Donald J. Trump và ba bản Federalist – Bài 1

james-madison

James Madison (1751-1836)

Donald J. Trump và ba bản Federalist (1)

Không kể bị nhiều dân Mỹ la ó, biểu tình phản đối rầm rộ, Quyết định hành pháp (executive order), có tính luật định, nhằm tạm đình chỉ ngay lập tức sự nhập cảnh các công dân từ bảy nước có đa số theo Hồi giáo, của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã bị một thẩm phán và một tòa án vừa làm cho vô hiệu. Nhưng Tổng thống Trump không hề nao núng, ông tweet tức thời: “Hẹn các vị ở tòa án.” (See you in court.) Tóm tắt sơ lược này có thể đã đủ cho thấy cấu trúc chính trị Mỹ không dễ hiểu, không hề đơn giản và không dễ để cho bất cứ cá nhân, phe đảng muốn thâu tóm, thoán đoạt quyền lực tuyệt đối, triệt đi những tự do của người dân hay bán rẻ chủ quyền quốc gia. Đó chính là tư tưởng căn bản của những người đã tham chính lập ra “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” (The United States of America) và đã được trình bày trên mặt báo cách đây 230 năm.

Để thấy được thêm phần nào vốn tri thức vô cùng sâu rộng, tư duy chính trị hết sức sâu sắc và sự cẩn trọng vô cùng trong việc Lập quốc của những con người đó, Như Cây Tre Việt Nam trân trọng giới thiệu bản dịch của 3 trong số 85 bài Luận về Chính quyền Liên bang (Federalist Papers) của những nhà lập quốc Mỹ. Đó là các bài: Federalist 10, Federalist 51 và Federalist 39 (trích từ bản dịch trọn vẹn).

FEDERALIST 10
(Phạm Hồng Sơn dịch)

Liên hiệp là giải pháp chống nạn bè phái và nổi loạn (tiếp theo)

Từ New York Packet
Thứ Sáu, 23 tháng Mười một 1787*

James Madison

Kính gửi Nhân Dân tiểu Bang New York:

Trong số nhiều ưu thế hứa hẹn từ một Liên hiệp được xây dựng cẩn thận[1], không ưu thế nào đáng được thiết kế cẩn thận hơn khuynh hướng dập tắt và kiểm soát tính bạo động của nạn bè phái.

Bạn hữu của các chính thể bình dân[2] cũng không bao giờ thấy lo lắng cho tương lai và khí chất của các chính thể này bằng lúc chiêm nghiệm thiên hướng chúng thường sa vào cố tật nguy hiểm đó.

Do vậy, những người ủng hộ chính thể bình dân sẽ luôn trân trọng mọi kế hoạch đưa ra được cách chữa trị đúng đắn cho cố tật này nhưng không phạm vào các nguyên tắc máu thịt của họ.

Bất ổn, bất công và hỗn loạn xảy ra trong các cơ quan công quyền[3] luôn thực sự là các chứng bệnh hiểm nghèo làm chính quyền bình dân ở mọi nơi liên tiếp sụp đổ; chúng cũng liên tục là những chủ đề hấp dẫn và màu mỡ cho các đối thủ của tự do dựng ra những xảo ngôn bậc nhất.

Những cải tiến giá trị do các bản hiến pháp của Mỹ[4] mang đến cho các mô hình bình dân, cả cổ đại và hiện đại, chắc chắn không phải đang được ngợi khen quá lời; nhưng sẽ là thiên vị không thể chấp nhận nếu cho rằng chúng đã thực sự loại đi được mối nguy đó như chúng ta mong muốn, trông đợi.

Các ta thán vẫn vang lên khắp nơi, từ những công dân đức hạnh nhất, thận trọng nhất cho tới những bằng hữu của đức tin chung và riêng, những thân hữu của tự do công cộng và cá nhân, tất cả đều cho rằng các chính quyền của chúng ta quá bất ổn, rằng phúc lợi chung bị khinh rẻ trong các xung đột bè đảng kình địch[5], và rằng các vấn đề luôn luôn được giải quyết không theo nguyên tắc công lý, tôn trọng quyền thiểu số, mà bằng sức mạnh vượt trội của một phe đa số tư lợi, áp chế.

Dù chúng ta hết lòng cầu mong những ta thán đó là vô căn cứ, các chứng cứ từ những sự kiện hiển hiện sẽ không cho phép chúng ta phủ nhận rằng chúng có một phần sự thật. Quả thật, bằng con mắt ngay thẳng nhìn lại hiện trạng, chúng ta sẽ phải thấy có một số vấn nạn đã bị qui nhầm trách nhiệm cho sự vận hành của các chính quyền của chúng ta; nhưng đồng thời chúng ta cũng sẽ thấy, các lý do khác không thể tự lĩnh hết trách nhiệm cho những vấn nạn tồi tệ nhất; và, đặc biệt, cho sự bất tín đang dâng trùm lên các hoạt động công quyền, và sự báo động cho các quyền cá nhân, tất cả đang ầm ầm tràn lan khắp lục địa. Những vấn nạn đó chủ yếu, nếu không phải hoàn toàn, là hậu quả của tính bất nhất và bất công do đầu óc bè phái lây nhiễm vào các cơ quan công quyền của chúng ta.

 james-madison
James Madison (1751-1836)

Một bè phái, theo tôi hiểu, là một số công dân, dù đạt đa số hay thiểu số của toàn bộ, hợp lại với nhau, và do một hối thúc chung nào đó, khát vọng hoặc quyền lợi, cùng hành động ngược quyền của các công dân khác, hoặc trái các lợi ích lâu dài và toàn thể[6] của cộng đồng.

Có hai phương pháp chữa trị các nghịch thói của bè phái: một, loại bỏ các nguyên nhân sinh ra nó; hai, kiểm soát các tác động của nó.

Để loại các nguyên nhân sinh ra bè phái cũng có hai cách: một, phá bỏ tự do – cái cốt yếu cho bè phái tồn tại; cách kia, làm cho mọi công dân luôn có cùng một quan điểm, cùng một đam mê và cùng các lợi quyền giống hệt nhau.

Thật không có lời nào đúng hơn để nói về cách chữa thứ nhất: thuốc chữa hiểm hơn căn bệnh. Tự do cho bè phái cũng như không khí cho lửa, thiếu nó lửa phụt tắt. Nhưng xóa bỏ tự do, điều tối cần của đời sống chính trị, vì nó nuôi dưỡng bè phái chẳng kém ngu hơn việc cầu cho hết sạch khí trời, cái thiết yếu của đời sống động vật, vì nó dung dưỡng ngọn lửa phá hoại.

Cách thứ hai lại thiếu tính khả thi như cách thứ nhất thiếu sự khôn ngoan. Chừng nào lý trí con người còn sai lầm và chừng nào con người còn tự do tư duy, các ý kiến khác nhau còn hiện diện. Chừng nào cầu nối giữa lý trí và lòng tự ái[7] của con người còn thông thương, nhãn quan và dục vọng của con người còn ảnh hưởng lẫn nhau; và những cái trước sẽ còn bị những thứ sau đeo bám.

