỳ. Trong thập niên vừa qua, Washington đã tập trung sức lực và tài nguyên chủ yếu vào việc yểm trợ quân đội ở Afghanistan và Iraq. Ngân sách quốc phòng của Hoa Kỳ, chiếm ở mức trên bốn phần trăm GDP của quốc gia trong những năm gần đây, được dự đoán là sẽ sụt giảm xuống dưới hơn ba phần trăm vào cuối thập niên này. Nói đơn giản là Ngũ giác Đài đang cắt giảm các năng lực quân sự trong khi QĐGPND [Trung Quốc] thì đang tăng cường chúng.
    Dẫu cho nếu quá khứ là đoạn mở đầu, Trung Quốc sẽ không tìm cách giải quyết những mục tiêu bành trướng của họ bằng gây hấn công khai. Chiếu theo tập quán chiến lược của họ, họ muốn chậm mà chắc dịch chuyển cán cân lực lượng quân sự khu vực theo chiều có lợi cho họ. Điều này nhằm để khu vực chẳng có lựa chọn nào khác ngoài chuyện phục tùng cưỡng bức của Trung Quốc. Phần nhiều là các quốc gia láng giềng của Trung Quốc tin rằng cam kết ngoại giao và ràng buộc kinh tế sẽ chẳng làm suy chuyển thực tế đơn giản này. Nhiều quốc gia trong số đó, kể cả Nhật Bản, Philippines, và Việt Nam, đang tăng cường chú trọng quân đội của họ vào nhiệm vụ chống lại những tham vọng quân sự của Trung Quốc. Họ biết rõ mười mươi là những hành động riêng lẻ sẽ không đủ để ngăn chặn Bắc Kinh khỏi việc xúc tiến tham vọng của họ. Chỉ có yểm trợ trang thiết bị của Hoa Kỳ họ mới có thể thiết lập một mặt trận chung nhằm ngăn chặn Trung Quốc khỏi những hành động xâm lược hoặc cưỡng chiếm.

    Ngăn chặn bằng việc Khước từ

    Nếu Washington muốn làm thay đổi tính toán của Bắc Kinh, họ phải phủ nhận Trung Quốc khả năng kiểm soát không phận và hải phận quanh chuỗi đảo thứ nhất. Do là QĐGPND [Trung Quốc] sẽ phải làm chủ cả hai chiến trường kể trên để cô lập quần đảo. Hoa Kỳ cũng phải tích hợp hệ thống chiến trường của đồng minh và tăng cường khả năng của họ—cả hai sẽ hỗ trợ cho việc cân bằng những nỗ lực của QĐGPND nhằm phá vỡ sự ổn định của cân bằng quân sự khu vực. Nói chung thì những mục tiêu đó có thể đạt được bằng các lực lượng trên bộ mà chúng sẽ không thay thế những lực lượng không quân và hải quân mà hỗ trợ họ thêm.

    Khi nói đến phòng không, các quốc gia dọc theo chuỗi đảo thứ nhất có thể củng cố khả năng của họ để phủ nhận kiểm soát của Trung Quốc đối với không phận bằng việc triển khai các đơn vị lục quân trang bị với tên lửa đánh chặn tầm ngắn cơ động và tương đối đơn giản (ví dụ như tên lửa Evolved Sea Sparrow–Én Biển đời mới–yểm trợ bởi các hệ thống radar GIRAFFE để phát hiện mục tiêu). Trong khi đó Lục quân Hoa Kỳ, cùng với các đồng minh như Nhật Bản, có thể sử dụng các hệ thống tầm xa tinh vi hơn có khả năng đánh chặn các tên lửa hành trình của Trung Quốc và hủy diệt các máy bay tối tân của họ. Cho dù không thuộc chuỗi đảo thứ nhất, Việt Nam đã đang nâng cấp khả năng chống xâm nhập không phận và có thể hỗ trợ vào nỗ lực phòng thủ chung lớn hơn.

    Rồi thì còn có nhiệm vụ khước từ QĐGPND quyền kiểm soát hải phận mà họ sẽ cần để tiến hành những cuộc hành quân tấn công các hòn đảo. Các thành viên thâm niên của Quốc hội đã khuyến khích Lục quân Hoa Kỳ xem xét phục hồi lại lực lượng pháo binh cho phòng vệ duyên hải, một nhiệm vụ mà họ đã từ bỏ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Ý tưởng thì thật đơn giản và có tính thuyết phục. Thay vì phải mạo hiểm phái tàu chiến vào trong tầm của lực lượng phòng thủ của QĐGPND hoặc tái phối trí tàu ngầm từ những nhiệm vụ quan trọng hơn, Hoa Kỳ và các đồng minh có thể dựa vào các lực lượng lục quân có căn cứ dọc theo chuỗi đảo thứ nhất và vũ trang với các bệ phóng lưu động và tên lửa chống hạm để đảm nhiệm các sứ mệnh như vậy. Quân đội Nhật Bản đã làm y như vậy; họ triển khai những đơn vị tên lửa hành trình chống hạm ở ven bờ ở một số đảo của quần đảo Ryukyu trong những cuộc tập trận. Việt Nam đã triển khai những hệ thống tương tự. Các quốc gia tiền phương khác có thể theo đó mà làm một cách độc lập hoặc là với sự hỗ trợ tài chính, huấn luyện, và kỹ thuật của Hoa Kỳ.

    Một sứ mệnh khác mà lục quân của Hoa Kỳ và đồng minh có thể đóng góp là chiến tranh thủy lôi. Truyền thống mà nói thì tàu hải quân đặt mìn và phá mìn để giới hạn hoặc cho phép quá cảnh qua các vùng biển hẹp và eo biển. Cho dù việc phá mìn sẽ vẫn là nhiệm vụ của hải quân, các lực lượng lục quân có thể đóng góp một vai trò lớn hơn vào việc thả mìn, đặc biệt là nếu họ đóng quân gần các eo biển nối liền biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Biển Đông–ND) đến đại dương. Vũ trang với khả năng đặt mìn từ những căn cứ từ đất liền bằng cách sử dụng tên lửa tầm ngắn, trực thăng, hoặc sà lan. Các lực lượng lục quân của Hoa Kỳ và đồng minh có thể làm cho một vùng biển rộng nằm ngoài tầm với cho Hải quân Trung Quốc. Các bãi mìn ở những nút cổ chai then chốt dọc theo chuỗi đảo thứ nhất sẽ gây rắc rối cho thế tấn công trên biển của Trung Quốc và cản trở khả năng của Trung Quốc quấy rối các lực lượng hải quân của đồng minh. Các khẩu đội tên lửa chống tàu ven bờ biển, trong khi ấy có thể làm cho cuộc hành quân phá mìn của chiến hạm QĐGPND rủi ro.

    Về lâu về dài thì những lực lượng lục quân cũng có thể yểm trợ cho các cuộc hành quân chống lại lực lượng tàu ngầm đang lớn mạnh của Trung Quốc. Một tàu ngầm cốt dựa vào sự bí mật để phòng ngự; một khi bị phát hiện, nó phải lẩn tránh đụng độ hoặc là chuẩn bị nguy cơ cao bị hủy diệt. Bằng cách đặt các thiết bị thu nhận tần số thấp và thu âm ở vùng biển quanh chuỗi quần đảo thứ nhất, Hoa Kỳ và đồng minh có thể bổ sung khả năng của họ nhằm phát hiện sự hiện diện của tàu ngầm Trung Quốc. Các đơn vị pháp binh duyên hải tiếp theo có thể dùng các ngư lôi phóng từ hỏa tiễn để buộc các tàu ngầm hủy bỏ nhiệm vụ và rút lui.

