Ba đặc khu kinh tế đã bị “Sang Nhượng” từ 2016

Đây là tin chính xác chứ không phải tin giả. Đúng như bà Nguyễn Thị Kim Ngân nói “Bộ Chính trị đã kết luận rồi”, ba đặc khu kinh tế đã bị “sang nhượng” hai năm trước, việc đưa ra “quốc hội” chỉ là thủ tục.
Dưới đây là toàn văn của bản tin Tân Hoa Xã:
12 TỈ MỸ KIM ĐƯỢC CẦN ĐỂ XÂY DỰNG ĐẶC KHU KINH TẾ PHÍA BẮC VIỆT NAM
Nguồn: Tân Hoa Xã lúc 11:40:56 ngày 9 tháng 12, 2016
Cho tới năm 2030, 12 tỉ Mỹ kim được cần để xây dựng đặc khu kinh tế Vân Đồn ở tỉnh Quảng Ninh, phía bắc Việt Nam, báo chí địa phương đã loan hôm thứ sáu.
Cho đến nay, Quảng Ninh đã vận động được 40,000 tỉ đồng Việt Nam (gần 1.8 tỉ Mỹ kim) để đầu tư vào khu vực, phần chính dành cho sự phát triển các cơ sở hạ tầng, nhật báo Tuổi Trẻ trích dẫn lời tuyên bố của Nguyễn Mạnh Tuấn, trưởng ban quản lý đặc khu Vân Đồn phát biểu như vậy.
Một phi trường quốc tế được đặt tên Vân Đồn, cách Hạ Long khoảng 50km, nơi được gọi là di sản quốc tế, đang được xây dựng với kinh phí 7000 tỉ đồng Việt Nam (gần 314 triệu Mỹ kim), và được đưa vào hoạt động trong năm 2018.
Một khu đa dụng, bao gồm một sòng bạc và các đường phố trong đặc khu cũng đang được xây dựng.
Tỉnh Quảng Ninh đang lên kế hoạch xây một xa lộ nối kết giữa Vân Đồn với Hạ Long và thành phố Mống Cái, và với cảng Hải Phòng gần đó.
Giới cầm quyền Việt Nam vừa đồng ý trong nguyên tắc rằng ba đặc khu kinh tế sẽ được thiết lập trên phạm vi cả nước, bao gồm Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh ở phía bắc, Vân Phong thuộc tỉnh Khánh Hòa ở miền Trung, và Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang phía nam.
Biên tập: Lu Hui
_____________________
12 bln USD needed to build special economic zone in northern Vietnam
HANOI, Dec. 9 (Xinhua) — Up to 12 billion U.S. dollars is needed to build Van Don special economic zone in Vietnam’s northern Quang Ninh province by 2030, local media reported Friday.
Quang Ninh has so far mobilized 40 trillion Vietnamese dong (nearly 1.8 billion U.S. dollars) to invest in the zone, mainly for infrastructure development, daily newspaper Tuoi Tre (Youth) quoted Nguyen Manh Tuan, head of the Quang Ninh Economic Zone Management Board, as saying.
An international airport named Van Don in Van Don district, some 50km from Ha Long City, home to the world heritage site of Ha Long Bay, is under construction with investment of 7 trillion Vietnamese dong (nearly 314 million U.S. dollars), and is scheduled to become operational in 2018.
A complex, including a casino, and road routes in the special economic zone are also under construction.
Quang Ninh is planning to build expressways linking Ha Long with Van Don District and Mong Cai City in the province, and with the neighboring port city of Hai Phong.
The Vietnamese government has just agreed in principle that three special economic zones will be built nationwide, including Van Don in northern Quang Ninh province, Van Phong in central Khanh Hoa province, and Phu Quoc in southern Kien Giang province.

_______________________________

Tìm hiểu 3 Đặc khu kinh tế

-1) Vân Đồn là một huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh. Là một quần đảo gồm 600 đảo lớn nhỏ trong đó 20 đảo có người ở. Diện tích 551km2. Dân số 41,000 người. Từ đất liền đến huyện đảo qua 3 cây cầu, đường dài 40km. Dân số sống về nghề cá và “nuôi trồng” thủy sản. Lao động chân tay.

-2) Bắc Vân Phong là khu vực có địa thế “núi thò chân ra biển”, tức là một bên là núi, một bên là biển. Quốc lộ 1A là tuyến đường duy nhất nối liền giao thông Bắc – Nam chạy qua đây. Vì thế, khi hữu sự, chỉ cần một lực lượng tại chỗ vừa phải, là đủ sức khiến giao thông Bắc – Nam bị cắt đứt.
Từ Bắc Vân Phong chạy theo quốc lộ 26 chỉ chừng 130km là đã tới Tây Nguyên, nóc nhà của Đông Dương. Tại đây, một loạt “quả bom bùn đỏ” của hai dự án khai thác Bauxite ở Nhân Cơ (Đak Nông) và Tân Rai (Lâm Đồng) đều do nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu đang sẵn sàng chờ Bắc Kinh phát lịnh kích hoạt. Cả vùng Đông Nam Bộ có thể bị nhấn chìm trong biển bùn đỏ.
Vịnh Vân Phong là vùng biển có độ sâu trung bình từ 20-27m, đủ sức đón mọi loại tàu bè lớn nhỏ. Đặc biệt, nhờ sự che chắn của các đảo và bán đảo, nên đây là một vịnh kín gió, có giá trị như một Cam Ranh thứ hai. Diện tích mặt biển vịnh Vân Phong thậm chí còn lớn gấp 3 lần vịnh Cam Ranh.
Khi hữu sự, đội quân nằm vùng tại Bắc Vân Phong sẽ kết hợp với lực lượng từ ngoài biển hình lưỡi bò, ồ ạt đánh vào.
Việt Nam sẽ bị chia cắt và mất kiểm soát từ Tây Nguyên xuống Vân Phong.
Kiểm soát được vịnh Vân Phong, Trung Quốc có thể uy hiếp được tàu bè ra vào vịnh Cam Ranh, đồng thời đe dọa và vô hiệu hoá các cơ sở quân sự của Việt Nam tại Cam Ranh.
-3) Phú Quốc cách bờ biển Kiên Giang 46km và cách bờ biển Campuchia 26km.
Từ năm 2016, Phnom Penh đã cho Trung Quốc thuê 20% chiều dài bờ biển (90km) trong 99 năm để xây dựng căn cứ quân sự.
Theo ông Geoff Wade, một chuyên gia về châu Á từ Đại học Quốc gia Australia, thì cảng nước sâu mà Bắc Kinh đang xây dựng tại Campuchia có thể chứa hầu hết các tàu khu trục và chiến hạm khác của hải quân Trung Quốc.

____________________________________________

Vì sao các Đặc Khu Kinh Tế TQ nguy hiểm hơn nhượng địa thời thực dân

Từ hải ngoại, khi hướng về tình hình chính trị Việt Nam, chúng ta vô cùng bực bội vì phải thường xuyên chứng kiến cảnh đạo đức giả và khinh thường nhân dân của các lãnh đạo CSVN.
Đã độc tài đảng trị không đối lập mà cứ giả vờ như dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên, cẩn thận cân nhắc từng lá phiếu cử tri còn hơn các nước Tây Phương, mặt dày mày dạn giả vờ tiếp xúc cử tri lấy ý kiến từng người.
Bán nước trắng trợn mà phát ngôn điêu ngoa lừa lọc, tưởng rằng toàn dân là phường đui mù câm điếc vô ý thức.
Một trong những ví dụ điển hình nhất là trường hợp truyền thông Việt Nam đã dẫn lời TBT Nguyễn Phú Trọng tại buổi tiếp xúc cử tri quận Thanh Xuân và Hà Đông, Hà Nội hôm 17/6 như sau:
“Lợi dụng quy định cho thuê đất 99 năm trong Luật Đặc khu để nói Trung Quốc vào 99 năm là mất nước, kích động đi biểu tình để bày tỏ lòng yêu nước, dẫn đến làm việc chống đối, phá hoại. Bản chất sâu xa là xuyên tạc sự thật, kích động lòng yêu nước chân chính của người dân để âm mưu việc khác, có bàn tay phần tử phá hoại, không loại trừ yếu tố nước ngoài.”
TBT Nguyễn Phú Trọng lại nói thêm:
“Tất cả đều vì nước, vì dân thôi chứ không có mục đích nào khác, không ai dại dột, ngây thơ giao đất cho nước ngoài để người ta vào đây.”
Đó toàn là ngoa ngôn xảo ngữ trong kho ngữ vựng bình thường của Ông Trọng.
Tuy nhiên, nguy hiểm hơn là hành động của đảng CSVN chứng tỏ họ đang âm mưu với nước ngoài là TQ và bàn giao đất cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
Thật vậy, trong khi TQ chiếm đóng Hoàng Sa bằng vũ lực, xâm chiếm một phần Trường Sa, tàn sát không thương tiếc 64 chiến sĩ Việt Nam bảo vệ Trường Sa, ép buộc Việt Nam nhượng các mỏ dầu hỏa trong lãnh hải của mình cho TQ, tập trận bằng hỏa lực thật ngoài khơi Biển Đông thị uy với quốc tế và thách thức chủ quyền Việt Nam, thì Bộ Chính Trị đảng CSVN ra lệnh cho Quốc Hội bù nhìn thông qua Luật An Ninh Mạng để trao không gian ảo cho Trung Quốc kiểm soát, và tuy lùi lại ngày biểu quyết dự Luật Đặc Khu Kinh tế, nhưng vẫn chuẩn bị thông qua tháng 10 này, hầu trao 3 đảo chiến lược là Vân Đồng (Quảng Ninh) miền Bắc, Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) miền Trung và Phú Quốc (Kiên Giang) miền Nam cho TQ thuê lên đến 99 năm.
Nếu đây không phải là hành động ngang nhiên bán nước cho TQ của Bộ Chính Trị, trực tiếp vi phạm điều 108 Bộ Luật Hình Sự về tội phản bội tổ quốc, thì phải gọi là gì nữa?
Trong thế giới đương đại, trên phương diện quốc phòng, chưa xuất hiện một cá nhân hay tập thể lãnh đạo nào lạ lùng và hoang tưởng bằng TBT Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính Trị của đảng CSVN.
Đối với họ, sự kiện TQ chiếm đóng Hoàng Sa và Trường Sa, gài đặt giàn hỏa tiễn uy hiếp lục địa Việt Nam, truy sát ngư dân Việt Nam trên lãnh hải truyền thống dân Việt còn chưa đủ.
Hoàng Sa và Trường Sa theo họ còn quá xa VN. Họ muốn dâng cho đàn anh Tập Cận Bình yêu dấu những hòn đảo gần Việt Nam hơn và lớn hơn như đảo Vân Đồn (diện tích huyện 551Km2), Bắc Vân Phong (huyện Vạn Ninh 550Km2), và Phú Quốc (589 Km2) ngay sát bờ biển để gần gũi hơn.
Một đặc khu cho ngoại quốc thuê, có nguy hiểm cho quốc gia chủ đất hay không tùy thuộc vào các điều kiện sau đây:
1. Tương quan sức mạnh quân sự giữa quốc gia chủ đất và thuê đất
2. Tương quan sức mạnh kinh tế giữa quốc gia chủ đất và thuê đất
3. Khoảng cách địa lý giữa 2 quốc gia
4. Sức mạnh của chính kiều dân trong khu tự trị
Trong trường hợp Việt Nam cho TQ thuê đất tại Phú Quốc, Bắc Vân Phong và Vân Đồn thì 3 yếu tố đầu tiên rõ ràng bất lợi cho Việt Nam vì tương quan sức mạnh quân sự và kinh tế giữa TQ và VN quá thiên về TQ. Thêm vào đó 2 nước hầu như tiếp cận lãnh thổ lẫn lãnh hải.
Một trong những biện minh thuyết phục nhất trong bang giao quốc tế hầu một quốc gia mạnh có thể xâm chiếm một quốc gia yếu hơn, là để bảo vệ quyền lợi kinh tế chính đáng của mình.
Một khi TQ đã đầu tư nhiều tỷ Đô La vào các đặc khu kinh tế nêu trên thì trong trường hợp xung đột giữa 2 quốc gia, họ có thể danh chánh ngôn thuận chiếm đóng làm thuộc địa.
Yếu tố thứ 4- sức mạnh của chính kiều dân trong khu tự trị- tuy không hiện hữu trong hiện tại, nhưng nếu chờ nhiều thập niên trong tương lai, với sự thần phục TQ hầu như tuyệt đối của CSVN, và nếu kiều dân TQ lên đến hằng triệu người, thì không những sẽ trở thành những quận huyện của TQ ngay trong lòng dân tộc VN, mà có thể hoàn toàn tự trị hoặc độc lập như đảo quốc Singapore nữa.
Nên nhớ Singapore (720 Km2) diện tích không lớn hơn bao nhiêu so với các khu kinh tế tự trị CSVN đề nghị. Nếu không đề phòng, số kiều dân TQ lên đến hằng triệu người, thì TQ có thể chiếm đóng bằng vũ lực như Nga Sô chiếm Crimea của Ukraine vậy.
Năm 1974, Hoàng Sa có hải quân VNCH bảo vệ mà TQ vẫn dùng hải quân áp đảo, chiếm đóng bằng vũ lực. Trường Sa có sự bảo vệ của hải quân CSVN, mà TQ vẫn ngang nhiên chiếm đoạt. Không những như thế, mặc dầu Bộ Chính Trị đảng CSVN, qua Lê Đức Anh, đã ra lệnh các quân nhân CSVN buông súng đầu hàng trên đảo Gạc Ma, nhưng hải quân TQ vẫn tàn sát không thương tiếc 64 chiến sĩ tay không này.
Thử hỏi một khi TQ đã có giao kèo chính thức, hợp pháp, thuê đất tại các đặc khu 40, 70 hay 99 năm và đầu tư nhiều tỷ đô la vào các đảo này, thì sẽ đễ dàng buông bỏ hay không?
TBT Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính Trị VN hoặc vì quá yêu đô la hay quá yêu TQ nên trí óc mù mờ và không nhìn thấy viễn cảnh này và đã phạm tội phản quốc.
Trường hợp Phú Quốc là nguy cập nhất. Một khi có xung đột xảy ra giữa 2 quốc gia, thì hạm đội TQ sẽ án ngữ tại eo biển Kiên Giang, trong khi đó Baidu, Weibo và những công ty internet TQ sẽ khống chế, làm tê liệt giao lưu trên không gian mạng. Lúc đó Phú Quốc với sự nội ứng của các kiều dân TQ, sẽ trở thành một quân huyện của TQ hay một tiểu TQ độc lập như Singapore.
Chính vì thế, chúng ta có thể kết luận không sai lầm rằng bất cứ đặc khu nào nhượng cho TQ đều nguy hiểm hơn những nhượng địa cho các cường quốc thực dân của thế kỷ 19 xa xưa.
Đã đến lúc, cuộc đấu tranh của toàn dân Việt, trong và ngoài nước phải dương cao 2 khẩu hiệu:
Một là “Cương quyết không chấp nhận TQ xâm nhập không gian mạng VN dù chỉ là một giây”.
Hai là “Cương quyết không chấp nhận TQ thuê đặc khu kinh tế VN dù chỉ là một giây”.
Một trong những lý do TBT Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN cả gan công khai bán nước như thế là vì, trong cơn say quyền lợi và quyền lực, họ đã quên một sự thật quan trọng. Đó là qua nhiều thiên niên kỷ chống giặc phương Bắc bảo vệ nền độc lập, yếu tính chống Trung Quốc đã nằm trong DNA của từng con dân nước Việt.
TBT Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí thân cận của ông hình như là ngoại lệ. Họ yêu trà Trung Quốc hơn trà Việt Nam và quê hương chân chánh của họ nằm bên kia Ải Nam Quan, về hướng Bắc.
Trong tâm thức sâu thẳm của họ, họ đã ý thức rằng:
Sau khi tiến trình dân chủ hóa hoàn tất tại Việt Nam và họ không còn đất dung thân, thì Trung Quốc sẽ là nơi họ an hưởng tuổi già. Họ phải ra sức tài bồi cho tổ quốc Trung Hoa thật sự của họ, bằng từng phần của thân thể mẹ Việt Nam.
23.06.2018
Luật Sư Đào Tăng Dực