Sự đa dạng của năng lực con người, nguồn gốc sinh ra các quyền của cải, là một ngáng trở không kém nan giải cho ý muốn đồng nhất hóa mọi ham muốn, quan tâm. Bảo vệ những năng lực đó là nhiệm vụ đầu tiên của chính quyền. Sự bảo vệ các năng lực khác nhau và không bằng nhau trong việc thủ đắc của cải sẽ chắc chắn đưa ngay tới tình trạng sở hữu không giống nhau các tài sản khác nhau; và từ tác động của các tình trạng này lên tình cảm, tầm nhìn của các chủ sở hữu tương ứng sẽ đưa tới sự phân chia xã hội thành các nhóm quyền lợi khác nhau, các phe đảng khác nhau.

Như vậy, những nguyên nhân tiềm tàng của bè phái đã được cấy ngay trong bản thể con người; và chúng ta thấy chúng khắp nơi với các mức hoạt động khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh khác nhau của xã hội công dân[8].

Sự nhiệt thành với các quan niệm khác nhau về tôn giáo, về chính thể, và về nhiều vấn đề khác, trong suy luận cũng như hành động; sự gắn bó với các thủ lĩnh khác nhau cùng đua đấu quyết liệt vì danh tiếng và quyền lực; hoặc với những người có các tố chất khuấy động lòng người khác nhau, tất cả rốt cuộc đã chia loài người thành những phe đảng khác nhau, thổi bùng lòng hằn thù lẫn nhau, và khiến họ dễ hục hặc, hiếp đáp nhau hơn rất nhiều thay vì phải hòa hợp cùng nhau cho phúc lợi chung.

Thiên hướng thù địch giữa con người mạnh tới mức nếu không có điều kiện đặc biệt, những khác biệt tầm phào, cảm tính nhất cũng đủ khơi ra cừu địch và làm nổ ra các xung đột bạo liệt nhất[9]. Nhưng cội nguồn thông thường, dai dẳng nhất của bè phái là sự phân phối bất bình đẳng, đa dạng về của cải. Những người có và những người không có của cải đã từ lâu là những nhóm lợi quyền khác hẳn nhau trong xã hội. Những người là chủ nợ và những người là con nợ, cũng rơi vào tình trạng phân rẽ tương tự.

Quyền lợi của chủ đất, quyền lợi của chủ máy, quyền lợi của thương nhân, quyền lợi của nhà giàu, cùng với cơ man quyền lợi nhỏ hơn khác, sẽ tất yếu hình thành trong các dân tộc văn minh và chia họ thành các giai cấp khác nhau có hành động theo các nhận thức và nhãn quan khác nhau. Điều chỉnh những quyền lợi, ham muốn vừa đa dạng vừa đụng chạm nhau như thế là nhiệm vụ cơ bản của pháp luật hiện đại, và là sự can dự vào tinh thần phe đảng, bè phái trong các hoạt động thông thường, thiết yếu của chính quyền.

Không ai được phép làm người phân xử trong chính vụ việc của họ, vì quyền lợi của họ chắc chắn sẽ làm thiên lệch phán xét và, không phải không thể, làm mục ruỗng đức liêm chính của họ. Tương tự, không, phải là quan trọng hơn, một nhóm người không thể cùng lúc vừa là người phân xử vừa là các bên tranh chấp; và biết bao các luật quan trọng nhất còn là gì khi quá nhiều quyết định tư pháp thực tế chẳng lo gì cho quyền của những con người riêng biệt mà lại lo cho quyền của các khối công dân to lớn? Các nhóm đại diện lập pháp thuộc các giai tầng khác nhau còn ích gì khi họ chỉ là những cổ xướng viên, những phe đảng vì những mục tiêu họ đã quyết? Một dự luật liên quan tới nợ tư ư? Là vấn đề sẽ làm giới chủ nợ đứng về một bên và những con nợ dạt sang bên kia. Công lý cần phải giữ cho được cân bằng giữa hai phía.

Tuy nhiên, các bên tranh chấp lại đang, và buộc phải, là chính người phân xử; và phe đông đảo nhất, hay, nói cách khác là phe mạnh nhất, chắc chắn sẽ áp đảo. Sản xuất nội địa phải chăng sẽ được khuyến khích lên một mức bằng cách hạn chế các sản phẩm ngoại quốc là những vấn đề sẽ có sự định đoạt khác nhau giữa giới chủ đất và giới công xưởng và rất có thể sẽ chẳng có giới nào chỉ chú tâm cho công bình và phúc lợi công cộng.

Phân bổ sắc thuế trên các loại tài sản khác nhau là hành động dường như cần phải có lòng công tâm cao nhất; và dầu chưa có hành động lập pháp nào ẩn chứa cơ hội lớn hơn, khuyến khích hấp dẫn hơn cho phe đa số đè bẹp các nguyên tắc công lý, thì mỗi đồng bạc phe đa số đang bổ vào lưng phe thiểu số là một đồng tiết kiệm cho hầu bao của riêng họ.

Thật hão huyền khi cho rằng các chính trị gia thông thái sẽ có khả năng điều chỉnh các quyền lợi đối kháng đó và làm cho tất cả phải phục vụ phúc lợi công. Hơn nữa, các chính trị gia thông thái không phải luôn luôn giữ được kiểm soát[10]. Nhiều khi, một sự điều chỉnh như thế cũng không thể làm được nếu không xét tới các nguyện vọng âm thầm và xa xôi, những điều hiếm khi vượt qua được các quyền lợi cấp thời của một phe đảng luôn bất chấp lợi quyền của người khác hoặc của toàn xã hội[11].

Chúng ta buộc phải suy ra rằng các NGUYÊN NHÂN GỐC RỄ của nạn bè phái là không thể loại bỏ, và cách chữa duy nhất chỉ nằm trong việc kiểm soát các TÁC ĐỘNG của chúng mà thôi.

Khi một bè phái nhỏ hơn đa số, cách chữa nằm ngay trong nguyên lý cộng hòa – cho phép đa số bác bỏ các quan điểm nguy hại thông qua lá phiếu thường kỳ. Bè phái này có thể gây ách tắc chính quyền, làm náo động xã hội nhưng không có khả năng thực thi và che giấu bạo hành dưới các vỏ bọc Hiến pháp[12]. Nhưng khi một bè phái đạt đa số, dạng thức chính quyền bình dân lại cho nó khả năng bất chấp cả phúc lợi công lẫn các quyền của các công dân khác để thực hiện dục vọng thống trị.

Do đó, bảo đảm phúc lợi công và các quyền cá nhân trước hiểm họa của loại bè phái vừa nói, đồng thời duy trì tinh thần, nền tảng cho chính thể bình dân, là mục đích trọng tâm trong các cuộc tìm hiểu của chúng ta. Tôi cũng muốn thêm rằng đó chính là điều kiện thiết yếu để loại chính thể này có thể thoát khỏi nỗi hổ nhục nó đã phải gánh từ bao lâu, và để nó có thể xứng đáng được nhân loại trân trọng, chấp nhận[13].