    Nếu Trung Quốc xâm chiếm một đồng minh hoặc đối tác của Hoa Kỳ, ngay cả một lực lượng nhỏ lục quân cũng có thể yểm trợ các lực lượng địa phương kháng cự mãnh liệt. Những cuộc xung đột gần đây ở Đông Nam Á và Trung Đông đã cho thấy rằng những kết quả gì một lực lượng lục quân không chính quy cỡ trung bình có thể gặt hái được nhờ sự yểm trợ của vũ khí hiện đại và các cố vấn có khả năng. Nhờ sự trợ giúp của các cố vấn Hoa Kỳ và không lực, một quân đội miền Nam Việt Nam bị áp đảo về quân số co thể chống trả lại một cuộc tấn công toàn diện bởi các lực lượng Bắc Việt vào năm 1972. Gần ba thập niên sau đó, vào năm 2001, một lực lượng nhỏ Đặc Nhiệm Biệt phái của Hoa Kỳ, yểm trợ bởi máy bay cường kích, đã giúp Lực lượng Liên minh Phương Bắc Afghanistan đánh bại Taliban. Và vào năm 2006, các chiến binh Hezbollah ở Lebanon với sự giúp đỡ của các cố vấn Iran, đã đánh cho Lực lượng Phòng Vệ Do Thái đến chỗ bế tắc trong một tháng. Một nỗ lực tương tự ở Thái Bình Dương của các lực lượng lục quân Hoa Kỳ có thể khiến cho chuyện xâm chiếm và chiếm đóng lãnh thổ là chuyện phải trả giá cực kỳ đắt cho Trung Quốc, đặc biệt là nếu các lực lượng địa phương cũng được huấn luyện kỹ càng và trang bị tốt. Có súng cối, tên lửa, và hỏa tiễn phòng không vác vai tầm ngắn và dẫn đường chính xác sẽ tối đa hóa tầm sát thương của các đơn vị du kích nhỏ.

    Bằng việc gánh vác trách nhiệm lớn hơn cho chuyện khước từ QĐGPND kiểm soát không phận và hải phận mà họ cần để triển khai các cuộc hành quân tấn công, các lực lượng lục quân có thể giải vây cho các lực lượng không quân và hải quân của Hoa Kỳ và đồng minh để thi hành các nhiệm vụ mà chỉ có họ có thể hoàn thành như viễn thám và không tập. Giả như chuyện ngăn chặn không thành, những lực lượng không quân và hải quân sẽ là then chốt để phòng thủ chuồi quần đảo thứ nhất và cân bằng những lợi thế của QĐGPND. Lấy ví dụ, QĐGPND có thể tập trung lực lượng ở bất kỳ điểm nào dọc theo chuỗi quần đảo thứ nhất nhanh chóng hơn Hoa Kỳ và đồng minh vì họ có quân đội phân tán mỏng hơn. Và họ không cần phải lo về những lợi ích quốc gia trái ngược nhau. (Trong trường hợp bị Trung Quốc tấn công cấp tập vào một hòn đảo, những quốc gia dọc theo chuỗi quần đảo sẽ có khuynh hướng cầm chân những lực lượng của họ để phòng thủ quê nhà của họ.) Bằng cách giảm thiểu chuyện cần đến các lực lượng không quân và hải quân cho những nhiệm vụ như chống xâm nhập không và hải phận, các lực lượng lục quân sẽ cho phép những lực lượng không quân và hải quân ở vị trí dự bị, sẵn sàng nhanh chóng tiến vào bảo vệ những nút bị đe dọa trong chuỗi đảo.

    Còn tiếp…

  5. haiz00 says:

    Ngăn chặn Trung Quốc ra sao (II)

    neofob chuyển ngữ
    Andrew F. Krepinevich Jr., Foreign Affairs số tháng Giêng/Hai 2015
    Đối với quân đội Hoa Kỳ, ít ra là chuyện “xoay trục” sang Châu Á đã xảy ra rồi. Đến năm 2020, lực lượng hải quân và không quân hoạch định bố trí 60 phần trăm lực lượng của họ ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Ngũ Giác Đài, trong khi đó đang đầu tư một phần lớn những máy bay ném bom tầm xa và tàu ngầm hạt nhân được thiết kế để hoạt động trong vùng có nhiều đe dọa.

    Ngăn chặn bằng việc Khước từ

    Nếu Washington muốn làm thay đổi tính toán của Bắc Kinh, họ phải phủ nhận Trung Quốc khả năng kiểm soát không phận và hải phận quanh chuỗi đảo thứ nhất. Do là QĐGPND [Trung Quốc] sẽ phải làm chủ cả hai chiến trường kể trên để cô lập quần đảo. Hoa Kỳ cũng phải tích hợp hệ thống chiến trường của đồng minh và tăng cường khả năng của họ—cả hai sẽ hỗ trợ cho việc cân bằng những nỗ lực của QĐGPND nhằm phá vỡ sự ổn định của cân bằng quân sự khu vực. Nói chung thì những mục tiêu đó có thể đạt được bằng các lực lượng trên bộ mà chúng sẽ không thay thế những lực lượng không quân và hải quân mà hỗ trợ họ thêm.

    Khi nói đến phòng không, các quốc gia dọc theo chuỗi đảo thứ nhất có thể củng cố khả năng của họ để phủ nhận kiểm soát của Trung Quốc đối với không phận bằng việc triển khai các đơn vị lục quân trang bị với tên lửa đánh chặn tầm ngắn cơ động và tương đối đơn giản (ví dụ như tên lửa Evolved Sea Sparrow–Én Biển đời mới–yểm trợ bởi các hệ thống radar GIRAFFE để phát hiện mục tiêu). Trong khi đó Lục quân Hoa Kỳ, cùng với các đồng minh như Nhật Bản, có thể sử dụng các hệ thống tầm xa tinh vi hơn có khả năng đánh chặn các tên lửa hành trình của Trung Quốc và hủy diệt các máy bay tối tân của họ. Cho dù không thuộc chuỗi đảo thứ nhất, Việt Nam đã đang nâng cấp khả năng chống xâm nhập không phận và có thể hỗ trợ vào nỗ lực phòng thủ chung lớn hơn.

    Rồi thì còn có nhiệm vụ khước từ QĐGPND quyền kiểm soát hải phận mà họ sẽ cần để tiến hành những cuộc hành quân tấn công các hòn đảo. Các thành viên thâm niên của Quốc hội đã khuyến khích Lục quân Hoa Kỳ xem xét phục hồi lại lực lượng pháo binh cho phòng vệ duyên hải, một nhiệm vụ mà họ đã từ bỏ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Ý tưởng thì thật đơn giản và có tính thuyết phục. Thay vì phải mạo hiểm phái tàu chiến vào trong tầm của lực lượng phòng thủ của QĐGPND hoặc tái phối trí tàu ngầm từ những nhiệm vụ quan trọng hơn, Hoa Kỳ và các đồng minh có thể dựa vào các lực lượng lục quân có căn cứ dọc theo chuỗi đảo thứ nhất và vũ trang với các bệ phóng lưu động và tên lửa chống hạm để đảm nhiệm các sứ mệnh như vậy. Quân đội Nhật Bản đã làm y như vậy; họ triển khai những đơn vị tên lửa hành trình chống hạm ở ven bờ ở một số đảo của quần đảo Ryukyu trong những cuộc tập trận. Việt Nam đã triển khai những hệ thống tương tự. Các quốc gia tiền phương khác có thể theo đó mà làm một cách độc lập hoặc là với sự hỗ trợ tài chính, huấn luyện, và kỹ thuật của Hoa Kỳ.