____________________________________________________

Nói Tiếp Về Các Đặc Khu Kinh Tế Việt Nam Mà Người Ta Cần Chú Ý

Betsy Graseck (Phương Thơ), là một phân tích gia tại Morgan Stanley.
Nếu quan chức Việt Nam muốn biết được đáp số về đặc khu kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc thì sang Anh Quốc mà tham khảo cố vấn của họ, vì Anh Quốc là người quản lý mô hình kinh tế rực rỡ của Hồng Kông hơn 1,5 thế kỷ cho tới khi UK trao trả lại Hồng Kông cho Trung Quốc năm 1997. Khi đó dù Trung Quốc đã thí điểm mô hình đặc khu kinh tế Thượng Hải, Thẩm Quyến, nhưng thực chất nó chỉ thành công kể từ khi Trung Quốc bắt chước mô hình kinh tế của Hồng Kông dạy lại (tức là các chuyên gia điều tiết kinh tế và các giáo sư đại học Hồng Kông dạy dỗ cho người Trung Quốc cải sửa lại mô hình đặc khu kinh tế).

Chuyện nữa là tôi để lại món bảo bối về phát triển mô hình kinh tế đặc khu thì có lẽ quan chức Việt Nam nên đọc lại các bài viết thất lạc của giáo sư Kinh Tế Học người Mỹ Milton Friedman, ông là giáo sư kinh tế học lỗi lạc thiên tài nhất của nước Mỹ, và đã từng giảng dạy kinh tế học tại các trường đại học hàng đầu nổi tiếng nhất của nước Anh và nước Mỹ, ông cũng đoạt Giải Thưởng Nobel về Khoa Học Kinh Tế (năm 1976), và nhiều huy chương đeo nặng trĩu. Rất tiếc là ông đã qua đời năm 2006.
Bởi lẽ Milton Friedman từng nói: “If you want to see capitalism in action, go to Hong Kong — Nếu bạn muốn xem chủ nghĩa tư bản đang hoạt động, hãy đến Hồng Kông”. Ông viết nó vào năm 1990 với lý luận rằng nền kinh tế Hồng Kông có lẽ là ví dụ tốt nhất biểu tượng về nền kinh tế thị trường tự do tư bản. http://asderathoslchaimclassicalliberalism.blogspot.com/2010/03/milton-freidman.html
Tuy nhiên nó mâu thuẫn là trong hành động mới đây, chính quyền VN ra luật an ninh mạng, vi phạm nhiều điều cản trở cho sự phát triển kinh tế, nhất là mâu thuẫn với kinh tế tự do tư bản, mà tôi còn mỉa mai là hậu quả nó còn đánh sụt vài điểm phần trăm tăng trưởng kinh tế của VN, không hiểu ai là người đứng sau thiết kế “luật an ninh mạng” đó nhỉ, vì nó mâu thuẫn khi ký cam kết với quốc tế khi Việt Nam gia nhập các hiệp thương mại định kinh tế, kể cả WTO, mà cho dù cái luật an ninh mạng đó có thi hành đi nữa và các đặc khu kinh tế Việt Nam lập ra và thông qua đi nữa sẽ khó mà thu hút đầu tư từ các công ty công nghệ Mỹ tới VN, kể cả các công ty Âu Châu, vì luật pháp của mỗi tiểu bang hay cả liên bang Mỹ cấm tất cả các công ty Mỹ khi tham gia thương mại đầu tư tới các nước đó có quá nhiều vi phạm quyền tự do thông tin, vì cả người nước ngoài cũng bị hạn chế nếu Google họ chặn tra tìm ở Việt Nam thì chắc chắn chẳng có ai là chuyên gia hay nhà đầu tư nước ngoài như Mỹ và Tây Phương tới các đặc khu kinh tế Việt Nam đầu tư cả, kể cả các vùng khác của Việt Nam.
Hãy nhớ rằng Trung Quốc họ khác Việt Nam là họ đã xây dựng cái mạng nội địa WeChat và Baidu Tieba để phục vụ cho số dân 1,4 tỷ người của họ, trong khi Việt Nam chưa có bất cứ nền móng nào về công cụ tìm kiếm thay thế Google, Facebook,… mà ngày nay ngay cả Ấn Độ, Hồng Kông, hay các cường quốc kinh tế và công nghiệp khác vẫn phụ thuộc vào Google, Facebook. Và nó còn mâu thuẫn hơn khi Việt Nam vẽ ra sự đeo đuổi công nghệ Blockchain, rồi mơ làm thung lũng điện tử Silicon thì quả là hài kịch mà tôi ví von “nền kinh tế có cái đuôi đi trước cái đầu”. Có lẽ ở Việt Nam hiện nay muốn kinh tế phát triển thì người ta cần đuổi hết những thành phần bảo thủ giáo điều này ra khỏi chức quyền làm kinh tế, vì họ kém tài lười suy nghĩ, thiếu trí tuệ nên muốn kéo cả quốc gia trì trệ theo họ, đó là điều cần chấm dứt, vì không ai để những kẻ đó bám quyền thêm 1 hay 2 nhiệm kỳ nữa thì mất cả 1 thập kỷ trì trệ…
_______________________________________________

Cái Chết Của Nông Sản Việt Và Vấn Đề Ẩn Giấu

Gần 100 triệu dân, sức ăn lớn khủng khiếp. Lương thực trồng ra không thể thừa được. Nhưng từ Tết đến nay nông dân đã phải đem rau đi đổ. Giá rau thấp đến độ không đủ chi phí thu hoạch nên nhổ bỏ. Với cái giá nông sản của Trung Quốc buộc nông dân Việt Nam phải đem đổ bỏ sản phẩm mình trồng ra thì nông sản Trung Quốc sao có lời?
Hạch toán kỹ, gồm chi phí giống, thuốc, phân, công chăm sóc và thu hoạch, chi phí vận chuyển hàng ngàn dặm qua đến Việt Nam mà vẫn còn rẻ đến mức buộc nông sản Việt Nam phải đổ bỏ, thì đó là một câu hỏi to tướng. Có vấn đề mờ ám trong điều hành kinh tế vĩ mô ở đây.
Chắc chắn phải có 2 điều kiện, kẻ dã tâm và kẻ tiếp tay. Hãy xét thử xem? GDP của Trung Quốc năm 2017 là 12.400 tỷ USD, GDP của Việt Nam là 215 tỷ USD.
Tính ra quy mô kinh tế Trung Quốc gấp 58 lần Việt Nam.
Điều đó nói lên đặc điểm gì? Nghĩa là Trung Quốc chỉ cần bỏ ra một lượng tiền nho nhỏ trong ngân sách để thực hiện 1 chương trình tài trợ giá cho nông nghiệp, để làm cho giá nông sản của họ có thể bán 0 đồng thì cũng chẳng thiệt hại cho ngân sách là bao, vì kích thước nền kinh tế họ quá lớn so với Việt Nam. Tài trợ giá nông sản để đánh chết một nền nông nghiệp mà họ cần phải tiêu diệt, thì họ tiếc chi?
Để giải thích cho vấn đề này tôi xin đưa ra một nghi ngờ thế này. Nông sản do nông dân Trung Quốc làm ra, chính quyền Trung Quốc thông qua các đại lý của mình bao tiêu toàn bộ sản phẩm, nông dân Trung Quốc không chịu thiệt về giá. Số nầy sẽ được bơm thuốc bảo quản để giữ tươi hoặc để đầu độc người tiêu dùng, sau đó cho vận chuyển ngàn dặm sang Việt Nam bán với giá rẻ “bèo”, rẻ đến mức thấp hơn cả công thu hoạch nông sản Việt Nam.
Thực ra hàng hóa này là loại chứa đầy độc tố như táo phù thủy trong truyện Bạch Tuyết mà thôi, mục đích không phải kiếm lời. Hàng nông sản nầy qua đến Việt Nam như là hàng cho không. Vì chính quyền Trung Quốc không muốn kiếm lời trên việc nầy, mà họ vì mục đích hoàn toàn khác. Đó là đánh chết nông nghiệp Việt Nam và đầu độc dân Việt Nam. Cho nên hàng này bán giá thấp bao nhiêu cũng bán, miễn sao đưa cho được thứ nông sản nầy vào miệng dân Việt.
Đó là hành động dã tâm. Tiếp theo phải có hành động tiếp tay mới trót lọt. Nếu hàng Trung Quốc bên kia biên giới có giá 0 đồng thì qua Việt Nam cũng không thể rẻ được nếu nhà nước dựng hàng rào thế quan để chặn nó lại.
Nếu đánh thuế nông sản Tầu thì khi qua Việt Nam, nông sản này chịu 2 tầng giá, đó là giá đánh thuế và giá vận chuyển trên đất nước Việt Nam. Với 2 tầng giá này, thì tôi tin nông sản Tầu không thể đánh chết nông sản Việt được. Nhưng nhà nước Việt Nam xóa thuế nhập khẩu cho nông sản Tầu để tiếp tay cho chiến lược đánh chết nông sản Việt.
Chiêu móc tiền túi trợ giá nông sản sang Việt Nam còn có thể dùng nông sản Việt đánh nông sản Việt. Nghĩa là nông sản Việt Nam bán qua Tầu, chính phủ trợ giá cho doanh nghiệp thu mua để họ lấy nông sản Việt ướp hoá chất bán sang Việt Nam giá 0 đồng cũng được, không nhất thiết dùng hàng nông sản Tầu. Chiêu nầy cũng đủ đánh chết nông sản Việt.
Nhìn lại chính sách thuế của chính quyền Việt Nam rất mờ ám. Tại sao thuế xăng dầu, thuế ô tô cực cao, nhưng thuế nhập khẩu nông sản Tầu là 0%? Trong tình hình thậm hụt ngân sách liên tục thì giảm thuế nông sản Tầu về zero là một sự mờ ám. Đây rõ ràng là một hành động làm theo mệnh lệnh, nếu không có lệnh không ai chịu thất thu một cách vô lý đến vậy..
Lần xa hơn nữa, những chuyến thăm của tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam sang Tầu sau mỗi lần đắc cử và ký hàng loạt văn kiện bí mật dân không biết nội dung. Xâu chuỗi lại, chúng ta nhìn thấy cái chết nông sản Việt là nằm trong một mưu mô của kẻ bên kia biên giới và sự chấp nhận làm theo chỉ thị của chính quyền bên nầy biên giới. Cả 2 phối hợp cực kỳ nhịp nhàng và mưu mô đã diễn ra vô cùng suông sẻ.
Đất nước nầy không làm nổi con ốc cho Samsung và 80% dân sống nhờ nông nghiệp. Đánh vào nông nghiệp là một cú đánh rất hiểm mà chính dân chúng ta không thể đỡ nổi. Nếu đứng trên quyền lợi dân tộc để xét chính sách thuế nhập khẩu nông sản áp cho Tầu 0% là không thể hiểu nổi. Hiểu sao được khi nó là một âm mưu bí mật? Đất nước chết chắc, nếu không chịu nhìn ra vấn đề nguy cấp nầy. Im lặng đi! Im lặng để mà chết!
(ĐN)
_________________________________________

CSVN Bán Nước, Bán Luôn Trời

Nhiều dấu chỉ cho thấy CSVN âm mưu bán đất nước, bán luôn bầu trời VN cho TC với dự luật Đặc Khu và Luật An ninh mạng, khiến dân chúng VN trong ngoài nước đứng lên biểu tình lớn nhứt.