Làm cách nào đạt được mục đích này? Dĩ nhiên, chỉ có thể bằng một trong hai cách. Hoặc phải ngăn không cho các thành viên của một tập hợp đa số có cùng một say mê, cùng một mối lợi vào cùng một thời điểm, hoặc cái đa số đã có cùng một mối lợi, một mối say mê như thế rồi phải bị tước đi khả năng phối hợp và thực hiện các ý định trấn áp qua cách lợi dụng số lượng hay hoàn cảnh địa phương của họ. Nếu dục vọng lại gặp được cơ hội, chúng ta biết rõ rằng khi đó cả giáo huấn đạo đức lẫn tôn giáo sẽ chẳng còn có thể trông cậy được gì. Các giáo huấn đó cũng chẳng còn thấy chống nổi những phi lý, bạo hành của con người, và hiệu lực của chúng còn suy giảm theo số người gắn kết cùng nhau, nghĩa là hiệu lực càng giảm khi nhu cầu cần chúng càng lớn[14].

Từ cách nhìn này, chúng ta có thể kết luận rằng một nền dân chủ thuần túy, với ý của tôi là một xã hội bao gồm một số ít công dân và tất cả cùng hội lại để trực tiếp điều hành chính quyền[15], không thể có cách chữa các nghịch thói của bè phái. Một tập hợp đa số ở nơi đó, gần như là luôn luôn, có cùng một quan tâm, cùng một dục vọng; việc trao đổi, phối hợp lại được chính dạng thức chính quyền đảm bảo; và, sẽ không có gì để ngăn chặn các xúi giục hiến thí phe yếu, hoặc trừ bỏ một cá nhân ương nghạnh[16]. Do vậy, các nền dân chủ như thế vẫn mãi là những thảm cảnh của rối loạn và đối đầu; chưa bao giờ thuận lợi cho an ninh cá nhân và quyền sở hữu tài sản; thường sống thì ngắn ngủi mà chết lại đau thương. Các thuyết gia bảo trợ loại chính quyền này đã sai lầm khi giả định rằng bằng cách giản đơn hóa loài người xuống mức bình đẳng tuyệt đối trong các quyền chính trị, con người sẽ đồng thời trở nên bình đẳng tuyệt hảo và trở thành đồng nhất về sở hữu, quan điểm và dục vọng.

Một nền cộng hòa, với ý của tôi là một chính quyền có áp dụng cơ chế đại diện, lại cho thấy một viễn cảnh khác và hứa hẹn phương thuốc chúng ta đang tìm. Bây giờ xin hãy cùng xem những điểm khác so với nền dân chủ thuần túy rồi chúng ta sẽ thấy rõ bản chất của phương thuốc cùng tính hiệu quả do Liên hiệp chắc chắn mang lại.

Có hai khác biệt quan trọng giữa một nền dân chủ và một nền cộng hòa: thứ nhất, nhóm người trong chính quyền, ở loại sau, là một số ít công dân được bầu ra bởi toàn số công dân còn lại; thứ hai, số công dân càng tăng, không gian (sphere) lãnh thổ càng lớn, loại chính thể sau càng phát triển[17].

Hệ quả từ khác biệt thứ nhất là, một mặt, nó cho phép tinh lọc và mở rộng các tầm nhìn của cộng đồng bằng cách đưa chúng duyệt qua một nhóm công dân đã được tuyển có năng lực tốt nhất trong việc xác định những lợi hại đích thực cho quốc gia, có lòng ái quốc và yêu chuộng công lý khó có thể dám hy sinh các quyền lợi quốc gia cho những mưu tính nhất thời hay phe đảng[18]. Bằng cách này, tiếng nói của công luận, được tỏ qua các đại diện của dân, sẽ tương hợp hơn với phúc lợi công so với khi người dân tự thể hiện trong các cuộc tập hợp cầu ý. Nhưng mặt khác, cách thức này cũng có thể đưa đến hệ quả trái ngược. Những kẻ có tính khí bè phái, định kiến địa phương hoặc mưu đồ hắc ám, có thể, bằng cách lừa phỉnh, hối lộ hoặc bằng mọi cách, trước hết đoạt được phiếu bầu của dân sau quay ra phản lại các quyền lợi của dân[19]. Đến đây, câu hỏi đặt ra là: nước cộng hòa nhỏ hay lớn phù hợp hơn cho việc bầu được những người canh giữ tốt nhất cho phúc lợi công? Câu trả lời đương nhiên thuộc về nước cộng hòa lớn bởi hai luận cứ rõ ràng:

Trước tiên, cần phải thấy rằng nước cộng hòa dù nhỏ đến đâu, các đại diện cũng phải đạt tới một số nhất định đủ chống được các nhóm âm mưu gồm một số người; và dù lớn đến mấy, các đại diện cũng phải bị giới hạn trong một số nào đó để tránh tình trạng nhiễu loạn vì quá nhiều.

Vậy số đại diện trong cả hai trường hợp đều không tỷ lệ với số cử tri, và có tỷ lệ cao hơn ở nước cộng hòa nhỏ dẫn tới hệ quả là nếu tỷ lệ những người đủ phẩm chất trên tổng dân số trong nước cộng hòa lớn không ít hơn trong nước cộng hòa nhỏ thì ở nước cộng hòa lớn sẽ cho nhiều lựa chọn hơn, và đưa tới xác suất chọn được người phù hợp sẽ lớn hơn.

Tiếp theo, vì mỗi vị đại diện trong nước cộng hòa lớn sẽ được chọn bởi một số người nhiều hơn so với trong nước cộng hòa nhỏ, sẽ khó khăn hơn cho các ứng viên bất tài tiến hành các mưu chước tồi bại thường có trong bầu cử; và nếu đầu phiếu càng tự do thì càng nhiều khả năng cử tri châu tụ (centre) vào những người có phẩm chất hấp dẫn nhất, có nhân cách tỏa sáng (diffusive) và vững vàng nhất[20].

Nhưng, trong vấn đề này, như hầu hết các vấn đề khác, chúng ta phải thừa nhận cả hai trường hợp đều có một tình trạng trung dung chứa nhiều phiền toái. Khi tăng số lượng cử tri quá cao, quí vị sẽ làm cho đại diện hiểu biết quá ít các vấn đề địa phương và các quyền lợi nhỏ. Khi giảm số lượng cử tri quá thấp, quí vị làm đại diện gắn bó quá nhiều với các vấn đề đó nhưng lại quá thiếu phẩm chất để hiểu và quan tâm tới các vấn đề quốc gia lớn lao. Hiến pháp liên bang đang đưa ra một giải pháp tổng hợp tuyệt vời cho vấn đề này: quyền lợi lớn và toàn thể được ký thác cho lập pháp quốc gia[21], các quyền lợi địa phương và cá nhân giao cho các lập pháp tiểu Bang.

Một điểm khác nữa, chính thể cộng hòa có khả năng tiếp nhận số công dân và chu vi (compass) lãnh thổ lớn hơn so với chính thể dân chủ; và đây là yếu tố cơ bản khiến các câu kết bè phái ở chính thể trước ít đe dọa hơn so với chính thể sau[22]. Xã hội càng nhỏ, càng ít khả năng hình thành nhiều phe đảng, quyền lợi khác biệt; càng ít phe đảng và quyền lợi khác biệt, càng nhiều khả năng một đa số[23] nằm ngay trong một đảng; và số người trong một phe đảng chiếm đa số càng nhỏ, đồng thời lại nằm trong một chu vi cũng nhỏ thì càng dễ dàng cho phe đảng đa số phối hợp, thực hiện các mưu đồ đàn áp.Hãy mở rộng không gian, quí vị sẽ làm tăng các phe đảng, quyền lợi khác nhau; quí vị sẽ làm giảm nguy cơ một đa số của xã hội có cùng ý muốn xâm phạm các quyền của công dân khác; hoặc cả khi một ác ý như thế tồn tại, sẽ khó khăn hơn cho bọn họ tập hợp sức mạnh, và hiệp đồng để ra tay[24].