    Một sứ mệnh khác mà lục quân của Hoa Kỳ và đồng minh có thể đóng góp là chiến tranh thủy lôi. Truyền thống mà nói thì tàu hải quân đặt mìn và phá mìn để giới hạn hoặc cho phép quá cảnh qua các vùng biển hẹp và eo biển. Cho dù việc phá mìn sẽ vẫn là nhiệm vụ của hải quân, các lực lượng lục quân có thể đóng góp một vai trò lớn hơn vào việc thả mìn, đặc biệt là nếu họ đóng quân gần các eo biển nối liền biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Biển Đông–ND) đến đại dương. Vũ trang với khả năng đặt mìn từ những căn cứ từ đất liền bằng cách sử dụng tên lửa tầm ngắn, trực thăng, hoặc sà lan. Các lực lượng lục quân của Hoa Kỳ và đồng minh có thể làm cho một vùng biển rộng nằm ngoài tầm với cho Hải quân Trung Quốc. Các bãi mìn ở những nút cổ chai then chốt dọc theo chuỗi đảo thứ nhất sẽ gây rắc rối cho thế tấn công trên biển của Trung Quốc và cản trở khả năng của Trung Quốc quấy rối các lực lượng hải quân của đồng minh. Các khẩu đội tên lửa chống tàu ven bờ biển, trong khi ấy có thể làm cho cuộc hành quân phá mìn của chiến hạm QĐGPND rủi ro.

    Về lâu về dài thì những lực lượng lục quân cũng có thể yểm trợ cho các cuộc hành quân chống lại lực lượng tàu ngầm đang lớn mạnh của Trung Quốc. Một tàu ngầm cốt dựa vào sự bí mật để phòng ngự; một khi bị phát hiện, nó phải lẩn tránh đụng độ hoặc là chuẩn bị nguy cơ cao bị hủy diệt. Bằng cách đặt các thiết bị thu nhận tần số thấp và thu âm ở vùng biển quanh chuỗi quần đảo thứ nhất, Hoa Kỳ và đồng minh có thể bổ sung khả năng của họ nhằm phát hiện sự hiện diện của tàu ngầm Trung Quốc. Các đơn vị pháp binh duyên hải tiếp theo có thể dùng các ngư lôi phóng từ hỏa tiễn để buộc các tàu ngầm hủy bỏ nhiệm vụ và rút lui.

    Nếu Trung Quốc xâm chiếm một đồng minh hoặc đối tác của Hoa Kỳ, ngay cả một lực lượng nhỏ lục quân cũng có thể yểm trợ các lực lượng địa phương kháng cự mãnh liệt. Những cuộc xung đột gần đây ở Đông Nam Á và Trung Đông đã cho thấy rằng những kết quả gì một lực lượng lục quân không chính quy cỡ trung bình có thể gặt hái được nhờ sự yểm trợ của vũ khí hiện đại và các cố vấn có khả năng. Nhờ sự trợ giúp của các cố vấn Hoa Kỳ và không lực, một quân đội miền Nam Việt Nam bị áp đảo về quân số co thể chống trả lại một cuộc tấn công toàn diện bởi các lực lượng Bắc Việt vào năm 1972. Gần ba thập niên sau đó, vào năm 2001, một lực lượng nhỏ Đặc Nhiệm Biệt phái của Hoa Kỳ, yểm trợ bởi máy bay cường kích, đã giúp Lực lượng Liên minh Phương Bắc Afghanistan đánh bại Taliban. Và vào năm 2006, các chiến binh Hezbollah ở Lebanon với sự giúp đỡ của các cố vấn Iran, đã đánh cho Lực lượng Phòng Vệ Do Thái đến chỗ bế tắc trong một tháng. Một nỗ lực tương tự ở Thái Bình Dương của các lực lượng lục quân Hoa Kỳ có thể khiến cho chuyện xâm chiếm và chiếm đóng lãnh thổ là chuyện phải trả giá cực kỳ đắt cho Trung Quốc, đặc biệt là nếu các lực lượng địa phương cũng được huấn luyện kỹ càng và trang bị tốt. Có súng cối, tên lửa, và hỏa tiễn phòng không vác vai tầm ngắn và dẫn đường chính xác sẽ tối đa hóa tầm sát thương của các đơn vị du kích nhỏ.

    Bằng việc gánh vác trách nhiệm lớn hơn cho chuyện khước từ QĐGPND kiểm soát không phận và hải phận mà họ cần để triển khai các cuộc hành quân tấn công, các lực lượng lục quân có thể giải vây cho các lực lượng không quân và hải quân của Hoa Kỳ và đồng minh để thi hành các nhiệm vụ mà chỉ có họ có thể hoàn thành như viễn thám và không tập. Giả như chuyện ngăn chặn không thành, những lực lượng không quân và hải quân sẽ là then chốt để phòng thủ chuồi quần đảo thứ nhất và cân bằng những lợi thế của QĐGPND. Lấy ví dụ, QĐGPND có thể tập trung lực lượng ở bất kỳ điểm nào dọc theo chuỗi quần đảo thứ nhất nhanh chóng hơn Hoa Kỳ và đồng minh vì họ có quân đội phân tán mỏng hơn. Và họ không cần phải lo về những lợi ích quốc gia trái ngược nhau. (Trong trường hợp bị Trung Quốc tấn công cấp tập vào một hòn đảo, những quốc gia dọc theo chuỗi quần đảo sẽ có khuynh hướng cầm chân những lực lượng của họ để phòng thủ quê nhà của họ.) Bằng cách giảm thiểu chuyện cần đến các lực lượng không quân và hải quân cho những nhiệm vụ như chống xâm nhập không và hải phận, các lực lượng lục quân sẽ cho phép những lực lượng không quân và hải quân ở vị trí dự bị, sẵn sàng nhanh chóng tiến vào bảo vệ những nút bị đe dọa trong chuỗi đảo.

    Để thành công, một chính sách ngăn chặn cũng cần có một đe dọa trả đũa khả dĩ một khi quân đội có mặt, và trong trường hợp này, các lực lượng lục quân có thể yểm trợ cho chuyện này. Vào thời điểm này, những vũ khí của Hoa Kỳ mà có thể giáng trả chính xác một cuộc tấn công đang được đóng quân tại các căn cứ tiền phương và hàng không mẫu hạm ngày càng bị dễ bị tấn công. Ngũ giác Đài có kế hoạch cho những vấn đề này bằng cách đóng những tàu ngầm mới và sản xuất những máy bay tàng hình tầm xa nhưng giá thành cho những vũ khí như vậy là đắt đỏ đặc biệt là tính đến trọng tải vừa phải của chúng. Các lực lượng lục quân, nếu so ra, có thể đem đến một giải pháp ít tốn kém hơn để hỗ trợ hỏa lực. Không như các lực lượng không quân và hải quân, các lực lượng lục quân không cần phải quay trở lại những căn cứ xa xăm để nạp đạn lại. Họ có thể dự trữ đạn nhiều hơn so với cả máy bay ném bom hay chiến hạm lớn nhất. Và họ có thể chứa chúng ở những boong-ke kiên cố để được che chở chắc chắn hơn khỏi bị tấn công.

    Hơn nữa, trong trường hợp có xung đột, QĐGPND sẽ có lợi thế đáng kể: họ có một lực lượng khổng lồ các tên lửa tầm ngắn và tầm trung có căn cứ trên bộ. Hoa Kỳ, do là đã ký kết Hiệp ước về Lực lượng Vũ khí Hạt nhân tầm Trung, không thể triển khai những hệ thống này. Dẫu vậy bằng cách trang bị các lực lượng lục quân với những tên lửa tương đối rẻ tiền mà vẫn tuân theo những giới hạn về cự ly và bằng cách bố trí chúng dọc theo chuỗi đảo thứ nhất để cắt giảm chi phí cho việc phóng hỏa tiễn tầm xa, Washington và các đồng minh có thể thuận buồm xuôi gió trong việc điều chỉnh chuyện bất cân bằng quyền lực với chi phí thấp. Và nếu lục quân không thể hành quân nhanh chóng để đối phó với một sự cố chọc thủng phòng tuyến của phòng ngự quần đảo, những lực lượng gần đó có thể nhanh chóng đối phó bằng cách tập trung hỏa lực hỏa tiễn vào vùng bị đe dọa.