Bộ Chánh trị Đảng Nhà Nước CSVN sai khiến Quốc Hội CS thông qua Luật Đặc khu cho ngoại quốc phần chắc là cho TC mướn 99 năm, miễn thuế rất nhiều, cho người TQ qua đặc khu làm việc không cần chiếu khán nhập cảnh của VN. Cho mướn ngay ba khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc là ba vùng hiểm yếu về an ninh quốc phòng của đất nước VN.

Dân chúng VN trong lẫn ngoài nước đồng lòng, đồng loạt đứng lên biểu tình, phản đối Đảng Nhà Nước bán đất, bán nước cho quân Tàu Cộng. Có nơi như Phan Rí Cửa thuộc tỉnh Phan Thiết đồng bào đốt xe công an, đốt trụ sở ủy ban, cảnh sát quá sợ lột áo, năn nỉ bà con cô bác. Tổng Bí Thư Đảng CSVN quá sợ đêm khuya ra lịnh cho chánh phủ tuyên bố lùi việc bỏ phiếu sang phiên họp thứ 6 vào tháng 10.

Thế là bước đầu người dân VN đã thắng, CS đã thua. Nhưng nhân dân Việt quá rành CS vốn gian ác nên đề cao cảnh giác phòng thủ âm mưu CS lùi một bước rồi sẽ tiến hai bước. Không sai, CS lợi dụng khi dân chúng bận bịu tiếp tục tổ chức biểu tình chống dư luật Đặc khu, Quốc Hội CSVN xuất kỳ bất ý biểu quyết thông qua Luật An Ninh Mạng, làm nhanh như chạy tang cha mẹ chết.

Luật Đặc khu CS chỉ tuyên bố lùi việc bỏ phiếu thông qua sang phiên họp thứ 6 vào tháng 10 cuối năm, chớ không nói huỷ bỏ. Thế là ‘ý đồ’ của CSVN quá rõ. CSVN muốn làm luật bán đất và bán trời trong một thời gian ngắn. Luật bán đất VN cho TC bị dân chúng chống quá mạnh và quá nhiều  chưa làm được, nên phải hoãn binh chi kế. Lợi dụng thời cơ dân chúng nhất tề chống luật bán đất, CSVN thông qua luật  bán trời VN cho TC với Luật An Ninh Mạng.

Bán đất là bán địa lý chánh trị, quân sự của các đặc khu hiểm yếu của đất nước VN cho quân Tàu chiếm làm con ngựa thành Troie, cho đội quân thứ năm của quân Tàu Cộng phục kích sẵn trong nước VN, biến VN thành một vùng thuộc địa ‘da beo’ của TC.

Còn Đảng Nhà Nước CSVN làm được Luật An Ninh Mạng, là để bán vùng trời, bán không phận, bán không gian mạng cho TC. Facebook và Google của Mỹ sẽ phải rút khỏi VN vì CSVN đòi những điều mà hai công ty cung ứng dịch vụ tin học cho người dân Việt xài nhiều nhứt phải rút, không thể chấp nhận được. Đó là máy chủ phải đặt ở VN, phải ngăn chận những thông tin, nghị luận bất lợi cho CSVN và nhứt là phải báo cáo danh tánh của những người tranh đấu cho tự do, dân chủ nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Ngoài ra Bộ Công an CSVN sẽ bắt các công ty  Mỹ Facebook và Google phải áp dụng nhiều thủ tục, nhiều điều kiện, xin nhiều giấy phép hơn, để một mặt kiểm soát chặt hơn và mặt khác đòi thêm tiền hối lộ. Và Bộ Tài Chánh CSVN sẽ đòi tăng thuế và nhiều lệ phí không tên khác.

Google, Facebook bị đuổi ra khỏi không gian thực và không gian ảo tức không gian mạng VN, thì các công ty của TC Baidu, Tencent, Weibo sẽ nhảy vào VN chiếm chỗ, sẵn ổ mà đẻ ra cả bầy tuyên truyền cho CS và đồng thời bịt miệng, che mắt người đấu tranh cho tự do, dân chủ và chủ quyền của VN. Truyền thống của TC đi làm ăn ngoại quốc, các công ty của TC không bắt buộc bảo vệ thông tin của người dùng một cách triệt để như các công ty Mỹ, nên rất thích hợp với nhu cầu của CSVN. Baidu, Tencent, Weibo họ vừa hợp tác với Đảng Nhà Nước CSVN, vừa hợp tác với chính phủ TC, nhân dân VN sẽ đối diện với một nguy cơ, một rủi ro rất cao, có thể là mất nước trong tương lai.

Theo Giáo sư Ngô Vĩnh Long [Đại học Maine, Hoa Kỳ], “đạo luật an ninh mạng mà Quốc hội Việt Nam vừa thông qua là một bản sao của đạo luật an ninh mạng của Trung Quốc. Vì đạo luật này mà Google và Facebook không thể hoạt động tại Hoa Lục. Nhưng Việt Nam, theo lời giáo sư Long, không thể tạo nên cho mình những công ty riêng, và vì thế sẽ lệ thuộc ngày càng nặng vào Trung Quốc.”

Chính một số giới chức quân sự CSVN cũng bày tỏ quan ngại về khả năng Trung Quốc lập vùng nhận dạng phòng không ADIZ vì nó đe dọa sự toàn vẹn của không phận Việt Nam.

Cho đến giờ phút này coi như Đảng Nhà Nước CSVN đã có Luật An Ninh Mạng để bán trời cho TC. Chuyện này không khó khắc phục với sự giúp đỡ của lớp trẻ VN trong nước rất có khiếu về Tin học và các chuyên viên ngoại quốc và VN hải ngoại sẽ giúp gần 51 triệu người Việt đang dùng các trang mạng xã hội. Chưa chi đã có người chỉ cách  cho đồng bào trong nước rồi. Chỉ cần nhờ đồng bào hải ngoại mở Google, Facebook ở ngoại quốc như Mỹ, Pháp, Úc, v.v… các nước tự do, dân chủ thì vượt tường lửa của CSVN dễ như chơi. Cũng như kiểu VOA giúp người Việt trong nước vượt tường lửa của CSVN chống phá làn sóng của đài qua việc gởi email cho Đài, Đài sẽ trả lời kèm theo cách vượt tường lửa của CSVN. VOA có phổ biến công khai bí quyết này.

Còn luật Đặc Khu thì bà con cô bác, nhứt là lớp trẻ làm một điều mà công an, cảnh sát không ngờ như anh chị em đi xe hơi dùng tiền lẻ để trả các trạm BOT thu tiền qua trạm, gây cảnh kẹt xe, khiến CS phải xả trạm hay bỏ trạm. Với luật Đặc khu, đồng bào ở Saigon tổ chức biểu tình đợt hai vào Chủ Nhựt 17/7 (giờ VN) bằng cách dùng xe gắn máy. Hàng chục ngàn chiếc, một xe chở một người, cầm bích chương, biểu ngữ, hô khẩu hiệu ‘Không cho TC mướn đất dù chỉ một ngày’, chạy trên các đường huyết mạch của thành phố. Khác với các kỳ biểu tình trước đây, cuộc biểu tình này tuyệt đối không ai cầm ‘cờ máu’ cờ đỏ sao vàng của CSVN. Tiêu biểu như trên đường Hoàng văn Thụ, bùng binh các đường chánh Saigon, Chợ lớn, Gia Định đổ về Phi trường Quốc tế Tân Sơn Nhứt. Thử tưởng tượng trên 10.000 Honda và 20 ngàn người chiếm bùng binh này thì làm sao vào ra Tân Sơn Nhứt. Cảnh sát Saigon có vẻ tâm phục đồng bào làm cái chuyện người dân Việt phải làm. Trong đoàn xe gắn máy biểu tình có cha mẹ, anh em, bạn bè, đồng bào của cảnh sát đang chống buôn dân bán nước, nên Cảnh sát đứng sát lề, nhìn đoàn người biểu tình với tâm phục thể hiện qua đôi mắt, cửa sổ của tâm hồn.

Còn ở Miền Trung, tin Reuters cho biết hàng ngàn người dân Hà Tĩnh, đa số là giáo dân hôm Chủ nhật 17/06/2018 đã biểu tình ôn hòa chống lại dự Luật Đặc khu và Luật An ninh mạng.

Đồng bào người Việt từ Bắc chí Nam, qua Trung, ra hải ngoại, nam nữ, già trẻ, lao động trí óc, chân tay không say sưa chiến thắng, mà bình tĩnh, kiên trì chuẩn bị, tổ chức một phong trào đấu tranh chống Đảng Nhà Nước CSVN bán đất, rước voi về dày mộ tổ tiên. Tinh thần bất khuất, quyết tâm  và ý chí kiên trì bảo vệ giang sơn gấm vóc vùng lên thành cuộc đấu tranh toàn dân toàn diện chống quân Tàu Cộng và tay sai là Việt Cộng toan bán nước, bán trời cho quân Tàu.

Cuộc tổng biểu tình vừa rồi là một bước ngoặt tiến lên giai đoạn mới toàn dân, toàn diện đấu tranh, làm cho Đảng Nhà Nước thấy rõ, và nhân dân không phân biệt Bắc, Nam, Trung, Hải ngoại, đoàn kết nhau trong việc giữ nước, cứu nước, chống quân Tàu Cộng và Việt Cộng mưu toan chiếm quê cha đất tổ, chiếm chủ quyền lãnh thổ và không phận của dân tộc Việt chúng ta.

Thói thường trong chiến tranh chánh trị kiên trì thì sẽ thắng. Giữa đường bỏ cuộc sẽ thua. Đất nước còn là còn tất cả, đất nước mất là mất tất cả. Thua là CS Trung Quốc với sự tiếp tay của CSVN sẽ biến VN thành thuộc địa và thôn tính VN thành một tỉnh của TC, xoá tên VN trên bản đồ thế giới./.

(VA)
Vi Anh
nguon

___________________________________________________

TÒA ĐẠI SỨ MỸ TẠI HÀ NỘI ĐÁNH GIÁ RẤT CHÍNH XÁC TÌNH HÌNH THẬT SỰ TẠI VIỆT NAM

 
Nhận được tập tài liệu rất đáng chú ý từ nguồn ẩn danh, theo nhận định thì đây đều là những văn bản có xuất xứ từ Tổng cục 2 – Bộ Quốc Phòng Việt Nam (tức Tổng cục Tình Báo). Nội dung các tài liệu liên quan đến nhiều vấn đề thời sự mà dư luận đang rất quan tâm. Bên cạnh đó là những đánh giá, nhận định theo quan điểm của những người hiện đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN)… Nhưng qua hình thức thì tập tài liệu này có thể xuất xứ từ Cục 16, thuộc Tổng cục 2, là các bản báo cáo. Mời qúy độc giả đọc, theo dõi và nhận xét.
 