Ngoài những kìm chế khác, có thể thấy ngay rằng ở đâu có một ý đồ bất chính, bất thiện, sự trao đổi thông tin luôn bị ngăn trở bởi sự hoài nghi tỷ lệ thuận với số người tối thiểu cần hiệp đồng.

Vậy, điều đã rõ ràng là lợi thế của nền cộng hòa so với nền dân chủ trong việc kiểm soát các tác động của nạn bè phái cũng là lợi thế của nước cộng hòa lớn so với nước nhỏ và cũng là lợi thế của Liên hiệp so với các tiểu Bang thành viên.

Lợi thế đó có bao hàm chọn được những đại diện sáng suốt và đức hạnh vượt được trên các định kiến vùng miền và các toan tính bất chính? Không thể phủ nhận rằng cơ quan đại diện của Liên hiệp sẽ có khả năng cao nhất đạt được các năng lực tối cần đó.

Lợi thế đó có bao gồm an ninh tốt hơn vì sự đa dạng nhiều hơn về phe đảng sẽ chống lại bất cứ phe đảng nào có khả năng áp đảo về số lượng và toan tính đàn áp số còn lại? Đương nhiên, sự đa dạng của phe đảng trong Liên hiệp tăng sẽ làm an ninh tăng lên tương ứng.

Sau rốt, lợi thế đó có tạo được các rào chắn lớn hơn để chặn một đa số bất chính, tư lợi có thể hiệp đồng, thực hiện các toan tính bí mật? Ở đây, qui mô của Liên hiệp, một lần nữa, chứng tỏ đây là lợi thế nổi bật nhất.

Lãnh tụ các bè phái có thể làm bùng lên một đám cháy trong các tiểu Bang riêng của họ nhưng không có khả năng tràn lửa sang các Bang khác. Một giáo phái có thể suy thoái thành một bè phái chính trị[25] trong một vùng Bang liên (confederation)[26]; nhưng sự đa dạng giáo phái trải rộng khắp bang liên sẽ đảm bảo để các hội đồng quốc gia đủ sức chống được mọi mối nguy từ hiểm họa này.

Những thịnh nộ về tiền giấy[27], về xóa nợ[28], về phân phối bình đẳng tài sản, hoặc về bất kỳ dự định sai trái, quỉ quyệt nào cũng ít có khả năng lan tràn bao phủ toàn Liên hiệp so với một tiểu Bang thành viên; tương tự, bất kỳ một tệ nạn nào như thế cũng dễ quấy đảo một vùng, một quận hơn là toàn bộ tiểu Bang.

Do đó, với qui mô và một cấu trúc đúng đắn như thế của Liên hiệp, chúng ta đang có trong tay một cách chữa trị cộng hòa cho những chứng bệnh nguy hiểm nhất của chính thể cộng hòa. Và càng tự hào, vui sướng bao nhiêu vì chúng ta là người cộng hòa, chúng ta càng cần nhiệt thành cổ xướng tinh thần và ủng hộ lòng chính trực của những người Liên bang.

Publius

* Trong năm (5) nguồn người dịch tham khảo (nêu trong Lời giới thiệu) có hai (2) nguồn (www.constitution.org; bản dịch Pháp văn Le Fédéraliste của Anne Amiel, Paris Classiques Garnier, 2012.) ghi thời gian xuất bản bài này là 22 tháng Mười một 1787. Nguồn oll.libertyfund.org như thường lệ không ghi thời gian xuất bản. Hai nguồn còn lại đều ghi thời gian xuất bản là 23 tháng Mười một 1787. Nguồn Anh ngữ căn bản dựa vào để dịch : www.foundingfathers.info/federalistpapers/.

–          Các ghi chú là của người dịch. Ghi chú có chữ A.A. là dựa theo ghi chú trong bản dịch Pháp văn của Anne Amiel.

(còn 2 phần)

[1] Khi 13 thuộc địa của Anh tại Bắc Mỹ cùng nhất trí đòi độc lập khỏi sự điều hành và kiểm soát của chính quyền Hoàng gia Anh quốc, đại diện của các thuộc địa đó đã cùng nhau lập ra một mô hình nhà nước chung cho 13 thuộc địa gọi là Bang Liên (confederation). Các đại diện lập quốc đó đã thảo ra một bộ khung pháp lý (một dạng hiến pháp) cho bang liên, có tên là the Articles of Confederation. Tháng 7/1776 dự thảo pháp lý được trình cho Quốc hội lần 2 (Congress – được lập vào 10/05/1775). Nhưng vì cuộc chiến giành độc lập với Anh xảy ra, mãi tới ngày 15/11/1777 Quốc hội mới thông qua dự thảo và chuyển tiếp cho cơ quan lập pháp của các tiểu Bang để phê duyệt và tới ngày 01/03/1781 bản dự thảo mới được tất cả quốc hội các tiểu Bang phê chuẩn. Tình hình 13 tiểu Bang sau chiến thắng giành độc lập rất rối ren, có nguy cơ tan vỡ nhưng the Articles of Confederation không đủ khả năng giải quyết. Đó chính là lý do dẫn đến Hội nghị Liên bang (the Federal Convention) được triệu tập ở Philadelphia từ 25/5/1787-17/9/1787 với mục đích ban đầu chỉ nhằm tu chỉnh the Articles of Confederation. Nhưng cuối cùng Hội nghị lại quyết định làm ra một văn bản lập hiến mới với mục tiêu tạo lập một cấu trúc liên hiệp (union) nhằm gắn kết vững chắc 13 tiểu Bang nhưng vẫn đảm bảo tự do, chủ quyền cho từng tiểu Bang. Tuy nhiên vẫn có nhiều người nghi ngờ tính khả thi hoặc phản đối chống lại dự thảo hiến pháp. Những người ủng hộ bản dự thảo hiến pháp mới được gọi là Federalist – người Liên bang, còn nhóm chống lại được gọi là anti-Federalist – người Chống Liên bang.

[2] “popular government” ở đây James Madison dùng với ý phân biệt với chính thể thịnh hành lúc đó là chính thể quân chủ thế tập (hereditary monarchy) quyền lực tập trung chủ yếu trong tay một người và do đời trước truyền lại. Còn chính thể popular government là chính thể do người dân lập nên và quyền lực được phân bổ cho nhiều người trong một thời hạn nhất định. Vào thời điểm này thuật ngữ và ý niệm dân chủ (democracy) vẫn chỉ được hiểu theo nghĩa dân chủ sơ khai kiểu trực tiếp của Hy Lạp cổ đại – tất cả mọi công dân đều tham dự vào quyết định, điều hành, kể cả người khôn, có học, lẫn người kém khôn, ít học. Những nhà lập quốc Mỹ, điển hình là James Madison cùng nhóm Federalist của ông rất thiếu thiện cảm với kiểu dân chủ vừa nói. Xem thêm phần Thuật ngữ mục “Chính thể bình dân”. (Thuật ngữ sẽ được trích đăng kèm vào phần 3 của blogspot này)

[3] Nguyên văn “public councils” là một trong những thiết chế quản lý thuộc địa và giám sát sự hoạt động lập pháp của các nghị hội (assembly – với các đại diện được bầu) trong thời kỳ thuộc địa. Có thể hiểu “public council” như thượng viện và “assembly” như hạ viện sau này.