    Có lẽ điểm yếu nhất của chuỗi quần đảo thứ nhất là hệ thống mạng chiến trường của Hoa Kỳ—những hệ thống then chốt mà có thể đảm trách mọi thứ từ điều quân và kiểm soát binh sĩ và hậu cần cho đến dẫn đường vũ khí. Hệ thống này hiện nay dựa chủ yếu vào vệ tinh và các máy bay không người lái điều mà QĐGPND có thể triệt hạ được. Các tốt nhất để giảm thiểu mối nguy đó là thiết lập một mạng lưới viễn thông dựa vào cáp quang được chông dưới đất và lòng biển dọc theo chuỗi đảo cho phép những lực lượng trong tình trạng nguy cấp có thể thu phát dữ liệu một cách an toàn từ những trung tâm hành quân từ đất liền. Các lực lượng phòng không và chống xâm nhập đường biển đóng ở đảo cũng như những bãi mìn chống hạm có thể bảo vệ các đường cáp quang chạy giữa các hòn đảo.

    Biến Mục đích thành Thành tựu

    Cũng như với bất cứ khái niệm hành quân nào, Phòng ngự Quần đảo đối mặt với nhiều chướng ngại. Hai điểm lớn nhất là tài chính và địa chính trị: chi phí trong tương lai và ý chí của các quốc gia hợp tác dọc theo chuỗi quần đảo thứ nhất. Thế nhưng cho dù cái giá phải trả cho tình hình mới, cộng đồng quốc phòng ở Hoa Kỳ bắt đầu nhận ra rằng những dự tính cắt giảm ngân sách cho Ngũ giác Đài không tương xứng với tình hình an ninh ngày càng nguy hiểm. Nhóm Quốc phòng (The National Defense Panel–ND), một nhóm không đảng phái bao gồm những chuyên gia quốc phòng Hoa Kỳ, gần đây cho ra đề nghị rằng chính phủ Obama và Quốc Hội khôi phục chi tiêu quốc phòng trở lại mức được dự tính trong ngân sách của Ngũ giác Đài vào năm 2012. Chấp nhận đề nghị đó sẽ gia tăng đáng kể các nguồn lực của Ngũ giác Đài trong thập niên tới.

    Ngũ giác Đài cũng có thể đưa ra lý lẽ rằng đầu tư vào Phòng ngự Quần đảo có thể gặt hái những kết quả trong tương lai xa hơn khỏi vùng tây Thái Bình Dương. Lấy ví dụ khái niệm Chiến trường Không Địa, được phát triển vào thập niên 1970 đã giúp ngăn chặn Khối Warsaw khỏi tấn công NATO, đã thành công không chỉ ở trung Âu mà Hoa Kỳ và đồng minh còn dựa vào nó ở một dạng khác trong cuộc chiến vùng Vịnh Ba Tư 1990-1991. Tương tự, Ngũ giác Đài có thể sử dụng những khả năng liên quan đến Phòng ngự Quần đảo để phòng thủ những vùng trọng yếu khác bao gồm đồng minh và đối tác gần vùng Vịnh Ba Tư và Biển Baltic.

    Nếu Bộ Quốc Phòng không thể có gia tăng ngân sách, họ vẫn có thể có những thay đổi để đáp ứng vị thế mới cho tình hình an ninh hiện nay. Lấy cho ngay một ví dụ, Ngũ giác Đài vẫn có thể biệt phái một phần lớn lực lượng lục quân dành để bảo vệ Nam Triều Tiên khỏi một cuộc tấn công từ Bắc Triều Tiên. Dẫu cho một cuộc xâm lược quy mô là không chắc chắn; hiểm họa lớn nhất là Bình Nhưỡng có thể mở đầu một cuộc tấn công với tên lửa mang đầu đạn hạt nhân hoặc hóa học. Dù gì đi nữa thì Nam Triều Tiên có dân số đông gấp hai và thu nhập đầu người gấp 15 lần đối phương. Seoul có thể và nên chung vai một phần đáng kể của gánh nặng quốc phòng của họ để chống lại một cuộc xâm lược truyền thống trên bộ.

    Ngay cả với những nguồn lực thích hợp, đối phó với một trùng dương sóng cuộn bao gồm những đồng minh khu vực và đối tác sẽ không khỏi đặt ra những thử thách. Những lực lượng lục quân Hoa Kỳ sẽ phải đóng nhiều vai trò khác nhau tùy theo quốc gia. Nhật Bản, với những năng lực kinh khủng, có thể lo liệu phòng thủ trên bộ mà không cần nhiều yểm trợ từ Hoa Kỳ. Trái lại, các lực lượng lục quân Hoa Kỳ sẽ có thể cần đóng một vai trò lớn hơn ở Philippines. Ở cả hai quốc gia, một sự hiện diện lớn hơn của lục quân Hoa Kỳ sẽ đem lại một cam đoan mà lực lượng không quân và hải quân, mà họ có thể rút lui nhanh chóng, không thể đem lại. Đài Loan, trong khi đó, do không có quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, sẽ phải hành động với ít hay không có sự yểm trợ.

    Nhiều quốc gia, đặc biệt là Nhật Bản và Việt Nam, đã gợi ý rằng họ nghiêm túc về chuyện triển khai các công sự phòng ngự chắc chắn cho Phòng ngự Quần đảo. Các quốc gia khác ngoài chuỗi quần đảo thứ nhất bao gồm Úc và Singapore tỏ ra có ý lo liệu căn cứ và yểm trợ hậu cần. Thế nhưng cũng như NATO mất hơn một thập niên để thiết lập một ngăn chặn truyền thống thứ dữ đối với Khối Warsaw, Hoa Kỳ và đồng minh không thể thiết lập Phòng ngự Quần đảo trong nay mai.
    Theo đuổi chiến lược ngay bây giờ sẽ có lợi thế của việc cho phép Washington và các quốc gia thân thiện trang trải chi phí của việc triển khai những lực lượng như vậy về lâu dài. Trong khi đó, với chuyện cạnh tranh quân sự đang diễn ra, Hoa Kỳ và đồng minh dọc theo chuỗi quần đảo thứ nhất phải có một nỗ lực vững chắc và bền bỉ để duy trì ổn định và thịnh vượng của khu vực. Dĩ nhiên, Phòng ngự Quần đảo sẽ chẳng đem lại một phương thuốc trị bá bệnh chống lại tất cả những hình thức gây hấn khác nhau của Trung Quốc hơn là ngăn chặn truyền thống của NATO đã giải quyết những vấn đề đặt ra bởi những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và sự tăng cường lực lượng hạt nhân của Moscow. Thế nhưng thiết lập một tư thế như vậy sẽ cho thấy một bước đi chính yếu—nếu không nói là hơi trễ—đầu tiên trong việc đối trọng những tham vọng xét lại của Trung Quốc.
    nguon

  6. haiz00 says:

    Tạp chí Diplomat phỏng vấn Joseph S. Nye : Hung đồ của Trung Quốc và chính sách tái quân bình của Mỹ tại châu Á.


    TS Đỗ Kim Thêm dịch, CTV Phía Trước
    Theo Tạp chí Diplomat

    Trong dịp thuyết giảng tại Đại học Oxford vào đầu tháng 6, Joseph S. Nye đã dành cho Samuel Ramani một cuộc phỏng vấn với toàn văn sau đây:

    Chính quyn Obama đã thc hin việc chuyển trục chiến lược về châu Á là mt yếu t chính trong chính sách đi ngoi. Tuy nhiên, vic chuyn giao rng lớn các ngun lc quân s ca M ti Thái Bình Dương đã bị chống trả bi viêc tập trung quân s nhanh chóng ca Trung Quc. Kể từ khi s hiện diện quân sự của Trung Quốc tăng lên với tốc độ nhanh hơn so với sự hiện diện của Mỹ, ông có nghĩ việc chuyển trục chiến lược về châu Á sẽ có hiệu quả trong việc cân bằng quyền bá chủ khu vực của Trung Quốc trong thời gian dài?