Toà Đại sứ Mỹ tại Hanoi đánh giá rất chính xác
tình hình thật sự tại Việt Nam hiện nay…

****
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số /2012/BRC Ngày 23 tháng 4 năm 2012 Số trang:4, Nguồn: S(A.199)
Báo Cáo
Đánh giá của Mỹ về thực trạng tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam
và động thái mới của Mỹ trong triển khai chiến lược “DBHB” đối với Việt Nam
I. TRƯỜNG HỢP LẤY TIN:
Tổng hợp qua quá trình tiếp xúc trực tiếp Claire Pierangelo/Phó Đại sứ Mỹ tại Hà Nội, Gary/Phòng chính trị Bộ Ngoại giao Mỹ; Greg/Thiếu tá pháo binh Mỹ; Chuck/Đại úy lính thủy đánh bộ Mỹ, từ 20.3.2012 đến nay.
II. NỘI DUNG TIN: Bà Claire Pierangelo
1. Về thực trạng tình hình kinh tế – xã hội VN hiện nay:
Theo đánh giá của Bà Claire Pierangelo: “Nền kinh tế VN hiện nay đang tồn tại rất nhiều vấn đề và cần phải tốn rất nhiều thời gian để khắc phục.Vấn đề lớn nhất của VN chính là lợi ích nhóm và tính nhiệm kỳ của các lãnh đạo quá cao, quá điển hình mà không có tầm nhìn dài hạn. Tất cả các giải pháp chính sách được đưa ra chỉ có tính thời vụ, tạm thời. Các tập đoàn kinh tế của nhà nước được hưởng quá nhiều lợi ích và Chính phủ VN hầu như chỉ in tiền phục vụ nhóm này trong khi hiệu quả đầu tư công vô cùng thấp, tham nhũng tràn lan. Trong khi đó, các công ty, doanh nghiệp tư nhân là những người sản xuất và đem lại nhiều lợi ích cho xã hội hơn cả thì lại thiếu đi những sự hỗ trợ và gặp rất nhiều khó khăn”…
“Ở VN hiện nay, cụm từ “tái cơ cấu” được Chính phủ và báo chí nhắc tới rất nhiều nhưng không có nội dung và hành động cụ thể đi kèm. Chính phủ VN hiểu vấn đề của họ, nhưng những lợi ích nhóm và cá nhân đang làm mờ mắt và chậm bước trên con đường thay đổi”.
Claire Pierangelo phân tích: “Đáng lẽ kinh tế VN phải vững vàng hơn hiện nay rất nhiều chứ không phải ở tình trạng bưng bít và vá sửa lung tung như hiện nay. Mặc dù Chính phủ VN đang cố gắng che đậy những bất cập, yếu kém của nền kinh tế nhưng người dân VN ai cũng biết nguyên căn của sự yếu kém đó. Tiền chỉ tập trung vào một số ít người và nhóm nhất định. Các nhà lãnh đạo VN ai cũng rất giầu, có tiền gửi ở khắp các Ngân hàng trên thế giới. Điển hình là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hoặc nhiều Bộ trưởng, người nào cũng rất giầu. Tiền của họ chính là tiền của Nhà nước. Rõ ràng, tham nhũng tại VN đã trở thành một căn bệnh trầm kha, tới mức nói tới cái gì xấu người dân cũng đều gán cho cái mác “Cộng sản”…
Bên cạnh vấn đề tham nhũng thì vấn đề đất đai cũng đang gặp những bức xúc và phản ứng gay gắt từ xã hội. Chính phủ VN thực sự đang đánh mất lòng dân trong khi xã hội VN lại đang tồn tại quá nhiều vấn đề…
Nhiều nhà khoa học và học giả VN hiện nay thường đề cập tới các vấn đề của xã hội Trung Quốc (TQ) và cho rằng, TQ khó có thể phát triển vì quá nhiều vấn đề và bất cập xã hội. Tuy nhiên,thực tế Chính phủ VN cũng đang gặp những vấn đề tương tự TQ, thậm chí còn tồi tệ hơn TQ, vì Chính phủ VN không dám thẳng tay làm gì, ngược lại cố tình bao che, dung túng cho các sai lầm. Đây chính là yếu tố để VN “tự diễn biến” một cách hết sức hòa bình và tự nhiên”.
Ngoài ra, qua tìm hiểu được biết: Từ 20.3.2012 đến nay, theo sự bố trí, sắp xếp và chỉ đạo của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc Phòng Mỹ, 3 nhân viên Mỹ là Gary/Phòng chính trị Bộ Ngoại giao Mỹ; Grek/Thiếu tá thuộc Pháo Binh và Chuck/Đại úy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (đây đều là những nhân viên được đào tạo tại Đại học John Hopkins – Lò đào tạo CIA/Mỹ) đã được cử sang VN để khảo sát tình hình VN và báo cáo về Bộ Ngoại giao Mỹ.
Sau một thời gian ngắn thực hiện nhiệm vụ ở VN, những nhân viên này đã được Bộ Ngoại giao Mỹ đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và tiếp tục được chỉ đạo ở lại VN để khảo sát tình hình và nắm bắt thông tin thêm một thời gian nữa. Một số vấn đề mang tính kết luận liên quan đến tình hình VN đã được 3 nhân viên này báo cáo về Mỹ gần đây như sau:
Thứ nhất, người dân VN hiện đang rất bất mãn với chế độ. Tại các quán café, quán bia, quán trà (phổ biến của giới trẻ VN)… các vấn đề mà mọi người thường đề cập là vấn đề tham nhũng, vấn đề Biển Đông và quan hệ Việt – Trung với thái độ chỉ trích cách xử lý của Chính quyền.
Thứ hai, người dân VN hiện nay rất ghét Trung Quốc (TQ). Không chỉ vì TQ “chơi bẩn” trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ mà còn do cách hành xử của Chính phủ VN với Chính phủ TQ. Đáng chú ý, Mỹ và các vấn đề liên quan tới Mỹ hiện đã không còn là vấn đề thời sự được người dân VN nhắc đến. Trong khi đó, TQ mới thực sự là đối tượng hay được nhắc đến như một kẻ thù chủ yếu và trực tiếp của VN. Người Mỹ có thể yên tâm rằng VN sẽ không bao giờ thân với người TQ. Sự gần gũi của Chính phủ VN hiện nay đối với TQ chỉ mang lại những hiệu ứng tiêu cực, càng làm cho người dân VN chán ghét và phản kháng lại Chính phủ nhiều hơn.
Thứ ba, người dân VN hiện đang bị Mỹ hóa rất nhanh. Thời gian qua, cuộc cách mạng về văn hóa của Mỹ đã có sự lan tỏa và phát triển sâu rộng trong toàn xã hội VN. Người dân VN hiện không còn căm ghét Mỹ như 10 – 15 năm trước nữa, ngược lại trở nên thân thiện với Mỹ nhiều hơn. Người VN rất mến khách và dần dần đã coi người Mỹ thực sự là bạn. Đáng chú ý, không ít người VN (kể cả giới quan chức) có tư tưởng bài TQ thậm chí còn coi Mỹ là một cứu cánh cho VN.
Grek bộc lộ rằng: “Nếu như các nhà hoạch định chính sách Mỹ hiểu rõ hơn về tình hình VN như cách chúng tôi hiểu thì người Mỹ chắc chắn sẽ có cách tiếp cận VN khác nhiều so với trước. Người Mỹ chưa hiểu nhiều về VN vì họ chưa có dịp sang VN và tiếp xúc với người dân VN. Nhiệm vụ của chúng tôi là sẽ làm cho người Mỹ hiểu rõ hơn về VN. Đây là một chuyến đi rất thành công của chúng tôi và khi về nước, chúng tôi sẽ giúp người Mỹ hiểu rõ hơn về VN. VN hiện đã ở rất gần Mỹ”.
2. Một số động thái mới của Mỹ trong triển khai chiến lược “DBHB” đối với VN thời gian tới:
Bà Claire Pierangelo cho rằng: “Vấn đề của Chính phủ VN hiện nay không phải do bên ngoài đem tới mà chính là vấn đề tự thân của Chính phủ VN. Nếu không giải quyết được các vấn đề này thì chính VN sẽ gặp rắc rối lớn mà không cần ai/nước nào can thiệp…
Trước đây, Chính phủ Mỹ từng nghĩ rằng, Mỹ sẽ phải bằng cách này hay cách khác đổ thật nhiều tiền vào VN mới có thể đạt được các mục đích của mình, nhưng hiện nay việc làm này không còn cần thiết nữa. Chính phủ Mỹ không cần phải can thiệp hoặc đổ quá nhiều tiền vào VN, chỉ cần có những tác động cụ thể trong từng giai đoạn phù hợp, những tình huống nhất định thì Mỹ có thể đạt được mọi điều mình mong muốn ở VN”.
Cơ sở để đưa ra nhận định này đó là: Giới trẻ VN hiện nay đã khác hẳn thế hệ đi trước. Tuổi 32 có thể coi là một mốc quan trọng cho ranh giới giữa các thế hệ ở VN. Theo các cuộc điều tra, khảo sát và nghiên cứu của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội: Ở VN hiện nay, những người từ 32 tuổi trở xuống là một thế hệ mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tư tưởng rất thoáng, văn hóa và cách nghĩ, cách sống gần với phương Tây và Mỹ hơn. Thậm chí một bộ phận giới trẻ VN hiện nay còn thuộc phim ảnh Mỹ, âm nhạc Mỹ, thời trang Mỹ nhiều hơn chính những người Mỹ… Đây là một thành công lớn của Mỹ trong việc truyền bá văn hóa Mỹ vào VN trong suốt thời gian vừa qua.
Claire Pierangelo nói: “Không cần phải làm gì quá nhiều, biên giới Mỹ đang ngày càng tiệm cận, thâm nhập sâu và mở rộng hơn tại VN. Tình trạng “Mỹ hóa” đang xẩy ra nhanh chóng và ngày càng phổ biến trong giới trẻ. Giới trẻ VN hiện nay cũng không còn chịu ảnh hưởng nhiều của thế hệ đi trước, đặc biệt về tư tưởng, thái độ, lối sống, cách suy nghĩ mà họ có xu hướng tách ra, độc lập và tự chịu trách nhiệm”… “Điều mà Mỹ lo lắng là sự bền chặt trong mối quan hệ Việt-Trung. Tuy nhiên, VN hiện đã đi xa khỏi khu vực ảnh hưởng của văn hóa TQ. Tư tưởng bài xích TQ luôn xuất hiện trong suy nghĩ của người dân VN, chính điều này lại giúp văn hóa Mỹ gần với văn hóa VN hơn…”
Những ưu tiên của Mỹ đối với VN trong thời gian tới là:
Thứ nhất.- trong thời gian tới, Mỹ sẽ tiếp tục khai thác và tập trung vào giới trẻ VN nhiều hơn, nhất là lứa tuổi từ 32 trở xuống. Song song với đó, Mỹ cũng sẽ tìm hiểu và khai thác thông tin từ cộng đồng dân chúng để hiểu rõ hơn về thực trạng tình hình VN để có những đối sách phù hợp.
Đối với Mỹ, những thông tin có được qua quá trình tiếp xúc dân chúng là hết sức giá trị,thể hiện rõ thực trạng đất nước và xã hội VN, nó khác hẳn với những thông tin chính thống của Chính phủ. Qua tìm hiểu được biết, với các kết quả đạt được trong chuyến công tác VN vừa qua, Greg và Chuck đã được Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao Mỹ điều động ở lại VN tiếp tục hỗ trợ cho Tùy viên quân sự Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội trong một thời gian nữa để theo dõi sát về tình hình VN, nhất là những vấn đề liên quan đến Biển Đông và mối quan hệ Việt-Trung.
Đây là nhiệm vụ đột xuất vì Đại sứ quán Mỹ tại VN vừa nhận được báo cáo mới nhất của Bộ Quốc phòng Mỹ gửi sang có đánh giá rằng: Sự căng thẳng gần đây giữa VN và TQ liên quan tới Biển Đông có nguy cơ bùng nổ xung đột và Bộ Quốc phòng Mỹ hiện đang muốn tìm hiểu quan điểm và phản ứng của VN về vấn đề này. Đặc biệt, nhiệm vụ tối quan trọng mà Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Mỹ giao cho 2 nhân viên này là tăng cường tiếp xúc các tầng lớp, đối tượng VN để xây dựng mạng lưới quan hệ xã hội, tìm hiểu tâm lý và các vấn đề quan tâm của người dân VN hiện nay (tự do báo chí, tôn giáo, Intermet, vấn đề Biển Đông, quan hệ Việt-Trung, Mỹ-Việt…) nhằm phục vụ cho việc hoạch định chiến lược của Mỹ đối với VN trong thời gian tới.
Vì chưa phải là giới chức ngoại giao Mỹ nên hoạt động của 2 nhân viên này ở VN sẽ có nhiều thuận lợi, có thể dễ dàng tiếp xúc với các đối tượng thuộc nhiều thành phần xã hội ở VN.
Thứ hai.- Mỹ sẽ tiếp tục sử dụng vấn đề nhân quyền để gây sức ép mạnh mẽ lên Chính phủ VN nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của mình trong quan hệ Mỹ-Việt. Claire Pierangelo bộc lộ: “Trong thời gian tới, Mỹ sẽ tiếp tục quan tâm tới tình hình nhân quyền tại VN. Vấn đề này tuy luôn nóng nhưng chỉ là một phương tiện để Chính phủ Mỹ đạt được những mục đích khác chứ không phải đây là mục đích thực sự của Chính phủ Mỹ tại VN… Thực tế cho thấy, có rất nhiều chính phủ khác còn vi phạm nhân quyền nhiều hơn VN nhưng Chính phủ Mỹ không đề cập tới… Trong thời gian tới, dù chính quyền VN vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền, thậm chí mức độ vi phạm còn lớn hơn, nhưng Chính phủ Mỹ có thể sẽ không đề cập nhiều.Tuy nhiên, đó là vấn đề của sau này, còn hiện tại thì nhân quyền vẫn sẽ là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Mỹ, Đại sứ quán Mỹ tại VN để gây sức ép với Chính phủ VN nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của Mỹ”.
Claire Pierangelo khẳng định: “Với những gì đang diễn ra tại VN hiện nay có thể đi đến kết luận rằng: Trong 20 năm nữa, diện mạo VN sẽ thay đổi rất nhiều so với hiện nay. 10 năm tới vẫn sẽ là thời kỳ ‘hỗn loạn’, ‘tranh tối, tranh sáng’ nhưng 10 năm tiếp theo sẽ là một sự chuyển dịch ‘chóng mặt’. Rất có thể Chính phủ cộng sản cũng sẽ không còn tồn tại nữa”.
III. NHẬN XÉT:
Tin phản ánh một số nhận định, đánh giá của nhóm nhân vật Mỹ nhạy cảm thuộc Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Mỹ về thực trạng tình hình kinh tế-xã hội VN và cách tiếp cận của Mỹ đối với VN trong thời gian tới. Đáng chú ý là nhận định cho rằng: Thực trạng yếu kém, những bất cập về kinh tế-xã hội VN, cùng sự xuất hiện những tư tưởng “gần Mỹ”, bài xích TQ hiện nay đang khiến người dân mất niềm tin vào Đảng, vào chế độ. Đây chính là nền tảng để VN “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và chỉ cần một cú hích nhẹ của Mỹ tại các thời điểm, tình huống phù hợp thì chế độ VN sẽ sụp đổ. Trước mắt, Mỹ (mà trực tiếp là Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội) đang tìm cách xây dựng các mạng lưới xã hội VN, khai thác, lôi kéo và chuyển hóa giới trẻ VN; đẩy mạnh tuyên truyền, kích động gây chia rẽ mối quan hệ Việt-Trung… nhằm thực hiện được mục tiêu chuyển hóa, lật đổ chính quyền VN trong 20 năm tới.
IV. TÀI LIỆU KÈM THEO:
Không. Cục trưởng Cán bộ hoạt động: Đại tá Nguyễn Tân Tiến * Nơi nhận: – TT Lưu Đức Huy : 01 bản – Ban A : 01 bản
________________________________________