[4] Lúc này đa phần 13 tiểu Bang đã tự xây dựng Hiến pháp riêng.

[5] Lúc này tại Mỹ chưa có đảng chính trị (political party), “đảng phái” ở đây chỉ theo nghĩa các nhóm với các quan điểm khác nhau.

[6] Nguyên văn “permanent and aggregate interests”.

[7] Nguyên văn “self-love” (tự ái) – nhan đề một bài luận của David Hume (1711-1776), người Scotland, có ảnh hưởng rất nhiều tới tư tưởng của Madison và nhóm Federalist.

[8] “civil society”.

[9] Ý bi quan này về con người trùng với ý của Thomas Hobbes (1588-1679) trong Leviathan, Chương 14 và ý của Tuân Tử (kh.313-239 Tr.CN).

[10] Điểm này lại cho thấy tác giả không đặt kỳ vọng chính vào các cá nhân lãnh đạo, dù là người tài giỏi nhất, mà đặt vào khả năng kiểm soát của cấu trúc chính trị sao cho người lãnh đạo buộc phải tâm huyết nhất cho lợi ích công. Đây cũng là khác biệt nền tảng với học thuyết của Khổng Tử – chỉ mong ngóng, trông chờ ở con người cá nhân (quân tử, kẻ sĩ, vua, chúa).

[11] Đây là một lý luận có thể giải thích thêm cho việc nước Mỹ vào buổi đầu lập nước không có đảng chính trị và đa phần các chính trị gia thường không thiện cảm với đảng chính trị. Thomas Jefferson từng phát biểu vào năm 1789: “Nếu tôi không thể lên được Thiên đàng vì không phải là đảng viên thì tôi sẽ chả bao giờ muốn lên đó cả.” Nhưng chính Thomas Jefferson là người đã lập ra đảng Democratic-Republican Party vào khoảng năm 1796, là tiền thân của đảng Dân chủ (democratic) hiện nay.

[12] Tức thông qua các luật hợp với hiến pháp cho phép thực hiện các hành động bạo động, trấn áp.

[13] Trong giới chính trị gia của nước Mỹ thời kỳ đầu thường có quan điểm không thiện cảm với dạng chính quyền dân chủ (democracy) kiểu sơ khai – dựa vào sự tán thành của đa số dân chúng – vì họ cho rằng, và cũng là sự thật của trình độ xã hội nói chung lúc đó, khối đa số dân chúng là những người thiếu hiểu biết về chính trị.

[14] Đoạn này gợi đến nhiều ý kiến trong tư tưởng của Benedict Spinoza (1632-1677) người Hà Lan và của Niccolò Machiavelli (1469-1527) người Ý. A.A.

[15] Đây là dạng dân chủ sơ khai ở các thành bang của Hy Lạp cổ đại.

[16] Những nhận xét này có tính tiên tri về sự thủ tiêu, trấn áp các hội đoàn đối lập, các cá nhân bất đồng chính kiến trong các chính thể độc tài phát-xít hay cộng sản sau này.

[17] Xem lại lập luận trong Federalist 9 về vấn đề này.

[18] Toàn bộ ý đoạn này trùng với một ý trong bài luận Idea of a perfect commonwealth viết năm 1754 của David Hume (1711-1776).

[19] Đoạn này như một tiên tri về cách đoạt quyền của những lãnh tụ độc tài phát-xít hay cộng sản sau này.

[20] Tác giả James Madison ở đây thường dùng những hình dung từ và các từ liên quan tới thiên văn học, như ‘centre’, ‘compass’, ‘sphere’, ‘diffusive’, để mô tả đặc điểm và tính cách con người. Điều tương tự được lặp lại trong Federalist 48 khi ông nói về cấu trúc chính quyền. Điều này cho thấy tư duy của tác giả nhìn xét sự vật với một nhãn quan rất rộng lớn, bao quát. A.A.

[21] “national”. Vì lúc này các tiểu bang rất e ngại khi hình thành liên hiệp các quyền tự do của họ sẽ bị mất hoặc thuyên giảm, do đó các nhà lập hiến Mỹ đã tránh các từ ngữ có thể làm trầm trọng thêm quan ngại đó. Vì vậy trong Hiến pháp Mỹ không hề có từ “dân tộc”, “quốc gia” (nation, national) mà chỉ có từ “nhân dân” (we the people) và chính quyền liên bang (federal government). Nhưng các tác giả Federalist đã mạnh dạn một cách dè dặt dùng các từ như “chung” (general) “quốc gia” (national) để chỉ chính quyền, quốc gia chung của 13 tiểu Bang hợp lại. Xem thêm ghi chú số 1 trong Federalist 3, ghi chú số 25 Federalist 9.

[22] Ở đây chúng ta cần nhớ lại quan niệm của tác giả- James Madison, cũng như nhiều chính trị gia Mỹ lúc đó, nói đến dân chủ có nghĩa là thể chế dân chủ trực tiếp ở các thành bang (polis) thời Hy Lạp cổ đại với qui mô dân số rất nhỏ, chỉ khoảng vài trăm nghìn người, và số người có tư cách công dân – được tham gia điều khiển chính quyền – chỉ chiếm khoảng 10%. Đoạn này cũng cho thấy tư duy của tác giả, và người cùng thời, có sự phân biệt giữa Cộng hòaDân chủ, khác với quan niệm ngày nay: cộng hòa và dân chủ gần như là một.

[23] Đa số của toàn cộng đồng.

[24] Ở đây chúng ta nên xem lại những lý do khiến Montesquieu đã nghiêng về ủng hộ mô hình cộng hòa có lãnh thổ nhỏ (khác với Publius). De l’esprit des lois, Chương XVI, Quyển 8, Montesquieu viết: “Dans une grande république, il y a de grandes fortunes, et par conséquent peu de modération dans les esprits: il y a de trop grands dépôts à mettre dans les mains d’un citoyen; les intérêts se particularisent; un homme sent d’abord qu’il peut être heureux, grand, glorieux, sans sa patrie; et bientôt, qu’il peut être seul grand sur les ruines de sa patrie. Dans une grande république, le bien commun est sacrifiés à mille considérations: il est surbordonné à des exceptions; il dépend des accidents. Dans une petite, le bien public est mieux senti, mieux connu, plus près de chaque citoyen; les abus y sont moins étendus, et par conséquent moins protégés.” – “Trong một nước cộng hòa lớn, có những người giàu khổng lồ khiến lòng người khó kiềm chế: có những tín chấp quá lớn cho mỗi công dân; các quan tâm trở nên cá nhân hóa; người ta trước hết cảm thấy có thể trở thành hạnh phúc, vĩ đại, vinh quang mà không cần tổ quốc; và sớm muộn người ta sẽ thành kẻ vĩ đại duy nhất đứng trên một đất nước hoang tàn. Trong một nước cộng hòa lớn, tài sản công phải chia cho hàng vạn đòi hỏi: nó phải phục vụ cho các ngoại lệ và lệ thuộc vào nhiều bất trắc. Trong nước cộng hòa nhỏ, người dân cảm nhận rõ hơn, biết rõ hơn và gần gũi hơn với tài sản công; các lạm dụng tài sản công ở mức độ nhỏ hơn và hệ quả là dễ bị phát hiện hơn.”