    Tôi nghĩ cụm từ tái quân bình, một thuật ngữ mà chính quyền Obama thích sử dụng hơn tạo được nhiều ý nghĩa. Chuyển trục sang châu Á đúng hơn là một chính sách quân sự. Châu Á, đặc biệt là Đông Á, là một nơi tăng trưởng nhất của nền kinh tế thế giới và tôi nghĩ chính quyền Obama cảm thấy chúng ta đã chưa quan tâm đúng mức đến khu vực này. Vì vậy, việc tái cân bằng là một nỗ lực để tập trung vào các khu vực năng động nhất của nền kinh tế toàn cầu. Nó có một thành tố quân sự, như khi cam kết của Hoa Kỳ để có 60 phần trăm của lực lượng hải quân ở Thái Bình Dương vào năm 2020. Nhưng điều quan trọng là để nhấn mạnh tác động của Đối tác Xuyên Thái Bình Dương và những nỗ lực ngoại giao trong khu vực. Đối với các thành tố quân sự, Hoa Kỳ có khả năng với 10 hàng không mẫu hạm đặc nhiệm để gia tăng lực lượng trong khu vực Thái Bình Dương, nếu cần thiết. Vì vậy, khả năng của Hoa Kỳ đã vượt qua những lực lượng được đồn trú ở đó vào bất kỳ thời gian quy định nào; khả năng huy động các lực lượng bổ sung một cách nhanh chóng là một lợi điểm quan trọng. Ngoài ra, Hoa Kỳ vẫn giữ 50.000 quân tại Nhật Bản và 20.000 quân khác tại Hàn Quốc; mà một phần được hỗ trợ bởi các điều kiện ngân sách của Nhật Bản và Hàn Quốc. Vì vậy, tôi nghĩ rằng tái cân bằng hướng tới châu Á có ý nghĩa và chúng ta nên theo đuổi với chiến lược này.

    Gần đây, s va chạm đã trở nên to tiếng hơn giữa các đồng minh truyền thống của Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương, Nhật Bản và Hàn Quốc, đặc biệt là trong các cuộc thăm dò công luận. Tại sao ông nghĩ rằng việc bất hoà này đã lan rộng? Và có phải vị thế của Abe tỏ ra hung hăng đối với Trung Quốc đang gây bất ổn cho khu vực không?

    Tôi không nghĩ là có những quan ngại nghiêm trọng bên trong Hoa Kỳ về những nỗ lực của Abe để cải thiện vị thế quốc phòng của Nhật Bản. Tôi nghĩ họ được hoan nghênh, nhưng tôi nghĩ Washington quan tâm về các mối quan hệ giữa Nhật Bản và Hàn Quốc. Lý do là có những nguy hiểm nghiêm trọng đến từ Bắc Hàn; và đối phó với mối đe dọa mà đòi hỏi phải có phối hợp chặt chẽ giữa Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Hoa Kỳ đã và đang làm việc trong bóng hậu trường và đôi khi công khai thuyết phục Nhật Bản và Hàn Quốc cải thiện sự hợp tác của họ, và thông qua các vấn đề lịch sử của họ, mà đó là một nguồn gốc chủ yếu của tình trạng căng thẳng. Điều đáng tiếc là có vài người trong giới hoạch định chính sách ở Nhật Bản và Hàn Quốc đang bị bám viú về những vấn đề trong những năm 1930, chứ không phải là suy nghĩ về những vấn đề của thế kỷ XXI.

    Tập Cận Bình đã lên giọng điệu cao hơn theo chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc, mà đôi khi được coi là mở đầu cho tinh thn hiếu chiến của Trung Quốc. Ông có nghĩ rằng tình trạng trì tr kinh tế ở Trung Quốc làm trầm trọng hơn cho chủ nghĩa dân tộc mới này không?

    Tập Cận Bình cần một lực để làm chính thống hóa cho quyền lực của mình và quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Tăng trưởng kinh tế trong lịch sử đã được xem là động cơ chính để chính thống hoá về quyền lực, đặc biệt là kể từ khi tầm quan trọng về ý thức hệ cộng sản đã suy giảm đáng kể. Từ khi kinh tế Trung Quốc sa sút, chủ nghĩa dân tộc tăng nhiều hơn, và tôi nghĩ chúng ta đang trải qua một giai đoạn của sự quan tâm cao độ về chủ nghĩa dân tộc. Tôi nghĩ chủ nghĩa dân tộc đã làm cho Trung Quốc giải quyết cuộc xung đột với các nước láng giềng ở Biển Đông khó khăn hơn. Vì vậy, đến nay không có dấu hiệu rõ rằng việc gia tăng chủ nghĩa dân tộc tại Trung Quốc sẽ dẫn đến xâm lược quân sự. Các cuộc họp cấp cao giữa Tập Cận Bình và Abe tại hội nghị thượng đĩnh APEC là một bước đi tích cực, khi Trung Quốc đã đề kháng với các cuộc họp này trong quá khứ. Nhưng tiềm năng để làm cho chủ nghĩa dân tộc sôi động là vấn đề mà chúng ta cần theo dõi chặt chẽ.

    Barack Obama đã cáo buộc Tập Cận Bình trong việc cá nhân hoá quyền lực đến một mức độ lớn hơn bất kỳ một nhà lãnh đạo nào khác của Trung Quốc kể từ Đặng Tiểu Bình. Cá nhân hóa quyền lực này đã trùng hợp với sự nhấn mạnh của Tập Cận Bình trong việc nghiêm trị tham nhũng trong nội bộ ĐCSTQ. Ông có nghĩ rằng các chiến dịch chống tham nhũng đã tăng cường cho triển vọng sống còn của chế độ và gây cho Trung Quốc nghiêng theo một chiều hướng thậm chí còn độc đoán hơn?

    Tôi nghĩ các chiến dịch chống tham nhũng là một thành tố không thể thiếu trong mục tiêu Tập Cận Bình để chính thống hoá cho đảng và gia tăng sức mạnh của đảng. Những người đầu tiên chạm phải chiến dịch chống tham nhũng là những đối thủ chính trị có tiềm năng, nhưng tôi nghĩ Tập Cận Bình thừa nhận sự bất mãn phổ biến đối với tham nhũng trong Đảng Cộng Sản. Sự đàn áp tự do chính trị, tự do ngôn luận, thảo luận học thuật, những gì có thể được in trên báo, cách thắt chặt sự kiểm duyệt Internet, và vân vân là vấn đề mà tôi lo lắng hơn là những chiến dịch chống tham nhũng. Tôi nghĩ các suy sụp trong những loại tự do dân sự liên quan chặt chẽ với những nỗ lực của ông ta để củng cố quyền lực, và chúng ta phải theo dõi nếu đây là một xu hướng ngày càng thắt chặt hơn theo thời gian, hoặc là một giai đoạn tạm thời.

    Ông có tin rng chế độ toàn trị gia tăng và phân hoá gia các tng lp lãnh đo phát sinh do các chiến dch chng tham nhũng có th gây ra mt tình trạng bất đồng gây gắt trong gii này Trung Quc mà làm cho quyn lc Tp Cn Bình giảm đi?