Nhân Vụ Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc: Chúng Ta Đã và Đang Thực Sự Mất Nước

Trước khi vào đề: Người Tàu dù là Tàu Quốc hay Tàu Cộng, Tàu thời Nhà Hán, Nhà Đường, Nhà Tống, Nhà Minh…, Tàu ở thời nào đi chăng nữa cũng vẫn là người Tàu, vẫn mãi mãi là tham lam, tàn bạo và hiểm độc. Đó là điều đầu tiên chúng ta cần ghi nhớ trước khi bàn về vấn đề này. Chuyện người Tàu thường xuyên tìm cách xâm chiếm Việt Nam với những mưu toan mỗi ngày một tinh vi thâm độc hơn trong lịch sử hiện đại là chuyện thường trực xảy ra từ lâu rồi nhưng nhiều người vì dễ tính, dễ quên nên chỉ nhớ lõm bõm. Vì

vậy tác giả xin được kính gửi tới bạn đọc một bài viết không lâu trước đây của tác giả để bạn đọc có dịp nhớ lại cho chính xác, đầy đủ hơn. Đúng ra đây là phần tóm lược bài thuyết trình tác giả trình bày tại buổi hội thảo mang chủ đề “38 Năm Nhìn Lại: Hiện Tình và Tương Lai Việt Nam” do Hội Ái Hữu Bưởi – Chu Văn An Nam California tổ chức ngày 14 tháng 7 năm 2013 tại Coastline Community College, Thành Phố Westminster, California, Hoa Kỳ. Bài viết tuy được thực hiện từ5 năm trước, từ đó đến nay nhiều biến cố quan trọng đã xảy ra, nhưng những gì được nêu lên vẫn còn nguyên những giá trị căn bản liên quan đến nguổn gốc sâu xa của vấn đề, của nó, đặc biệt là tham vọng và chủ trương bành trướng không bao giờ thay đổi của người Tàu dù là Tàu nào đi chăng nữa và như tác giả kết luận: Chính nghĩa của Người Việt Quốc Gia ngay từ những ngày đầu, từ thời Chính Phủ Trần Trọng Kim hồi năm 1945, xuyên qua Quốc Gia Vìệt Nam của Quốc Trưởng Bảo Đại thời trước năm 1954, rồi Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa ở Miền Nam luôn luôn là đúng. Sự toàn vẹn lãnh thổ đã luôn luôn được coi là trọng và được nỗ lực bảo toàn. Lịch sử đã chứng minh điều này.

“Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di”
Lời Vua Lê Thánh Tông dụ bọn Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy năm 1473
“Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái lan, Miến Điện, Ma-lai-xi-a và Xin-ga-po. Một vùng như Đông-nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy… Sau khi giành được Đông-nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô- Đông Âu, gió đông sẽ thổi bạt gió tây.”
“Chúng ta phải chinh phục trái đất. Mục tiêu của chúng ta là toàn thể trái đất”
Mao Trạch Đông tuyên bố trước Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc năm 1959
Nói về hiện tình đất nước ở vào thời điểm 2013 mà không nói tới tham vọng và cuộc xâm lăng của người Tàu, cuộc xâm lăng mới nhất, đang xảy ra trên lãnh thổ của nước ta là một điều vô cùng thiếu sót. Vì vậy thay vì góp thêm nhận định về hiện trạng kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục ở trong nước hiện tại, tôi xin phép Ban Tổ Chức và toàn thể quý vị cho tôi được nói đôi chút về đề tài nóng bỏng này, đề tài tôi tạm gọi là “Chúng Ta đã và Đang Thực Sự Mất Nước”.
Vì thời giờ có hạn, tôi chỉ xin nói ra những điểm chính. Sau buổi hội thảo ngày hôm nay tôi sẽ xin ghi lại những chi tiết đầy đủ hơn và sẽ xin gửi tới quý vị sau. Cũng vì thì giờ có hạn, tôi sẽ không nói tới hay đúng ra không nói nhiều về Biển Đông với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Đường Lưỡi Bò của Trung Cộng và những gì đế quốc mới này đã và đang làm ở trong vùng biển này như thành lập Thành Phố Tam Sa, thiết lập các cơ cấu hành chánh, chánh trị, quân sự, đưa các tàu hải tuần xuống đe dọa các quốc gia liên hệ chặn bắt, các tàu đánh cá của ngư dân, đặc biệt là ngư dân Việt Nam… Lý do là vì tất cả đã trở thành đề tài thời sự thế giới, được nói tới gần như hàng tuần và luôn cả hàng ngày trên các đài phát thanh, các đài truyền hình quốc tế cũng như các đài phát thanh, đài truyền hình của người Việt, trên các trang mạng từ nhiều năm nay và đương nhiên trong những buổi gặp gỡ giữa anh em, bạn bè chúng ta.
Tôi cũng không nói hay nói rất ít về bản “Tuyên Cáo về việc Nhà Cầm Quyền Trung Quốc Liên Tục Có Những Hành Động Gây Hấn, Xâm Phạm Nghiêm Trọng Chủ Quyền Toàn Vẹn Lãnh Thổ Việt Nam Trên Biển Đông”, ngày 25 tháng 6 năm 2011 và bản “Kiến Nghị Về Bảo Vệ Và Phát Triển Đất Nước Trong Tình Hình Hiện Nay” của các nhân sĩ, trí thức nổi tiếng ở trong nước gửi Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 10 tháng 7 cùng năm và nhiều kiến nghị khác mà mọi người đều biết trước là sẽ không bao giờ được trả lời hay chỉ được trả lời quanh co hay gián tiếp.
Tôi cũng không nói hay nói rất ít về lối trả lời gián tiếp các nhà trí thức kể trên của Đảng CSVN xuyên qua một bài báo đăng trên tờ Đại Đoàn Kết theo đó những người cầm quyền ở Việt Nam hiện tại đã tỏ ra vô cùng lúng túng trước câu hỏi về bản công hàm của Phạm Văn Đồng nhân danh Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà gửi Chu Ân Lai, Chủ Tịch Quốc Vụ Viện nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, ngày 14 tháng 9 năm 1958. Đây là lần đầu tiên những người cầm đầu Đảng Cộng Sản Việt Nam, đã thừa nhận là họ đã lựa chọn nhường các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng để đổi lấy sự giúp đỡ của Trung Cộng trong cuộc xâm chiếm Miền Nam bằng vũ lực của họ sau đó. Đây cũng là lần đầu tiên họ, những người cầm đầu Đảng Cộng Sản Việt Nam, công nhận các chính phủ Quốc Gia Việt Nam thời Quốc Trưởng Bảo Đại và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa là những chính phủ hợp pháp có trách vụ quản trị các quần đảo này theo Hiệp Định Genève cũng như những nỗ lực không thể chối cãi mà những chính phủ quốc gia này đã làm để bảo vệ các quần đảo này trong suốt thời gian các chính phủ này tồn tại.
Lý do chính yếu khiến tôi không nói hay chỉ nói rất ít về những sự kiện kể trên là vì tất cả hiện thời đang xảy ra ở Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mới chỉ là diện, là bề ngoài, là mới chỉ là bắt đầu. Tất cả rồi cũng sẽ được giữ nguyên trạng trong một thời gian dài và dù muốn hay không Hoàng Sa cũng đã mất rồi, còn Trường Sa thì cũng mất nhiều phần, còn nhiều thế hệ nữa Việt Nam mới có thể lấy lại được hay có cơ hội lấy lại được. Trung Hoa Cộng Sản trong mọi hoàn cảnh cũng đã chiếm được và giữ được những phần quan trọng kể từ sau khi họ chiếm Hoàng Sa từ trong tay Việt Nam Cộng Hòa hồi tháng Giêng năm 1974 trong sự im lặng, đồng lõa của chính quyền Cộng Sản Hà Nội. Cái giá để cho Đảng CSVN xâm chiếm miền Nam và thống nhất đất nước ta bằng võ lực phải nói là quá đắt cho dân tộc Việt Nam và cho chính họ.
Hoàng Sa, Trường Sa hay rộng hơn Biển Đông chỉ là những gì nổi bật bề ngoài, là cái diện ai cũng có thể thấy được trong tiến trình mất nước của dân tộc Việt Nam đầu Thế Kỷ 21 này. Vậy thì cái điểm nằm ở đâu? Thưa quí vị, nó nằm ngay trên đất liền, trên lãnh thổ của chính quốc Việt Nam. Nó nằm rải rác ở khắp lãnh thổ nước ta chứ không riêng ở biên giới phía bắc, đành rằng ở biên giới phía bắc, người ta đã ghi nhận những sự nhổ và lui cột mốc, sự mất ba phần tư Thác Bản Giốc, những sự chiếm giữ các cao điểm có tính cách chiến lược từ trước và sau trận chiến 1979 giữa hai đảng Cộng Sản Á Châu và có thể từ xa hơn nữa, từ đầu thập niên 1950, khi CSVN mở cửa biên giới phía bắc để nhận viện trợ của Trung Cộng nhằm tiếp tục cuộc chiến tranh chống Pháp và gián tiếp chống lại chính quyền Quốc Gia Việt Nam lúc đó đã được thành lập bởi Cựu Hoàng Bảo Đại. Những thắc mắc về sự mất mát này cho tới nay vẫn chưa được hoàn toàn giải tỏa dầu cho đã được nhiều người đòi hỏi. Tôi sẽ nói thêm ở phần cuối về vấn đề này. Có điều là đến giờ thì hai bên đã ký kết những thỏa ước và những cột mốc mới đã khởi sự được “cắm” rồi. Những điểm này tuy nhiên chỉ là ở dọc vùng biên giới. Quan trọng hơn và nguy hiểm hơn, bức thiết hơn là những điểm, mà không phải là điểm hiểu theo ý nghĩa đen của danh từ, nằm sâu ngay trong lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam, dưới quyền quản lý của chính quyền Cộng Sản hiện tại nhưng vượt ra ngoài sự kiểm soát của chính quyền này. Những điểm vừa cố định, nằm nguyên một chỗ, vừa di động khắp nơi trên lãnh thổ, điển hình là những mỏ bauxite trên cao nguyên, những khu rừng đầu nguồn nằm ở cửa ngõ của những vùng biên giới Việt-Trung và Lào-Việt , những khu vực trúng thầu, những địa điểm thu mua các nông sản, những vùng nông dân bỏ trồng lúa, trồng khoai, những trại nuôi cá, điển hình là trại nằm không xa quân cảng Cam Ranh là bao nhiêu mà các nhà cầm quyền địa phương sau cả gần chục năm không hề biết, những khu phố kiểu Đông Đô Đại Phố ở Bình Dương … Tất cả đã trở thành những “thực dân địa”, những “colonies” của người Tầu ngay trong lòng của lãnh thổ Việt Nam, nơi những ủy ban nhân dân vẫn còn làm chủ. Nói cách khác, theo lời của các tác giả của Bản “Kiến Nghị Về Bảo Vệ Và Phát Triển Đất Nước …” ngày 10 tháng 7 năm 2011 mà tôi đã dẫn trên đây thì “…mặt trận nguy hiểm nhất đối với nuớc ta mà Trung Quốc muốn dồn quyền lực và ảnh hưởng để thực hiện, đó là: thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá của nước ta. Đó là mặt trận vừa uy hiếp, vừa dụ dỗ nước ta nhân danh cùng nhau gìn giữ ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, gây chia rẽ giữa nhân dân ta và chế độ chính trị của đất nước, vừa lũng đoạn nội bộ lãnh đạo nước ta, làm suy yếu khối đại đoàn kết thống nhất của dân tộc ta, làm giảm sút khả năng gìn giữ an ninh và quốc phòng của nước ta. Đánh thắng nước ta trên mặt trận nguy hiểm nhất này, Trung Quốc sẽ đánh thắng tất cả.”Nói cách khác đó là chiến lược dùng quyền lực mềm thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam để nhẹ ra là đưa Việt Nam đến chỗ phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, còn nặng ra là chiếm luôn cả nước.Đến lúc đó thì Hoàng Sa, Trường Sa và Đường Lưỡi Bò đương nhiên sẽ trở thành biển đảo của Trung Quốc.
Hãy tưởng tượng ngay trên Cao Nguyên Miền Nam, địa điểm chiến lược quan trọng nhất đã chi phối toàn bộ an ninh của miền nam Việt Nam và sự thống nhất của lãnh thổ quốc gia trong quá khứ, trong một khu vực rộng lớn, nằm ngoài sự kiểm soát của cả chính quyền trung ương lẫn chính quyền địa phương của người Việt, là một khu vực dành riêng cho người Tầu, không ai được nhòm ngó, không ai được ra vào. Họ được tự do mang người của họ vô, mang người của họ ra, được chở đồ của họ vô, chở đồ của họ ra một cách tự do, thong thả không qua một sự kiểm soát nào. Những người này là những người nào? những đồ này là những đồ gì? Làm sao biết được, ai mà biết được… cho đến biến cố tầy trời nổ ra?Cũng vậy, ở những khu rừng đầu nguồn và ở những địa điểm của những công trình xây cất có tính cách căn bản nhằm cung cấp điện năng, khoáng sản, dầu khí…những lãnh vực thuộc loại tối quan trọng liên hệ tới an ninh của quốc gia.nhìn vào con số 90% các “gói thầu” thuộc loại này được mở ra ở trong nuớc đã lọt vào tay các nhà thầu Trung Cộng. Nhiều gói lên tới hàng tỷ Mỹ kim với những món tiền lót tay không phải là nhỏ, từ 10% đến 15% tiền thầu. Hậu quả là những công trình do họ thực hiện phần lớn có phẩm chất kém, thời gian thi công kéo dài trong khi các nhà thầu Việt Nam, vì không đủ vốn, không đủ thế lực chỉ còn bất lực, đứng bên lề các đại công trường trên đất nước mình. Nhưng nguy hiểm hơn hết vẫn là nạn nhân công người Tầu do chính các chủ thầu người nước họ mang sang để lao động thay vì các nhân công bản xứ. Ở khắp nơi, từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Đồ Sơn đến Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, đến Đà Nẵng rồi vô tới Bình Dương và Cà Mau…chỗ nào có nhân công người Tầu đều có những khu cư xá riêng cho họ, kèm theo là các chợ búa, các cửa hàng, các trung tâm dịch vụ, các nhà nghỉ, các quán cà phê, karoke mang chữ Tàu… để phục vụ cho họ. Người Việt Nam không riêng chỉ có thể đứng nhìn mà còn trở thành nạn nhân của tất cả những tệ hại do họ gây ra như ăn uống, nhậu say không trả tiền, phá phách, tiểu bậy, trêu gái, đánh lộn, kéo hàng trăm người đánh hội đồng người bản xứ khi có tranh chấp…
Những người Tầu được gửi sang Việt Nam để lao động kể trên thuộc thành phần nào? Họ có phải thuần túy là dân lao động có tay nghề hay là những quân nhân thuộc những đơn vị đặc biệt, những đặc công tình báo được gửi sang để thực hiện một mưu đồ hiểm độc lâu dài hơn? Hiện tại chưa có gì là rõ ràng mà chỉ là ức đoán. Có điều là họ hiện diện ở khắp nơi trên toàn quốc Việt Nam mà các nhà cầm quyền từ trung ương đến địa phương đều đã không kiểm soát được hay làm lơ không kiểm soát. Mặt khác, nếu nhìn vào những gì Trung Cộng đã làm ở Tân Cương, ở Mông Cổ và luôn cả ở Tây Tạng trong thời gian gần đây thì không ai là không khỏi lo ngại. Tỷ lệ số người gốc Hán ở các xứ này đã tăng gia dáng kể và sự cạnh tranh cũng như kỳ thị với sự thiên vị của nhà cầm quyền đã gây nên những cuộc bạo loạn trầm trọng. Liệu Việt Nam có thể tránh khỏi tình trạng đang xảy ra cho các nước này hay không? Ta không được biết, nhưng chỉ nhìn vào miền cao nguyên với các công trình khai thác bauxite, với lượng nhân công gốc Tầu đông đảo, phần lớn là những thanh niên chưa có hay không có vợ, hậu quả của nạn giới hạn hai con của chính quyền Trung Cộng người ta không thể không lo ngại cho tương lai của miền đất chiến lược quan trọng bậc nhất của đất nước Việt Nam này, miền đất mà Hoàng Đế Bảo Đại coi trọng đặc biệt với danh xưng Hoàng Triều Cương Thổ. Những thanh niên này sẽ lấy các thiếu nữ Thượng, sẽ sinh con đẻ cái và tất cả sẽ trở thành công dân xứ Thượng. Nếu điều này xảy ra thì rất là êm thắm, chỉ trong vòng hai thế hệ hay ba chục năm, chưa tới năm mươi năm, thời gian thuê các rừng đầu nguồn với giá rẻ mạt, những người Thượng gốc Tàu sẽ trở thành chủ nhân của các cao nguyên và qua một cuộc đầu phiếu êm ả và hợp pháp, miền đất rộng lớn, nhiều tài nguyên này sẽ trở thành của Tầu và biết đâu qua một tiến trình tương tự toàn bộ cả nước Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh mới của nước Tầu, tỉnh Quảng Nam rộng trên ba trăm ngàn cây số vuông hay hơn nữa nếu bao gồm cả hai nước Lào và Căm bốt, sau hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, biên giới phía nam nước Tầu sẽ được mở rộng tới Vịnh Thái Lan về phía nam và về phía tây, tới bờ sông Cửu Long. Đó chính là ước mơ của những người tự nhận là Đại Hán mà suốt một ngàn năm vừa qua họ không đạt được. Điều này không phải là không thể đến cho dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào và dân tộc Căm-pu-chia trong nửa thế kỷ tới. Tất cả sẽ có thể xảy ra một cách bất ngờ “trước khi người lính của chúng ta được quyền nổ súng” nói theo lời của một tướng lãnh của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam trong một đoạn video được phổ biến rất rộng rãi và trong một thời gian dài trước đây. Chỉ tiếc là tính cách chính xác của đoạn video này cho tới nay chưa được phối kiểm. Vị tướng lãnh này là Trung Tướng Phạm Văn Di, Chính Ủy Quân Đoàn 7 của quân đội này.
Những gì tôi kể ra trên đây chỉ là những gì dễ thấy và được nhiều người thấy. Còn có nhiều hiện tượng khác tiềm ẩn hơn, thâm độc hơn do người Tàu cố ý gây ra như nạn hàng hóa rẻ tiền, thiếu phẩm chất của họ tràn ngập Việt Nam trong đó có những hàng độc hại, những thực phẩm có chứa các hóa chất gây bệnh chết người hay làm hại cho sức khoẻ cho loài người nói chung mà ảnh hưởng sẽ kéo dài trong nhiều thế hệ. Việc người Tàu xây hàng loạt nhiều đập trên thượng nguồn sông Cửu Long và sông Hồng Hà đe dọa sự an toàn và phong phú của các đồng bằng châu thổ của các sông này, từ đó đe dọa cuộc sống của nhiều chục triệu người dân ở đây cũng là những hiện tượng người ta cần chú ý. Chưa hết, chuyện Trung Cộng tung tiền ra và đứng sau hai nước ở phía tây Việt Nam là Căm Bốt và Lào cũng đã và chắc chắn sẽ còn gây ra rất nhiều khó khăn cho Việt Nam mà những gì Căm Bốt đã làm trong Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN vừa qua là một bằng cớ, y hệt những gì Cộng Sản Bắc Việt đã gây ra cho Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến tranh vừa qua.