[25] Từ quan niệm tôn giáo phải tách rời chính quyền, người Mỹ rất sợ tôn giáo can thiệp vào quyền lực chính trị hoặc trở thành quyền lực chính trị – điều hành cộng đồng, quốc gia.

[26] Xem thêm phần Thuật ngữ mục “Bang liên”.

[27] Trước khi xảy ra Cách mạng, thuộc địa lâm vào cảnh thiếu tiền, một mặt vì nguồn kim loại quí ngày càng hiếm, mặt khác vì chính quyền Anh  đã ra đạo luật Currency Act 1764 cấm thuộc địa in tiền giấy nhằm kiểm soát chặt thuộc địa. Sau Cách mạng, nhu cầu tiền giấy càng tăng cao do tầng lớp nghèo khó muốn được trả nợ bằng tiền giấy nhưng nhiều Bang vẫn duy trì chính sách cấm tiền giấy, điển hình là Massachusetts nơi xảy ra cuộc nổi dậy Shays, trong khi một số Bang khác như Rhode Island dưới áp lực của các con nợ đã chấp nhận cho in tiền giấy.

[28] Sau chiến tranh giành độc lập, chính quyền trung ương và các tiểu Bang phải đối mặt với vấn đề trả nợ cho các cá nhân, tổ chức đã cho chính quyền vay. Có người có quan điểm xóa nợ hoặc không trả. Nhưng có người giữ quan điểm phải thanh toán đầy đủ, dù là chậm, để giữ lòng tin của xã hội, đại diện cho những người này là Alexander Hamilton. Bên cạnh đó còn có cả những yêu cầu giảm nợ, giãn nợ, xóa nợ của tầng lớp bần cùng đối với giới nhà giàu sau Cách Mạng, điều này đã dẫn tới cuộc nổi dậy có vũ trang do Daniel Shays (một cựu chiến binh Cách Mạng) cầm đầu, nổ ra ở Massachusetts, trong khoảng 08/1786-06/1787, là một trong những động lực cụ thể cho việc cải cách hiến pháp.

nguon

Advertisements
This entry was posted in Chính Trị. Bookmark the permalink.

2 Responses to Donald J. Trump và ba bản Federalist – Bài 1

  1. haiz00 says:

    james_madison

    James Madison (1751-1836)

    Donald J. Trump và ba bản Federalist – Bài 2

    Xem phần:  (1)

    Đã có những gợi ý phế truất Donald J. Trump khỏi Nhà Trắng trong vòng 2 năm tới. Về lý thuyết, đề xuất này hoàn toàn có thể do Hiến pháp Mỹ, ngay từ lúc có hiệu lực vào năm 1788, đã trù liệu phế truất tổng thống bất cứ lúc nào, ngay tại Điều I. Đó là hệ thống chính trị Mỹ. Trong khi đó, hệ thống chính quyền do Đảng Cộng sản Việt Nam dựng lên ngay từ thời Hồ Chí Minh lại có những trù liệu (như Điều 50, 51 Hiến pháp 1946) nhằm chạy hết tội cho lãnh đạo. 

    David Hume, triết gia Scotland, năm 1754 đã tỏ ra buồn phiền về việc con người thường ít tìm hiểu các hệ thống chính quyền trong khi họ vẫn thường phải sống dưới các chính quyền bạo ngược, suy đồi. Hume biết rõ tạo dựng một hệ thống chính trị mới không dễ như “xây một con tàu mới”, nhưng, theo ông, trí tò mò con người rất cần phải đào sâu vào các hệ thống chính trị để xác định những điều hay, dở và tìm ra mô hình tốt nhất. Hume cũng hiểu chính trị không phải là vấn đề dễ hiểu và hấp dẫn với tất cả mọi người. Nhưng không có cách nào khác nếu con người muốn có một chính quyền tử tế, hoặc bớt bạo ngược hơn.

    FEDERALIST 39

    Phạm Hồng Sơn dịch

    Hiến pháp và các nguyên tắc cộng hòa

    Viết cho the Independent Journal
    Thứ Tư, 16 tháng Một 1788*

    James Madison

    Kính gửi Nhân Dân tiểu Bang New York:

    Bài viết trước đã tóm lược các dữ kiện nhằm đưa ra một đánh giá công bình mô hình chính quyền do Hội nghị đề xuất, bây giờ chúng ta bắt tay thực hiện sự đánh giá này. Câu hỏi đầu tiên tự nổi lên là phải chăng dạng thức và đặc tính tổng quát của chính quyền tuân thủ nghiêm tính chất cộng hòa. Điều hiển nhiên là không có một dạng thức chính quyền nào khác có thể tương hợp được với tài năng thiên bẩm của nhân dân Mỹ; với các nguyên tắc cơ bản của cuộc Cách mạng; hoặc với quyết tâm cao cả của những con người đã tận hiến cho tự do muốn sử dụng mọi kinh nghiệm chính trị đã có của chúng ta về năng lực tự quản của loài người. Vì vậy, nếu kế hoạch của Hội nghị bị phát hiện đã rời xa tính chất cộng hòa, những người ủng hộ chắc chắn phải từ bỏ nó vì không còn bảo vệ được nữa.

     james_madison
    James Madison (1751-1836)

    Vậy, những đặc thù của một nền cộng hòa là gì? Nếu tìm một câu trả lời dựa vào sự áp dụng của các học giả chính trị trong hiến pháp của các quốc gia khác nhau, chứ không phải căn cứ trên các nguyên lý, chúng ta sẽ không thể tìm được một câu trả lời hoàn hảo. Hà Lan, không một thành tố nào trong quyền lực tối cao ở quốc gia này xuất phát từ dân chúng, vẫn gần như được tất cả định danh là một nước cộng hòa. Cùng cái tên đó cũng được dành cho Venice[1] nơi quyền lực tuyệt đối ngự trên toàn dân theo cách tuyệt đối nhất bằng một nhóm nhỏ quí tộc thế tập. Ba Lan, một chính quyền có sự pha trộn kém cỏi nhất giữa quí tộc trị và quân chủ trị, cũng được tôn vinh bằng đúng danh hiệu đó. Chính quyền Anh, nơi chỉ có một nhánh quyền lực mang tính cộng hòa[2] là sự phối hợp giữa quí tộc thế tập trị (hereditary aristocracy) và quân chủ trị (monarchy)[3], vẫn thường xuyên được liệt, một cách cũng sai lầm, vào danh mục các nước cộng hòa. Những ví dụ này, gần như vừa khác nhau và vừa khác với một nền cộng hòa đúng nghĩa, cho thấy thuật ngữ cộng hòa đã được sử dụng hết sức bất chính xác trong các diễn ngôn chính trị.

    Nếu chúng ta lấy ra một nguyên tắc chung cho các nguyên lý vận hành khác nhau của các chính thể đã tồn tại, chúng ta có thể định nghĩa một nước cộng hòa, hoặc ít nhất danh tính này có thể áp dụng, là một chính quyền có tất cả mọi quyền lực đều trực tiếp hoặc gián tiếp có khởi nguồn từ đa số dân chúng, và được điều hành bởi những người có nhiệm kỳ bấp bênh [4]trong một thời hạn xác định hoặc có nhiệm kỳ phẩm hạnh[5].