    Chuyện có thể hiểu được là có thể có chia rẽ trong nội bộ của giới thượng tầng, nhưng tôi nghĩ đây là một kết quả không có thể xãy ra. Tôi nghĩ các kịch bản có thể xảy ra nhất sẽ là nếu các máy bay và tàu chiến của Trung Quốc tham gia vào vụ xung đột với Nhật Bản ở quần đảo Điếu Ngư, và bị thua. Sức mạnh quân sự của Nhật có khả năng vượt trội trong các biến cố xung đột, và một thất bại ở đây sẽ là một mối đe dọa trực tiếp đến quyền lực của Tập Cận Bình.

    Gần đây, Trung Quốc đã kết ước quan hệ đối tác kinh tế chặt chẽ hơn với Nga. Ông có nghĩ rằng chiến lược tái cân bằng đối với Trung Quốc của Putin sẽ có hiệu lực trong thời gian dài hoặc lợi ích chiến lược của Trung Quốc ở Trung Á sẽ làm suy yếu triển vọng hợp tác Hoa-Nga?

    Tôi nghĩ mối quan hệ Hoa-Nga là một liên minh của sự thuận tiện chứ không phải là một liên minh thực sự. Nga-Hoa vẫn có những nghi ngờ tồn động lẫn nhau; và Trung Quốc nhận ra rằng một liên minh với Nga có thể thoả hiệp về mối quan hệ đối tác chiến lược có lợi hơn, giống như mối quan hệ của Trung Quốc với Hoa Kỳ. Các quyền lợi chính của Trung Quốc tại Nga và đặc biệt là tại Siberia là nguồn lực để duy trì tăng trưởng kinh tế cho Trung Quốc. Tăng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực dân cư thưa thớt tại Siberia chắc chắn gây ra sự lo lắng cho các nhà lãnh đạo Nga.

    Về mặt liên quan đến Trung Á thì Liên minh Kinh tế Á-Âu của Putin và chương trình Nhất Đái, Nhất Lộ của Trung Quốc có thể gây xung đột tại một số điểm. Để điều đó xảy ra, Liên minh Kinh tế Á-Âu sẽ phải mở rộng ảnh hưởng hiện tại. Có một khoản tiền nhất định dành cho cơ sở hạ tầng trong các chương trình của Trung Quốc sẽ kết nối Trung Quốc với Trung Á, với Nga và cuối cùng với châu Âu, nhưng tôi không nghĩ là hoàn cảnh hiện nay đưa đến một cuộc xung đột Nga Hoa.

    Trung Quốc đã tăng nhiều đầu tư kinh tế trong vùng Sub-Sahara của châu Phi. Ở vài nước châu Phi công luận đối với Trung Quốc tiếp tục thuận lợi, chứng minh có một sự gia tăng quyền lực mềm của Trung Quốc trong khu vực này. Ông có nghĩ rằng Trung Quốc đã nắm vai trò lãnh đạo không thể vượt qua mặt được trong việc khai thác tiềm năng dân số và kinh tế phát triển của châu Phi một cách nhanh chóng không? Hoa Kỳ có thể làm gì để phản công trước sức bật ngày càng tăng của Trung Quốc ở châu Phi?

    Tôi không nghĩ rằng có một cuộc xung đột về lợi ích giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về các nguồn lực kinh tế. Nhu cầu của Trung Quốc đã tạo ra một thị trường mới rộng lớn cho việc xuất khẩu sang châu Phi; nhưng triển vọng của Trung Quốc thống trị châu Phi là rất thấp. Châu Phi không muốn bị lệ thuộc vào quyền bá chủ của Trung Quốc nhiều hơn là họ muốn được châu Âu cai trị. Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng ở châu Phi như một kết quả của việc mua hàng của mình, nhưng nếu tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng với lao động Trung Quốc và các nhà quản lý Trung Quốc trong ngành công nghiệp khai thác như khai khoáng hầm mỏ, có thể là có một phản ứng dữ dội. Các cuộc biểu tình của các thợ mỏ người Zambia chống lại sự tham gia của Trung Quốc trong ngành công nghiệp đồng là một ví dụ điển hình cho triển vọng này.

    Trung Quốc đã tìm cách để cùng lúc tăng quyền lực cứng về kinh tế và quân sự và quyền lực mềm (thông qua các Viện Khổng Tử, Thế vận Hội, vv). Làm thế nào Trung Quốc thành công trong việc tăng quyền lực mềm và cân bằng quyền lực mềm với quyền lực cứng một cách có hiệu quả, đủ để có một quyền lực thông minh?

    Quyền lực mềm tại Trung Quốc chắc chắn tăng lên sau khi Thế vận Hội năm 2008 và sau triển lãm Thượng Hải, và sau đó Trung Quốc giam Lưu Hiểu Ba, và tạo một ghế trống tại lễ trao giải Nobel tại Oslo làm giảm đi quyền lực mềm của Trung Quốc. Cách đối xử của Trung Quốc với xã hội dân sự có xu hướng tác hại đến thành công của Trung Quốc đến sức mạnh mềm của Trung Quốc. Ngoài ra, hành vi không nhất quán của Trung Quốc đối với các tác nhân khác trong khu vực gây hại cho quyền lực mềm. Ví dụ, Trung Quốc đã gia tăng căng thẳng quân sự với Philippines đã phá tan thành quả quyền lực mềm do thành lập một Viện Khổng Tử ở đó. Cho đến nay, việc chuyển đổi của Trung Quốc từ quyền lực cứng và mềm qua dạng quyền lực thông minh đã ngăn chận một liên minh thù địch đang phát triển trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng Trung Quốc đã không được thành công như họ đã hy vọng.

    Cuối cùng, chiếu theo những lời lẽ thay đổi của chính quyền Obama về chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc, ông có tin rằng Mỹ nên đối xử với Trung Quốc như một đối tác chiến lược hay kẻ thù?

    Tôi nghĩ cho đến ngày nay chiến lược đề ra trong thời chính quyền Clinton vẫn là chiến lược đúng đắn. Chiến lược của Clinton tập trung vào việc hội nhập Trung Quốc vào trong một hệ thống kinh tế thế giới, chẳng hạn như việc gia nhập WTO. Kể từ đó, Trung Quốc đã cố gắng nâng cao vai trò của mình trong hệ thống tiền tệ quốc tế thông qua các dự án như Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB) mà không cần làm xáo trộn trật tự Bretton Woods hiện có. Đồng thời, chiến lược Clinton đã làm đảm bảo cho Trung Quốc không trở thành một kẻ hù doạ khi củng cố Hiệp ước An ninh Mỹ-Nhật. Chính sách này đã hoạt động dưới thời các chính quyền của Clinton, Bush 43 và Obama; và tôi nghĩ rằng chiến lược này là chính xác.
    _______

    Joseph Nye là một Giáo sư Thượng hạng Đại học Harvard. Ông cũng là cựu Khoa Trưởng của John F Kennedy School of Government tại Harvard, Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng cho chính quyền Clinton từ 1994-1995, và là thành viên của Hội đồng Chính sách Ngoại giao. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách, gần đây nhất là Is the American Century Over?

    Samuel Ramani là sinh viên ban Cao học Triết chuyên ngành nghiên cứu Nga và Đông Âu tại trường Cao đẳng St. Antony, Đại học Oxford. Ông cũng là một cộng tác viên thường xuyên cho Huffington Post Politics và World Post.

    Nguyên tác Interview: Joseph NyeAuthor and political scientist Joseph Nye on China and the U.S. rebalance to Asia.

  7. haiz00 says:

    Tương lai của hợp tác ba bên Mỹ-Nhật Bản-Việt Nam


    Phạm Nguyên Trường dịch
    Prashanth Parameswaran, Tạp chí Diplomat

    Ý tưởng đang ngày càng được nhiều người quan tâm

    Tuần trước, Trung tâm vì lợi ích dân tộc (Center for the National Interest), một think tank có trụ sở ở Washington – D.C., tung ra một báo cáo mới về triển vọng hợp tác ba bên giữa Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam.