Trên đây mới chỉ là hiểm họa do người Tàu từ phương bắc đem tới. Còn có những hiểm họa khác do chính những người lãnh đạo ở Việt Nam hiện tại vì tham lam, vì trình độ hiểu biết kém cỏi, vì kiêu căng, vì mang bệnh thành tích… đã và đang gây ra cho chính dân tộc mình. Tôi muốn nói tới việc xây dựng bừa bãi và cẩu thả các đập thủy điện ở khắp nơi mà Sông Tranh 2 chỉ là một trường hợp điển hình. Nguy hiểm hơn nữa là việc xây dựng các nhà máy phát điện hạch tâm, khởi đầu là ở Phan Rang, bất chấp những kinh nghiệm khủng khiếp của người Nga ở Chernobyl, người Nhật ở Fukushima hay những sự thận trọng của người Pháp, người Đức, người Mỹ khi những người này quyết định cho đóng cửa hay ngưng hoạt động các lò điện này ở nước họ. Nga, Nhật, Mỹ, Pháp, Đức… là những nước giàu có, tiền bạc nhiều, lại có những nền khoa học và kỹ nghệ cao, những chuyên viên giỏi, những người thợ có kinh nghiệm và vững tay nghề mà còn thận trọng tối đa như vậy, còn Việt Nam mình thì mặc dầu còn kém cỏi về đủ mọi mặt nhưng đã bất chấp tất cả. Người ta đã không đếm xỉa gì đến sự cảnh cáo của dư luận quốc tế cũng như quốc nội, Giáo Sư Phạm Duy Hiển ở trong nước, Giáo Sư Nguyễn Khắc Nhẫn ở bên Pháp, những chuyên viên thượng thặng của người Việt đã hết lời can ngăn và đã viết nhiều bài điều trần với những lời lẽ vô cùng thống thiết nhưng không ai để mắt, để tai tới…cho đến khi đại họa xảy ra thì mọi sự đã quá muộn. Nên nhớ là với Fukushima, người Nhật chỉ riêng để làm sạch miền biển liên hệ đã phải bỏ ra nhiều tiền bạc, công sức và dự trù sẽ phải để ra bốn mươi năm mới thực hiện nổi. T ham nhũng và nhất là bệnh thành tích phải chăng là nguồn gốc của đại nạn này? Việt Nam phải là nhất, là cái gì cũng có, nhất là ở thời đại Hồ Chí Minh, Đỉnh Cao Của Trí Tuệ Loài Người. Cuối cùng chỉ tội nghiệp cho người Chàm vì địa điểm thiết lập những nhà máy này chỉ cách Tháp Chàm có năm cây số. Nếu chuyện gì xảy ra, con số hơn một trăm ngàn người còn sót lại của một dân tộc đã một thời hùng cứ ở miền trung và miền nam Trung Phần Việt Nam, có thời đã đánh bại người Việt, tràn ngập kinh đô Thăng Long, với một nền văn hoá giàu về hình tượng, nơi xuất thân của nhiều ca nhạc sĩ gốc Chàm sẽ một lần nữa bị tiêu diệt và lần này chắc chắn là lần chót. Nên biết thêm là nhà cầm quyền ở Việt Nam hiện dự trù sẽ thiết lập tổng cộng từ 8 đến 10 nhà máy điện hạch tâm, phần lớn là ở miền Trung mà Phan Rang chỉ là khởi đầu với 2 nhà, mỗi nhà 2 lò. Tất cả đều là mua của Nhật, Nga và luôn cả Đại Hàn sau các cuộc thăm viếng của các nhà lãnh đạo Đảng và chính phủ. Họ viện cớ là các nhà sản xuất đều nói là các lò họ làm là an toàn một trăm phần trăm nhưng ai mà tin được những kẻ ở giữa ăn huê hồng từ những hợp đồng tính từ 3 tỷ, 5 tỷ, 10 tỷ Mỹ Kim trở lên. Nếu chẳng may những vụ rò rỉ hay phát nổ của các lò xảy ra như ở Chernobyl hay Fukushima xảy ra thì một phần ba dân số cả nước, phần ba dân số bị coi là có quê hương “đất mặn đồng chua”, là “đất cày lên sỏi đá”, là “nghèo lắm ai ơi” với “mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn”, nơi “Trời làm cơn lụt mỗi năm, khiến đau thương lan tràn, ngập Thuận An…”, bây giờ lại bị đe dọa có thêm một đại nạn mới do chính các nhà lãnh đạo của nước mình gây ra treo sẵn trên đầu.
Trên đây chỉ là một số những gì đã và đang xảy ra trên đất nước Việt Nam của chúng ta mà mọi nguời ít nhiều còn quan tâm tới quê hương của mình, của ông cha mình đều nhận thấy. Còn rất nhiều chuyện khác lớn hơn, quan trọng hơn và có tính cách chiến lược hơn như sự lệ thuộc về chính trị, về kinh tế và luôn cả về văn hóa của Việt Nam vào Trung Quốc, nhất là việc cấm đoán người dân không được tỏ thái độ dù cho chỉ là để bày tỏ lòng yêu nước của mình, giam cầm, bắt bớ hành hạ, không cho họ biết tới những gì đã thực sự xảy ra liên hệ tới sự thịnh suy, tồn vong của quê hương và dân tộc họ. Đa số người dân đều mù tịt và vì mù tịt nên đa số đều dửng dưng, nếu không nói là vô cảm. Nhiều người đã ví giai đoạn mất nước và luôn cả diệt vong của dân tộc Việt Nam như một người đang hấp hối với cái chết từ bàn chân đã lên tới đầu gối và đang từ từ lên dần cho đến khi miếng bông đặt trên mũi đương sự không còn chuyển động nữa.
Câu hỏi được đặt ra là những người đang lãnh đạo đất nước ta hiện tại có biết rằng, như một truyền thống ngàn đời, Đảng Cộng Sản Trung Quốc hay ít ra là những người lãnh đạo của đảng này ngay từ những ngày đầu đã nuôi mộng làm chủ thiên hạ giống như Tần Thủy Hoàng ngày trước hay không? Hay là họ vẫn tin tưởng vào “mười sáu chữ vàng” và “bốn tốt” mà Cộng Sản Tàu đã tặng họ để tự lừa dối và lừa dối dân mình? Câu trả lời là có. Bằng cớ là năm 1979, khi hai đảng cơm không lành, canh không ngọt, môi không theo răng bị răng cắn bật máu, Cộng Sản Việt Nam không những chỉ tố cáo trước người dân ở trong nước mà còn trước dư luận thế giới qua những tài liệu do chính họ xuất bản từ Hà Nội, theo đó Mao Trạch Đông ngay từ giữa thập niên ba mươi của thế kỷ trước đã nuôi mộng theo chân Tần Thủy Hoàng muốn làm bá chủ của cả thế giới, bắt đầu là Đông Nam Á. Trong hai tài liệu nhan đề Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam-Trung Quốc Trong 30 Năm Qua bằng tiếng Việt do Nhà Xuất Bản Sự Thật ấn hành năm 1979 và tái bản năm 1980, và Chinese Aggression Against Vietnam, Dossier do Vietnam Courrier chủ biên, xuất bản ở Hà Nội năm 1979, ngay từ những trang đầu, người ta có thể đọc được những chi tiết như sau:
Ngay từ năm 1939, trong tài liệu nhan đề Cách Mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc do chính ông viết, Mao Trạch Đông đã nhận định: “Sau khi dùng chiến tranh đánh bại Trung Quốc, các nước đế quốc đã cướp đi nhiều nước phụ thuộc và một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc: Nhật chiếm Dai9 Hàn, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận, Anh chiếm Miến Điện, Bu-tan, Nê-pan và Hương Cảng, Pháp chiếm An Nam…” Tiếp đến, một bản đồ trong một sách giáo khoa đã vẽ nhiều lãnh thổ của các nước trong vùng biển Đông Nam Á và Biển Hoa Đông là thuộc Trung Hoa. Sau đó, năm 1959, trong một buổi họp của Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, khi nói về bang giao quốc tế, Mao Trạch Đông phát biểu rõ hơn nữa về tham vọng thống trị toàn cầu của mình. Lãnh tụ này nói: “Chúng ta phải chinh phục trái đất. Mục tiêu của chúng ta là toàn thể trái đất” hay hạn hẹp hơn và kế hoạch hơn: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Châu Á bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái lan, Miến Điện, Mã Lai Á và Tân Gia Ba. Một vùng như Đông Nam Châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy… Sau khi giành được Đông Nam Châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Sô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây”.
Về sự lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở biên giới Trung Việt, qua tài liệu Chinese Aggression Angainst Vietnam , Cộng Sản Hà Nội tố cáo Trung Quốc vi phạm các Công Ước 1887 và 1895 ký kết giữa Nhà Thanh và nước Pháp, lấn chiếm 60 địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam ngay từ trước năm 1949, sau đó, từ sau năm 1949, bất chấp sự xác nhận lại các công ước này bởi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà vào năm 1957-1958, Cộng Sản Bắc Kinh lại sáp nhập thêm trên 90 địa điểm khác ở biên giới giữa hai nước. Chưa hết, cũng theo tài liệu này, từ sau năm 1974 con số các cuộc xâm nhập lại tiếp tục gia tăng mạnh mẽ hơn với 179 vụ năm 1974, 294 vụ năm 1975, 812 vụ năm 1976, 873 vụ năm 1977 và 2.175 vụ năm 1978. Cuối cùng ngày 10 tháng 2 năm 1979, hai tiểu đoàn chính quy Trung Cộng đã tiến sâu 2 cây số vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm đồn kiểm soát Thanh Loa, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Vẫn chưa hết, trong trận chiến biên giới Hoa Việt lần thứ hai 1984-1987, sau một trận đánh ác liệt ở núi Lão Sơn, mà người Việt quen gọi là Núi Đất hay tọa điểm 1502, thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, quân Trung Cộng đã chiếm được núi này, 3.700 lính phòng thủ Việt Nam đã hoàn toàn bị tiêu diệt, xác của họ đã bị đơn vị chống hóa chất của bên địch thiêu hủy không còn vết tích. Lão Sơn không phải là tọa điểm duy nhất bị quân Trung Cộng đoạt mà còn nhiều tọa điểm khác như các tọa điểm 1030, 852, 211, 138, 156, 166, 167, 168… nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Sau trận này Việt Nam đã mất thêm từ 600 đếm 1000 cây số vuông lãnh thổ về tay Trung Quốc. Có điều lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giấu nhẹm không cho dân chúng biết gì về trận chiến bi thảm này cho mãi đến khi Trung Cộng phổ biến phần nào trên các mạng của họ. Điều nên biết là trong thời gian này Trung Cộng luôn luôn dùng thủ đoạn cho di dân của mình sang khai thác đất đai hay cư ngụ trên lãnh thổ thuộc Việt Nam dọc biên giới, rồi sau đó áp lực bắt Việt Nam phải công nhận những vùng đất này là thuộc nước họ. Sự kiện này giải thích tại sao lại có chuyện điều đình và sửa lại các công ước mà trước Nhà Thanh đã ký với Pháp mà nội dung đã được hai phía làm sáng tỏ không lâu, trong các năm 1957, 1958 trước đó, như tôi đã nói ở trên qua các hiệp ước 1999, 2000. Chiến thuật này đang được họ dùng ở Biển Đông trên một quy mô rộng rãi hơn, lớn hơn qua việc họ chiếm Hoàng Sa và một số đảo thuộc Quần Đảo Trường Sa rồi tìm cách hợp thức hóa sau này. Việt Nam giấu nhẹm nhưng Trung Cộng thì coi là quan trọng và quảng bá rộng rãi. Họ đã cho công bố hình ảnh Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương tới thăm địa điểm Lão Sơn này, kèm theo hình ảnh những công sự và đường sá mà họ thiết lập sau đó, nhắm về phía Việt Nam. Những sự kiện này khiến cho những ai quan tâm đến sự sống còn của đất nước không khỏi không liên tưởng tới sự kiện Giang Trạch Dân đã bay thẳng từ Trung Quốc đến bơi ở biển Mỹ Khê, Đà Nẵng như là biển nhà của mình thay vì phải qua Hà Nội gặp chủ nhà trước, hay Hồ Cẩm Đào đến bơi ở biển Hội An khi đến dự Hội Nghị OPEC, hay chuyện Đảng Cộng Sản Việt Nam cho phép và bảo vệ các thanh niên người Hoa rước đuốc thế vận qua Saigon và các đảo trong khi mọi cuộc tụ tập của người Việt đều bị đàn áp, cấm đoán.
Trước tình trạng cực kỳ nguy hiểm kể trên, câu hỏi được đặt ra là khả năng đề kháng của người Việt Nam như thế nào và những người có trách nhiệm bảo vệ đất nước và sự tồn vong của dân tộc đã có thái độ ra sao và đã làm gì? Để trả lời cho câu hỏi này, có lẽ chúng ta còn cần có nhiều buổi hội thảo khác với những đóng góp của nhiều thuyết trình viên khác. Tạm thời tôi chỉ xin mời quý vị đọc lại bản kiến nghị mà tôi đã đề cập đến trong phần đầu của bài thuyết trình hay những bức thư mà Hòa Thượng Thích Quảng Độ hay những bài viết của nhiều vị nhân sĩ, trí thức như Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc và nhiều người khác ở trong nước viết trong ít năm gần đây. Trước khi ngưng lời, tôi xin được trích dẫn lời của Thiếu Tướng Lê Duy Mật, nguyên phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân Khu 2, chỉ huy trưởng Mặt Trận Hà Giang trong thời gian chiến tranh biên giới, khi ông trả lời Biên Tập Viên Mặc Lâm của Đài Á Châu Tự Do, RFA, ngày 17 tháng 2 năm 2013 về sự kiện là “nhiều gia đình liệt sĩ của cuộc chìến 1979 đã không biết hài cốt con em mình nằm tại đâu vì sau đợt cắm mốc biên giới thì phần đất Việt Nam chôn hài cốt liệt sĩ đã thụt sâu về phía Trung Quốc. Thiếu tưóng có nghĩ rằng nhà nước phải làm một điều gì đó để mang lại công bằng cho những người này hay không?”. Nguyên văn câu trả lời của Tướng Lê Duy Mật như sau:
“Nhà nước ta lệ thuộc không dám nói gì với Trung Quốc, nếu không phải bàn với ngoại giao Trung Quốc, quân đội Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc thì mới có thể giải quyết được”.
Câu trả lời của Tướng Mật là về các liệt sĩ đã hy sinh trong trận chiến Việt Trung 1979 và 1984-1987, nhưng nội dung của nó đã bao gồm toàn bộ các vấn đề liên hệ đến bang giao Trung-Việt trong hiện tại. “Nhà nước ta lệ thuộc không dám nói gì với Trung Quốc” là nguồn gốc của tất cả. Đó là lý do tôi lựa chọn đề tài cho buổi thuyết trình ngày hôm nay, chưa kể tới tình trạng vô cảm của không ít người Việt trước hiện tình vô cùng nguy hiểm của đất nước, sự mất tin tưởng của đa số người dân và sự bất lực của giới trí thức và sự bất cập không đối phó được với tình thế mới trong mọi sinh hoạt từ chính trị đến kinh tế, xã hội và luôn cả văn hóa ở Việt Nam sau 38 năm Cộng Sản làm chủ toàn thể đất nước, và 27 năm đổi mới. Lãnh đạo cấp cao của hai đảng Cộng Sản đã thỏa hiệp với nhau những gì trên đầu người dân Việt Nam từ sau cuộc chiến biên giới Trung-Việt, từ sau Hội Nghị Thành Đô 1990, từ sau những buổi gặp gỡ của Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và sau này Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang với các nhà lãnh đạo Trung Quốc? Chỉ có những người này mới biết được nhưng không bao giờ và sẽ chẳng bao giờ họ nói ra cả. Về điểm này, tôi xin được nhắc lại lời Vua Lê Thánh Tông dụ bọn các ông Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy năm Hồng Đức thứ tư, 1473, nguyên văn như sau:
“Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di.”
Lịch sử đã được chép, đang đuợc chép và sẽ còn được chép dù cho môn sử học, vì lý do nào đó, trái với truyền thống của dân tộc, trái ngay cả với nhận định “dân ta phải biết sử ta” của Hồ Chí Minh và ngược lại với chương trình giáo dục của bất cứ quốc gia độc lập và có chủ quyền nào, kể cả các quốc gia tiền tiến về khoa học và kỹ thuật, không còn được coi là quan trọng trong chương trình giáo dục của Việt Nam hiện tại. Đây cũng là một lý do khác đã và đang làm cho chúng ta mất nước.
Để kết luận ta có thể nói rằng những gì đang xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam dưới sự cai trị của người Cộng Sản hoàn toàn trái với thời người Việt Quốc Gia trước đó. Với Người Việt Quốc Gia dù là ở bất cứ thời nào, từ Chính Phủ Trần Trọng Kim hồi năm 1945, xuyên qua Quốc Gia Việt Nam hồi trước năm 1954, rồi Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa ở miền Nam, sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc luôn luôn được coi là tối quan trọng và mọi người phải có nhiệm vụ bảo toàn. Lịch sử đã chứng minh điều này.
Xin cảm ơn Quý Vị đã kiên nhẫn lắng nghe hay đã đọc và đọc lại bài thuyết trình này. Xin kính chào Quý Vị.
Chú thích: Đây là phần tóm lược bài thuyết trình tác giả trình bày tại buổi hội thảo mang chủ đề “38 Năm Nhìn Lại: Hiện Tình và Tương Lai Việt Nam” do Hội Ái Hữu Bưởi – Chu Văn An Nam California tổ chức ngày 14 tháng 7 năm 2013 tại Coastline Community College, Thành Phố Westminster, California.