    CỐT YẾU đối với dạng chính thể này là nó có nguồn từ một bộ phận lớn của xã hội[6], không phải từ một tỷ lệ không đáng kể hay từ một giai tầng ưu ái nào đó của xã hội; nếu khác, một nhúm quí tộc bạo quyền, chuyên tiến hành trấn áp thông qua những kẻ dưới quyền, cũng sẽ mong mỏi đứng vào hàng ngũ cộng hòa, và tuyên xưng chính quyền của họ với danh hiệu cao cả cộng hòa. ĐIỀU ĐỦ cho chính quyền kiểu này là những kẻ điều khiển nó phải do người dân, trực tiếp hay gián tiếp, lập nên; và nắm giữ các chức vụ theo một trong hai cách vừa nêu[7]. Nếu khác, mọi chính quyền trong Hợp Chúng Quốc (United States)[8], cũng như mọi chính quyền bình dân[9], với cấu tạo hoàn hảo hoặc vận hành tốt đến đâu, cũng sẽ không có phẩm tính cộng hòa. Nhìn vào hiến pháp của mọi tiểu Bang trong Liên hiệp[10], một số viên chức chính quyền chỉ được người dân lập qua cách gián tiếp. Đa phần hiến pháp cho thấy ông thống lãnh hành pháp đang được chọn như vậy.

    Một hiến pháp còn cho thấy cách bổ nhiệm này được áp dụng cả cho một nhánh của lập pháp đa viện. Nhưng theo mọi hiến pháp, nhiệm kỳ của tất cả các chức vụ cao nhất đều có thời hạn nhất định, và trong nhiều trường hợp, cả hành pháp và lập pháp, trong khoảng một số năm. Cũng theo dự trù của đa phần hiến pháp, và theo cả các ý kiến phổ biến và uy tín nhất trong lĩnh vực này, các thành viên của bộ phận tư pháp sẽ giữ nhiệm sở chắc chắn theo nhiệm kỳ phẩm hạnh.

    Đối chiếu Hiến pháp của Hội nghị với tiêu chuẩn vừa trình bày, chúng ta nhận ra ngay bản Hiến pháp giống y như tiêu chuẩn theo nghĩa chặt chẽ nhất.

    Cơ quan Đại diện[11], giống ít nhất một nhánh trong các lập pháp tiểu Bang, được bầu trực tiếp từ đa số dân chúng. Thượng viện, như Quốc hội hiện tại, và giống Thượng viện của Maryland, sẽ được dân bầu gián tiếp[12]. Tổng thống sẽ do dân lựa chọn gián tiếp như trong phần lớn các tiểu Bang. Ngay cả thẩm phán, cùng mọi viên chức khác của Liên hiệp, giống trong nhiều tiểu Bang hiện nay, sẽ là lựa chọn, dầu là lựa chọn xa, của chính nhân dân[13]. Thời gian tại vị của các chức vụ cũng tuân theo tiêu chuẩn cộng hòa[14]. Giống trong tất cả các tiểu Bang, Cơ quan Đại diện sẽ được bầu lại định kỳ; cho nhiệm kỳ hai năm[15] như trong Bang South Carolina. Thượng viện được bầu cho nhiệm kỳ sáu năm[16], một năm nhiều hơn so nhiệm kỳ Thượng viện Maryland, nhưng hơn hai năm so với Thượng viện của New York và Virginia.

    Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ trong thời hạn bốn năm; giống tại New York và Delaware, thống lãnh bang được bầu cho thời hạn ba năm, còn South Carolina là hai năm. Trong các tiểu Bang khác, thống lãnh được bầu lại hàng năm. Tuy nhiên, trong nhiều Bang, hiến pháp không có qui định đàn hạch[17] đối với thống lãnh hành pháp. Ở Delaware và Virginia thống lãnh chỉ bị đàn hạch sau khi rời nhiệm sở. Nhưng Tổng thống của Hợp Chúng Quốc có thể bị đàn hạch bất cứ lúc nào trong khi tại vị. Nhiệm kỳ cho thẩm phán giữ nhiệm sở, như đương nhiên cần phải, là theo nhiệm kỳ phẩm hạnh. Nhiệm kỳ của các chức vụ bộ phận, nói chung, sẽ do luật qui định, phù hợp với yêu cầu của từng chức vụ và theo kinh nghiệm của các Hiến pháp tiểu Bang.

    Nếu cần thêm dẫn chứng cho tính cách cộng hòa của hệ thống này, chúng ta có thể nêu ra điểm quyết định nhất là nó cấm tuyệt đối mọi tước vị quí tộc, cả ở chính quyền liên bang lẫn tiểu Bang; và sự bảo đảm minh thị của nó về dạng thức cộng hòa cho từng chính quyền tiểu Bang.

    “Song, Hội nghị chưa đủ gắn bó với dạng thức cộng hòa.” những đối thủ của Hiến pháp dự thảo nói, “Lẽ ra họ cũng phải duy trì dạng thức LIÊN BANG (federal)[18] coi Liên hiệp là một BANG LIÊN (confederacy)[19] của các nhà nước chủ quyền; thay vì thế, họ đã thiết kế một chính quyền QUỐC GIA xem Liên hiệp là một loại HỢP NHẤT các tiểu Bang[20].

    Và người ta còn hỏi những cải tiến táo bạo và triệt để đó sẽ được thực hiện bằng thẩm quyền nào? Những gì đã diễn ra xung quanh phản đối này buộc chúng ta phải xem xét kỹ lưỡng hơn.

    Chúng ta sẽ không truy tìm tính chính xác trong nền tảng của phản đối này, nhưng để đánh giá công bằng sức thuyết phục của nó chúng ta cần phải, thứ nhất, xác định rõ bản chất thực sự của chính quyền đang bị chất vấn; thứ hai, điều tra lại những thẩm quyền đã cho phép[21] Hội nghị đề xuất ra mô hình chính quyền như thế; thứ ba, xét xem bổn phận với đất nước của những người khởi thảo có thể tạo ra quyền lực thường trực đến đâu để sửa chữa các khuyết tật.

    Thứ nhất, để xác định rõ bản chất thực của một chính quyền, chúng ta cần phải xét các tương quan sau: nền tảng thiết lập chính quyền; nguồn gốc sinh ra các quyền lực cơ bản của chính quyền; sự thực thi các quyền lực này; phạm vi tác động của chúng; và thẩm quyền nào cho phép thay sửa chính quyền đó trong tương lai.

    Xem xét tương quan thứ nhất, chúng ta thấy, một mặt, Hiến pháp được đặt trên nền tảng là sự ưng thuận và phê chuẩn của nhân dân Mỹ thông qua những đại biểu được bầu cho mục đích quan trọng này; mặt khác, sự ưng thuận và phê chuẩn này của nhân dân, không phải với tư cách cá nhân của một toàn thể dân tộc mà là các cá nhân thuộc riêng các Nhà nước tiểu Bang độc lập và khác biệt[22]. Đó cũng sẽ là sự ưng thuận và phê chuẩn của các tiểu Bang xuất phát từ thẩm quyền tối cao của từng tiểu Bang – thẩm quyền của chính nhân dân ở đó. Do đó, hành động thiết lập Hiến pháp không phải là hành động mang tính QUỐC GIA (national)[23] mà là mang tính LIÊN BANG (federal).