    Báo cáo này là một trong những sáng kiến, gọi là “Track 2”, tìm cách khám phá cơ hội hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa ba nước trong vài năm qua. Thời gian gần đây, những cuộc đối thoại ba bên ngày càng trở thành thường xuyên hơn, vì Hoa Kỳ đang tìm nguồn bổ sung cho mạng lưới những liên minh và quan hệ đối tác với những mối liên kết mới, trong đó có liên minh Mỹ-Nhật Bản và các quốc gia khác.

    Tăng cường hợp tác ba bên Mỹ-Nhật Bản-Việt Nam là rõ ràng, và bản báo cáo có hẳn mấy chương để nói về vấn đề này. Về kinh tế, từ những năm 1990, Hoa Kỳ và Nhật Bản đã góp phần đáng kể vào sự tiến bộ của Việt Nam, và hiện đang có thêm cơ hội trong những lĩnh vực như năng lượng hạt nhân và phát triển tiểu vùng sông Mekong nói chung. Cả ba quốc gia đều là những nước tham gia đàm phán hiệp định TPP (Đối tác xuyên Thái Bình dương) mà người ta hy vọng là sẽ hoàn tất trong tương lai gần. Chương trình nghị sự gọi là “An ninh-khôn ngoan” (Security-wise) cũng có nhiều vấn đề vì Nhật Bản và Việt Nam đều quan tâm tới an ninh hàng hải (đặc biệt là khi đang có những tranh chấp ở biển Đông và Nam hải) cũng như hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ khi xảy ra thảm họa (HA/DR).

    Trong vài năm qua, động lực cho hợp tác ba bên cũng đã được củng cố vững chắc. Mỹ tái cân bằng sang châu Á, cuộc “tấn công quyến rũ” (charm offensive) của Nhật Bản trong khu vực Đông Nam Á, và việc Việt Nam tìm kiếm sự hợp tác chặt hơn nữa với các nước lớn đã tạo ra mức độ hội tụ, đủ sức làm cho những cạnh khác nhau của tam giác mạnh lên hơn nữa (xin đọc: “Japan’s ASEAN Charm Offensive). Tháng 3 vừa qua, Nhật Bản và Việt Nam đã nâng quan hệ đối tác chiến lược kéo dài 8 năm lên thành đối tác chiến lược toàn diện, trong khi Hoa Kỳ và Việt Nam vừa kí thỏa thuận quốc phòng mới, thỏa thuận này mà sẽ mở cánh cửa hợp tác trong việc mua bán thiết bị quân sự và sản xuất thiết bị quân sự (xin đọc: “US, Vietnam Deepen Defense Ties”. Liên minh Mỹ-Nhật từ lâu đã được coi là nền tảng của hòa bình và ổn định trong khu vực.

    Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế quan trọng đối với việc tăng cường quan hệ hợp tác ba bên Mỹ-Nhật Bản-Việt Nam. Về mặt cấu trúc, những cố gắng nhằm sử dụng liên minh Mỹ-Nhật Bản như là nền tảng cho quan hệ đa phương có những thách thức riêng của nó, đặc biệt là vì mức độ hợp tác giữa Washington và Tokyo thường lớn hơn hẳn mức độ hợp tác của từng nước với các đối tác khác và san bằng khoảng cách này không phải là công việc dễ dàng. Hợp tác ba bên với Việt Nam có thể còn có thêm thách thức, bởi vì khác Philippines hay Australia, Hà Nội không phải là đồng minh của Mỹ và nước này rất thận trọng trong việc điều chỉnh  quan hệ của họ với những nước lớn khác khác, trong đó có Hoa Kỳ và Trung Quốc.

    Cũng có thể những trở ngại cho việc hiện thực hóa chính sự hợp này lại trở thành động lực cho những thỏa thuận ba bên. Ở Việt Nam, như Masashi Nishihara ghi nhận trong bản báo cáo, trong thời gian gần đây, phát triển năng lượng hạt nhân đã bị chậm lại vì lý do an toàn và những vấn đề pháp lý. Ở Nhật Bản, không rõ là liệu việc những đạo luật mà Thủ tướng Shinzo Abe cần thông qua nhằm thúc đẩy vai trò của khu vực Tokyo có được cơ quan lập pháp ủng hộ hay không.

    Như người ta nói, không có lý do làm cho người ta không thể vượt qua được những thách thức này, đặc biệt là nếu những xu hướng hiện nay vẫn tiếp tục và cả ba quốc gia đều cam kết tiến hành những bước đi quan trọng nhằm thúc đẩy hợp tác. Ví dụ, trong chương nói về an ninh hàng hải, Hoàng Anh Tuấn và Nguyễn Vũ Tùng của Học viện Ngoại giao Việt Nam đề xuất một số sáng kiến ​​táo bạo mà ba nước có thể thực hiện, trong đó có đề nghị đối Hoa Kỳ và Nhật Bản xây dựng cơ chế đối thoại với các đối tác khác ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Cơ chế đối thoại này không chỉ là những cuộc thảo luận chính sách, mà còn phối hợp và chia sẻ thông tin.

    Một số biện pháp và cơ chế đang được đề nghị một cách công khai – trong đó có những cuộc tuần tra chung của Mỹ và Nhật Bản ở Biển Đông – cách đây vài năm là chuyện khó hiểu. (xin đọc: “US-Japan Joint Patrols in the South China Sea?”). Đây là bằng chứng chứng tỏ rằng tình hình an ninh ở châu Á đã thay đổi đến mức nào trong một thời gian ngắn đến như vậy. Điều đó cho thấy rằng không nên đánh giá thấp tiềm năng của các thỏa thuận mới, ví dụ như thỏa thuận ba bên Mỹ-Nhật Bản-Việt Nam, mặc dù hiện nay thỏa thuận như thế đang gặp nhiều thách thức.

    Prashanth Parameswaran là phó tổng biên tập The Diplomat, ở Washington, D.C.. Ông thường viết về Đông Nam Á, vấn đề an ninh ở châu Á và chính sách của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình dương.

    Trích từ blog Phạm Nguyên Trường

  8. haiz00 says:

    ASEAN cần đồng lòng về vấn đề Biển Đông

    Việt Khôi chuyển ngữ, CTV Phía Trước
    Vignesh Ram, Manipal University, EAF

    Tranh cãi về Biển Đông đã trở thành một chủ đề thường xuyên được đề cập trong các buổi họp của ASEAN. Nó thực sự đã trở thành một trong những tranh chấp chủ quyền quan trọng nhất tại châu Á và có thể kết quả của vụ việc sẽ định hình hệ thống sức mạnh tại châu lục này. Với mức độ quan trọng như vậy, ASEAN cần phải đồng lòng về vấn đề Biển Đông.

    Asean-5Tuyên bố chung về Biển Đông (DoC) được đưa ra giữa các thành viên của ASEAN và Trung Quốc vừa mới được ký tại Phnom Penh trong năm 2002, trước khi ASEAN tranh cải về vấn đề này ở cùng một nơi cách một thập kỷ trước. Một số thay đổi trong môi trường an ninh đã đóng góp cho thay đổi này. Trung Quốc đã trở nên mạnh mẽ hơn và cứng rắn hơn trong khu vực. Những ràng buộc chặt chẽ hơn đối với một số quốc gia cũng như ảnh hưởng tới từ đầu tư của Trung Quốc vào khu vực đã cho phép nước này bành trướng và làm lộ rõ bức tranh mô tả cuộc ganh đua Hoa Kỳ-Trung Quốc tại châu Á-Thái Bình Dương.

    Với số lượng các quốc gia có liên quan tới tranh chấp hiện nay, bản tuyên bố chung không thể phù hợp được nữa trừ khi các quốc gia này phải đạt được một thỏa thuận Quy tắc Ứng xử [Code of Conduct]. Vậy, làm cách nào để khống chế được một cuộc xung đột?