_______________________________________________

Ý đồ đằng sau luật đặc khu và luật an ninh mạng

Dự luật cho thuê đất 99 năm trong đặc khu kinh tế là trò dương đông kích tây nhằm đánh lạc hướng dư luận xã hội của đảng csVN và sự kiện đặc khu chỉ bịp được những đứa ngu Hồ, mù đảng, cuồng cộng mà thôi. Quả bom 99 năm mà bộ chính trị tung ra cho mọi cặp mắt đổ dồn vào trút đổ phẫn nộ, tạo điều kiện cho thủ tướng Phúc đăng đàn hạ nhiệt, bảo là chính phủ lắng nghe ý kiến của người dân rồi kỳ kèo bớt một thêm hai và chốt lại thời hạn cho thuê đất “theo luật pháp quy định” để danh chính ngôn thuận giao đất cho Tàu.
Bên cạnh đánh lạc hướng dư luận với con số cho thuê đất 99 năm, lãnh đạo cộng sản lệnh cho các con chim mồi bắt loa “nhắc nhở” cho người dân biết luật đất đai hiện hành, quy định cho thuê đất đến 70 năm. Khi thủ tướng Phúc lên loa đài lu loa bảo lùi thời gian cho thuê đất, rồi làm đúng theo luật đất đai hiện hành là đã phần nào giải tỏa được áp lực của người dân? Điều đó cho chúng ta thấy thời hạn cho thuê đất chỉ là “diện”và “điểm” của bộ chính trị muốn đạt được là giao đất cho Tàu không gặp sự phản ứng mạnh của nhân dân Việt Nam, vì chính phủ có lắng nghe ý kiến của dân và làm theo luật pháp quy định!
Dự luật đặc khu đã gặp sự phản kháng quyết liệt của người dân Việt Nam buộc lãnh đạo cộng sản phải xoa dịu lòng dân qua truyền thông báo chí, tuyên bố hoãn ngày bỏ phiếu thông qua luật đặc khu kinh tế, là kế hoãn binh của Bộ chính trị. Dù thế động thái lùi bước của csVN, vẫn không ngăn được các cuộc xuống đường quy mô lớn trên diện rộng khắp cả nước, với quan điểm rõ ràng trong các khẩu hiệu biểu tình chứa nội dung như sau:
“Không cho Trung Quốc thuê đất dù chỉ một ngày; Đả đảo bè lũ tay sai bán nước; Đả đảo cộng sản nhượng đất cho Tàu; Cho thuê đất 99 năm là nô lệ cho Tàu cộng; Vì lợi ích dân tộc Việt Nam chúng tôi phản đối đặc khu Trung Quốc…”
Hoãn lại việc bỏ phiếu thông qua luật đặc khu chỉ là màn câu giờ để cho ban tham mưu của bộ chính trị tương kế tựu kế, tìm cách thông qua luật đặc khu để giao đất cho Tàu. Việc quyết tâm giao đất cho Tàu được thể hiện qua các luận điệu tuyên truyền cho đặc khu kinh tế của lực lượng tuyên truyền viên, dư luận viên và các tên bồi bút, báo nô lu loa bịp bợm, láo lừa người dân trên các phương tiện truyền thông lề đảng như sau:
“Trên thế giới, các mô hình “đặc khu kinh tế”, “đặc khu hành chính”, “thành phố tự do”, “thành phố công nghiệp-công nghệ cao”, “thành phố thông minh”… với cơ chế, chính sách mở, thông thoáng và ưu đãi đã được nhiều quốc gia áp dụng và phát triển thành công từ rất sớm, tạo động lực lan tỏa cho cả nền kinh tế phát triển.
Đặc khu kinh tế Thâm Quyến, Thượng Hải (Trung Quốc), Dubai (UAE), Khu kinh tế tự do Incheon, Thành phố quốc tế tự do Jeju (Hàn Quốc)… là những ví dụ điển hình cho sự thành công của các mô hình này.
Hiện nay, nhiều quốc gia vẫn tiếp tục phát triển các đặc khu với quy mô lớn hơn, mức độ tự do, ưu đãi và cạnh tranh cao hơn trên nhiều lĩnh vực nhằm mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế-xã hội.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII, Văn kiện Đại hội X và XII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 được Đại hội XI của Đảng thông qua, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 được Quốc hội phê duyệt đều đã thể hiện rõ chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta đối với việc xây dựng và phát triển mô hình đặc khu kinh tế, đơn vị hành chính kinh tế – đặc biệt.”
Đọc các bài viết tuyên truyền cho đặc khu, đọc dự thảo luật và danh mục kinh doanh, sản xuất trong các đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc… so sánh với các khu kinh tế của UAE, Hàn Quốc, Malaysia… không khó cho chúng ta thấy có rất ít điểm tương đồng nhưng có rất nhiều khác biệt của cái mà csVN gọi là chính sách mở, cơ chế thông thoáng nhiều ưu đãi thu hút đầu tư… tạo động lực lan tỏa làm đầu tàu lôi kéo kinh tế cả nước phát triển!
Thực sự của cái gọi là cơ chế thông thoáng thu hút đầu tư nước ngoài ở đặc khu kinh tế chỉ là trò bịp bợm, láo lừa của bộ chính trị csVN. Cụ thể láo lừa, bịp bợm của bộ chính trị nằm trong dự thảo luật đặc khu kinh tế gọi là chính sách mở, cơ chế thông thoáng thu hút đầu tư nước ngoài đã bị luật an ninh mạng đóng sập cách cửa cơ chế thông thoáng, chính sách mở…
Luật an ninh mạng có nhiều điều luật khá buồn cười sẽ được phân tích trong một bài viết khác. Ở đây chúng ta chỉ bàn đến luật an ninh mạng đóng sập các cánh cửa thông thoáng, thu hút đầu tư nước ngoài làm đầu tàu lôi kéo kinh tế cả nước phát triển như lời lãnh đạo csVN nói!
Có lẽ, đa phần người dân đều biết, là sau 20 năm mở cửa hội nhập kinh tế thế giới và hơn 10 năm gia nhập WTO với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảng csVN đã ký kết hứa hẹn sửa đổi luật, thực thi tuân thủ luật chơi quốc tế để được gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO) nhưng đến hôm nay với luật an ninh mạng đã đóng sập cách cửa “thông thoáng” kéo nền kinh tế Việt Nam quay trở lại trước thời mở cửa.
Nói cách khác với luật an ninh mạng đã biến nền kinh tế thị trường đồ đểu cộng sản trở về nền kinh tế đồ đá xã hội chủ nghĩa. Nó chẳng có cơ chế thông thoáng, ưu đãi nào ở đây cả bởi luật An ninh mạng đã chống lại chuẩn mực quốc tế mà csVN cam kết tuân thủ lúc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), lúc tham gia đàm phán hiệp ước đối tác xuyên Thái Bình Dương (PPT), và lúc ký kết hiệp định thương mãi tự do với Liên Âu như:
– Dịch vụ viễn thông của công ty nước ngoài cung cấp qua biên giới, không quy định phải đặt máy chủ lưu trữ dữ liệu có cơ quan đại diện trên lãnh thổ Việt Nam.
– Không bên nào được sử dụng hoặc lựa chọn địa điểm lắp đặt các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong phạm vi lãnh thổ của mình, để xem đó như điều kiện để được phép kinh doanh trong lãnh thổ đó.
Thế nhưng luật an ninh mạng của Việt Nam đã vi phạm cam kết với các tổ chức thương mại thế giới ở điều 25, khoản 3,4 và điều 26, khoản 3, khoản 2 mục a, d đính kèm theo đây:
“Điều 25: Bảo vệ an ninh mạng đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế:
khoản 3: Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ an ninh mạng theo thẩm quyền quản lý; chịu sự quản lý, thanh tra, kiểm tra và thực hiện các yêu cầu về bảo vệ an ninh mạng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Khoản 4: Tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế có trách nhiệm tạo điều kiện làm việc, thực hiện các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ cần thiết để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và bảo đảm an ninh mạng khi có yêu cầu.
Điều 26: Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng:
Khoản 2: Cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước khi cung cấp dịch vụ trên không gian mạng hoặc sở hữu hệ thống thông tin tại Việt Nam phải:
Mục a: Thiết lập cơ chế xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; bảo mật thông tin, tài khoản của người dùng; cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản;
Mục d: Lưu trữ tại Việt Nam đối với thông tin cá nhân của người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam và các dữ liệu quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; đặt trụ sở hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.
Khoản 3: Chính phủ quy định cụ thể các loại thông tin phải lưu trữ tại Việt Nam và các cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ trên không gian mạng phải đặt trụ sở hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam tại điểm d khoản 2 Điều này.”
Đọc các điều, khoản, mục và lọc lựa trong đống hỗ lốn dự thảo luật đặc khu kinh tế và luật an ninh mạng chỉ ra cho chúng ta thấy bộ chính trị csVN lập ra đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc không nhằm phục vụ cho mục tiêu kinh tế mà nó phục vụ cho ý đồ chính trị do những nguyên do sau:
– Thành lập đặc khu kinh tế với chính sách, cơ chế thông thoáng để thu hút đầu tư. Sao lại ra luật an ninh mạng buộc các công ty, cơ quan, tổ chức phải lưu trữ các loại dữ liệu thông tin phải đặt trụ sở (máy chủ) văn phòng đại diện tại Việt Nam. Như thế trái với chuẩn mực quốc tế, vi phạm cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Làm thế là tạo thêm khó khăn cho đầu tư nước ngoài, chẳng khác nào đuổi khách đi đóng sập các cánh cửa lại!
– Thành lập đặc khu kinh tế bà chủ tịch quốc hội nói vừa làm vừa thử nghiệm. Thế thì tại sao đại biểu Trương Trọng Nghĩa đề nghị làm một đặc khu trước để vừa làm vừa thử nghiệm nhằm tránh rủi ro thất bại thảm hại như các nước đi trước gặp phải, mà các lãnh đạo trách nhiệm chỉ đạo thành lập đặc khu phớt lờ ý kiến sáng suốt, thận trọng của ông Nghĩa?
– Thành lập đặc khu kinh tế sao lại chọn các vị trí địa chính trị chiến lược có ý nghĩa quan trọng trong việc canh chừng và bảo vệ Biển Đông? Như thế cho mọi người thấy đặc khu không phục vụ cho mục tiêu kinh tế mà phục vụ cho mục tiêu chính trị và cũng không phải phục vụ mục tiêu chính trị của Việt Nam mà tạo điều kiện cho Tàu khống chế, xác lập chủ quyền bản đồ hình lưỡi bò trên Biển Đông?
Ý đồ thật sự dằng sau luật đặc khu, luật an ninh mạng của Việt cộng với Tàu cộng không chỉ là Biển Đông mà đặc khu còn là bước chuẩn bị cho kế hoạch sáp nhập Việt Nam vào Tàu không cần tiếng súng và không khó để chúng ta nhận ra ý đồ của bộ chính trị csVN:
1) Làm luật an ninh mạng buộc đặt máy chủ ở Việt Nam là nhằm đuổi Google, Facebook, Youtube đi để thay Weibo, Baidu, Tencent vào “tỉnh lỵ Việt Nam” như cộng sản Tàu đã làm ở Trung Quốc. Như thế là csVN, một lần nữa thực hiện có ý đồ đuổi văn minh “tây phương” để rước man rợ “Tàu” vào.
2) Chọn Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc làm đặc khu là khóa chặc Việt Nam trong vòng tay của Trung Quốc để Việt Nam không còn cơ hội cho Mỹ thuê cảng Cam Ranh. Sự hiện diện của Mỹ ở Cam Ranh thì tham vọng Biển Đông và âm mưu biến Việt Nam thành một tỉnh lỵ sẽ không thể như ý chúng muốn được.
Trong những ngày tháng tới, luật đặc khu, luật an ninh mạng phải được quốc hội gật thông qua vì nó là chủ trương lớn của đảng và đặc khu phải được thành hình vì đảng đã ký hợp đồng sang nhượng cho Tàu. Tất cả cái gọi là đưa ra quốc hội bỏ phiếu thông qua chỉ là diễn trò, là bước đi chiến lược thôn tính Việt Nam của bá quyền Đại Hán, có sự hà hơi, tiếp sức của các tên tay sai làm nội tuyến, cài cắm trong đảng csVN.
Le Nguyen
danlambaovn.blogspot.com
——–
Ý kiến độc giả :

Tụi VC nêu ra những tiền lệ trên thế giớí qua việc cho thuê đất làm “Đặc Khu” để tự cho rằng việc mình cho Trung Cọng thuê đất 99 năm là việc thường tình.

Luận điệu này chỉ lừa bịp được kẻ ngu ngơ mà thôi, chứ người có chút suy nghĩ đều biết rõ rằng khi mình giao một bầy gà nhờ con trâu hay con bò chăn giữ thì chẳng mất một con nào, nhưng nếu nhờ bọn chồn cáo ngoài rừng về chăn nuôi bầy gà cho mình thì chỉ trong một đêm, bầy gà liền bị xé xác và nuốt trọn bởi lũ chồn cáo này. Trung Cọng chính là lũ chồn cáo đó.
Nước Mỹ khi chiếm giữ nước Nhật sau đệ nhị thế chiến đã làm cho nước Nhật phát triển tiên tiến hơn các nước láng giềng và sau đó trả lại quyền cai trị cho nhân dân Nhật Bổn lên một nước Nhật “mới” huy hoàng và văn minh tráng lệ. Nước Mỹ cũng giúp giải phóng nước Nam Hàn và làm cho Nam Hàn phát triển văn minh tột độ như ngày hôm nay mà không hề chiếm giữ một phần đất nào của họ.
Trái lại, Cọng Sản đến được chỗ nào liền chiếm cứ chỗ đó làm của riêng mình. Khi nước Nga Cọng Sản chiếm cứ các nước lân bang thì sát nhập tất cả vào Liên Bang Soviết của mình, áp đặt chế độ vô sản cai trị dân bằng đàn áp và bóc lột tận xương tuỷ. Tàu Cọng khi lấn chiếm Mông Cổ, Tây Tạng, Tân Cương thì không bao giờ nhả ra mà nuốt chửng làm thuộc địa của họ. Bắc Việt Cọng Sản lấy cớ “giải phóng” miền Nam Việt Nam, đã dùng bạo lực súng đạn của Nga Tàu để cưởng chiếm cướp bóc và áp đặt chế độ đàn áp tàn bạo lên người dân, đẩy họ vào nhà tù, đưa họ vào các miền đất hẻo lánh của vùng kinh tế mới hầu chiếm cứ thánh phố, đoạt nhà cửa và tài sản của dân.
Đến nay, dù toàn dân có bị chúng đâm đui mắt cũng đã biết và nếm được mùi vị gian trá của “đặc khu”, “thuê đất”, “giải phóng” của Cọng Sản ra sao.
Chỉ có bọn giòi bọ trong đống cứt mới có thể tin vào lời nói của Cọng Sản mà thôi.
Kim Hoa Bà Bà
This entry was posted in Tài Liệu. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s