    Một đề xuất đã được thực hiện nhằm tiến tới thỏa thuận quy tắc ứng xử. Nhưng Trung Quốc không muốn cam kết vào bất cứ một thỏa thuận nào cho tới khi họ đã an vị ở một vị thế quyền lực hơn trong khu vực tranh chấp. Sức mạnh của Trung Quốc hiện nay đã vượt xa hơn bất kỳ một quốc gia nào liên quan tới khu vực tranh chấp. Và Trung Quốc đang ở trong quá trình xây dựng các cơ sở truy cập cho máy bay quân sự nhằm đối phó với bất kỳ mối nguy hiểm nào trong tương lai, nếu như các nước trong khu vực có tranh chấp với Trung Quốc nhận được sự trợ giúp từ các nước bạn hoặc đồng minh.

    Cho tới khi Trung Quốc đạt được lợi thế lớn hơn, nước này sẽ đẩy các cuộc đám phán xung quanh vấn đề tranh chấp ở mức độ song phương với từng quốc gia trong khối ASEAN, chứ không đàm phán cùng với toàn bộ khối. Nhưng việc Trung Quốc cho rẳng không cần thiết phải đàm phán với ASEAN có lẽ không đúng với nguyên tắc, bởi vì Bản Ghi nhớ trong năm 2002 là giữa các quốc gia ASEAN với chính phủ Trung Quốc. Do vậy, sẽ là lẽ tự nhiên nếu đàm phán được thực hiện giữa ASEAN và Trung Quốc.

    Thời khắc đã tới đối với ASEAN để tìm ra một phương án giải quyết thay thế cho tình trạng hiện nay. Có ba phương hướng khác nhau hiện nay được các quốc gia sử dụng để kéo vấn đề đi theo các chiều khác nhau và vượt ra khỏi tầm với của ASEAN.

    Một hướng là dựa vào tòa án quốc tế. Đây là cách được Phillipines sử dụng. Trung Quốc đã từ chối hoàn toàn việc tham gia vào tòa án quốc tế. Tuy nhiên, theo như Công ước Quốc tế về Luật biển, phiên tòa vẫn tiếp diễn và kết quả có thể đứng về phía Philippines. Người ta hi vọng rằng kết quả này có thể làm giảm khả năng của Trung Quốc trong việc đẩy mạnh luận điệu của họ trên các diễn đàn quốc tế. Và điều này sẽ dẫn tới việc đặt dấu chấm hỏi về tính hợp pháp của “đường chín đoạn”, một căn cứ cơ bản cho luận điệu chủ quyền của Trung Quốc.

    Hướng thứ hai được sử dụng bởi Trung Quốc, đó là bác bỏ tin thần của Quy tắc Ứng xử. Trung Quốc đã luồn lách và phá hủy DoC bằng các hoạt động xây dựng và sử dụng các tàu tuần dương cũng như súng xả nước. Điều này đã làm lộ rõ sự bất khả thi cho một cấp độ đàm bán nhỏ hơn và đồng thời làm thay đổi hoàn toàn chiều diễn biến, một chiều có lợi cho Trung Quốc rất nhiều.

    Hướng thứ ba chính là cách tiếp cận mang tính khu vực. Động lực này đang bị mất đi khi một số các quốc gia tranh chấp như Việt Nam lại đang đi tìm hỗ trỡ ở các quốc gia ngoài khu vực.

    Tất cả điều này dẫn ASEAN, với tư cách là một tổ chức, tới nơi đâu?

    Thời hạn cho cộng đồng ASEAN sẽ kết thúc vào cuối năm 2015, ASEAN sẽ có khả năng phải đối mặt với những chỉ trích từ cộng đồng quốc tế vì tính thiếu quyết đoát về vấn đề Biển Đông. “Cộng đồng An ninh Chính trị – Politico Security Community”, một trong những cột trụ chính cho quá trình xây dựng cộng đồng ASEAN, sẽ bị ảnh hưởng bởi các căng thẳng hiện tại trên Biển Đông. Một trong những mục tiêu chính của Cộng đồng An ninh Chính trị ASEAN là tạo ra tầm nhìn chung cho các vấn đề an ninh khu vực. Điều này sẽ bị thất bại nếu ASEAN không thể đồng ý về một hướng tiếp cận mang tính khu vực đối với những vấn đề này.

    Một thỏa thuận hành động không phải là cách tiến lên cho ASEAN. ASEAN cần theo đuổi một phương hướng tổng thể hơn và cần đồng lòng về vấn đề tranh chấp. Thời gian giờ đây có thể trở nên quá ít ỏi cho một phương hướng tiếp cận mới. Một Trung Quốc ì ạch, một hiệp ước phòng thủ mới giữa đồng minh Hoa Kỳ–Nhật Bản, triển khai quân sự Hoa Kỳ tại Đông Nam Á cũng như mối quan tâm của Hoa Kỳ đối với Ấn Độ là những tín hiệu đầy đủ cho ASEAN biết rằng sức mạnh vẫn có thể đứng về phía họ nếu họ thực sự tìm kiếm một giải pháp đích thực.

    Chủ tịch ASEAN hiện tại, Malaysia, đã ra tín hiệu rằng năm 2015 mới chỉ làm cho bánh xe của việc xây dựng lên một cộng đồng ASEAN bắt đầu lăn bánh. Các nước chủ tịch tương lai của ASEAN sẽ cần thể hiện cam kết lớn hơn đối với việc tìm ra một thỏa thuận có lợi về vấn đề này. Nhưng nếu ASEAN không thể sớm loại bỏ Trung Quốc khỏi ảnh hưởng ngày càng quyết liệt và mạnh mẽ hơn, họ có thể trở nên quá yếu để hành động một cách quyết đoán về vấn đề tranh chấp trên Biển Đông.

    Một hiểu biết mới về thỏa thuận tham gia với Trung Quốc có thể là một màn khởi đầu tốt đẹp. Việc xây dựng một sự đồng thuận mới và tái đàm phán các điều khoản mơ hồ sẽ tạm thời giúp tình hình ổn định hơn đối với khu vực này. Ví dụ, điều 6 (a), bàn về nghiên cứu hàng hải, đã được sử dụng cho nhiều hoạt động khác nhau nhằm khai thác tài nguyên và leo thang căng thẳng trong khu vực. Nhưng các điều khoản như vậy chỉ ra rõ ràng những gì thuộc trong phạm vi đối với các biện pháp đó. Tương tự, những sửa đổi mới hiện rất cần thiết để có tất cảc các bên hiểu rõ hơn về cách tiếp cập không hạn chế vào không phận (trong trường hợp này để tránh ‘Identification Air Defence Zone’ một cách đơn phương mà Trung Quốc đã làm) như ở Biển Hoa Đông. Một khối ASEAN không đồng lòng sẽ phá vỡ khả năng để mặc cả với Trung Quốc trong tương lai.ASEAN hiện đã bị chia rẽ bởi cạnh tranh thương mại và các thỏa thuận an ninh giữa Hòa Kỳ với Trung Quốc. Biển Đông đang dậy sóng từ từ nhưng từng ngày phá hủy tính trọng tâm của ASEAN trong địa chính trị của khu vực. Tiếng vang của ASEAN từ việc thành công của chủ nghĩa khu vực tại châu Á đang bị đe dọa. Trừ khi ASEAN đưa ra được những quyết định toàn thể quyết đoán hơn về tranh chấp Biển Đông, họ có thể khiến cho khái niệm “cộng đồng” mà ASEAN đang tìm kiếm bị lung lay.

    Vignesh Ram là tiến sĩ Khoa Địa chính trị và Quan hệ Quốc tế tại đại học Manipal, Ấn Độ.

    © 2007-2015 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – http://www.phiatruoc.info

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s