    Do Hiến pháp sẽ là một bộ luật liên bang, không phải luật quốc gia, như các thuật ngữ này đã được những người phản đối đồng ý; và hành động của nhân dân, với nghĩa “nhân dân” của các tiểu Bang độc lập chứ không phải nhân dân của một quốc gia tổng hợp[24], cách nhìn này cho thấy rõ Hiến pháp không phải là kết quả từ quyết định của một ĐA SỐ dân chúng của Liên hiệp, cũng không phải từ ĐA SỐ các Tiểu bang. Nó sẽ là kết quả từ sự ĐỒNG ưng thuận của các tiểu Bang hợp thành[25], không hề khác với sự ưng thuận thông thường trong cách bày tỏ, không phải qua thẩm quyền lập pháp mà qua thẩm quyền của chính người dân.

    Nếu nhân dân trong tương quan này đã được coi là một khối dân tộc thì ý chí nhóm đa số của toàn bộ nhân dân Hợp Chúng Quốc sẽ áp buộc nhóm thiểu số theo đúng cách mà nhóm đa số áp buộc nhóm thiểu số trong từng tiểu Bang; và, ý chí của nhóm đa số sẽ phải được xác định bằng cách: hoặc qua việc so sánh các lá phiếu cá nhân, hoặc qua việc coi ý chí của đa số trong các tiểu Bang là thể hiện cho ý chí của đa số nhân dân Hợp Chúng Quốc[26].

    Song, không có nguyên tắc nào vừa nói được áp dụng. Mỗi tiểu Bang, khi phê chuẩn Hiến pháp, lại được coi là một thực thể có chủ quyền, độc lập với tất cả các tiểu Bang khác và chỉ bị ràng buộc bởi chính sự tự nguyện của bản thân. Do đó, Hiến pháp mới, nếu được thiết lập, sẽ là một hiến pháp LIÊN BANG (federal), không phải một hiến pháp QUỐC GIA (national).

    Trong tương quan tiếp theo, các nguồn gốc sinh ra các quyền lực thông thường của chính quyền, ta thấy Cơ quan Đại diện lấy quyền lực từ  nhân dân Mỹ; và nhân dân sẽ được đại diện trong Cơ quan Đại diện theo cùng một tỷ lệ, và trên cùng một nguyên tắc giống như họ có đại diện trong cơ quan lập pháp của từng tiểu Bang[27]. Với đặc tính này, chính quyền có tính chất QUỐC GIA, không phải LIÊN BANG. Mặt khác, Thượng viện sẽ lấy quyền lực từ nguồn là các tiểu Bang – như những thực thể chính trị đồng đẳng; các tiểu Bang sẽ có đại diện ở Thượng viện trên nguyên tắc bình đẳng, giống như họ đang có trong Quốc hội hiện nay[28]. Đặc tính này cho chính quyền tính chất LIÊN BANG, không phải QUỐC GIA.

    Quyền lực hành pháp sẽ xuất phát từ một nguồn phức tạp hơn nhiều. Bầu Tổng thống sẽ do các tiểu Bang thực hiện trực tiếp tùy theo đặc điểm chính trị của mỗi tiểu Bang. Phiếu bầu cho mỗi tiểu Bang sẽ được phân theo một hệ số phức hợp: một mặt, coi các tiểu Bang là những thực thể khác biệt nhưng đồng đẳng, mặt khác lại coi các tiểu Bang là các thành viên bất bình đẳng của cùng một xã hội. Cuộc bỏ phiếu cuối cùng để chọn ra Tổng thống sẽ do nhánh lập pháp gồm các đại diện quốc gia thực hiện[29]; nhưng trong cuộc bỏ phiếu đặc biệt này những người bầu được tập hợp thành các phái đoàn riêng biệt dựa trên các nhóm chính trị khác nhau về quan điểm nhưng bình đẳng về quyền[30]. Phương diện này làm cho chính quyền tương lai có tính chất phức hợp: ít nhất các đặc tính LIÊN BANG cũng hiện diện nhiều như các đặc tính QUỐC GIA.

    Về tương quan THỰC THI CHÍNH QUYỀN, Hiến pháp coi sự khác nhau giữa chính quyền liên bang và chính quyền quốc gia nằm ở đặc điểm này: quyền lực liên bang thực thi trên các thực thể chính trị cấu thành Bang liên (confederacy) với các năng lực chính trị của chúng; quyền lực quốc gia thực thi trên các công dân cá nhân thành viên của quốc gia với các năng lực riêng của họ. Xét trên tiêu chí này, Hiến pháp có tính QUỐC GIA, không phải LIÊN BANG mặc dù có thể không hoàn toàn đúng như thế. Trong nhiều tình huống, nhất là khi phân giải bất đồng giữa các tiểu Bang, vấn đề chỉ được xem xét và giải quyết với các năng lực tập thể[31] và chính trị. Như thế, vẻ mặt quốc gia của chính quyền ở khía cạnh này dường như đã bị một vài đặc tính liên bang làm biến dạng. Nhưng tỳ vết này có lẽ không thể tránh khỏi trong bất kỳ thiết kế nào; và sự thực thi chính quyền trên nền tảng nhân dân bằng các năng lực riêng của họ và qua các thủ tục thông thường, chính yếu nhất, về tổng quát, có thể định danh chính quyền trong tương quan này là một chính quyền QUỐC GIA.

    Tuy thế, nếu chính quyền có tính quốc gia với góc nhìn THỰC THI quyền lực, tính chất này sẽ lại thay đổi khi ta ngẫm nó trong tương quan PHẠM VI của các quyền lực.

    Ý tưởng về một chính quyền quốc gia chính là nằm ở đây, không chỉ là quyền lực bao phủ lên các công dân cá nhân mà còn là một uy quyền tối cao bất định trùm lên mọi cá nhân, sự vật cho tới khi họ và chúng còn là những đối tượng của một chính quyền hợp luật. Trường hợp một khối người hợp lại thành một quốc gia, uy quyền tối cao đó được giao hoàn toàn cho cơ quan lập pháp quốc gia[32]. Nhưng, trường hợp các cộng đồng hiệp lại với nhau cho những mục đích đặc biệt, uy quyền tối cao phân cho hai nơi: một phần ở cơ quan lập pháp chung, phần kia ở các cơ quan lập pháp bộ phận.

    Trong trường hợp đầu, mọi thẩm quyền địa phương đều lệ thuộc thẩm quyền tối cao; và có thể bị kiểm soát, điều hướng hoặc bãi bỏ tùy theo ý muốn của thẩm quyền tối cao.

    Trong trường hợp sau, các thẩm quyền địa phương hoặc bộ phận là các thành phần độc lập, riêng biệt trong thẩm quyền tối cao, không chỉ không còn lệ thuộc vào thẩm quyền chung trong các phạm vi riêng biệt của chúng mà thẩm quyền chung lại lệ thuộc chúng nhiều hơn ngay trong lĩnh vực riêng của thẩm quyền chung.

    Như vậy, trong mối tương quan này, mô hình chính quyền được đề xuất không thể được coi là một chính quyền QUỐC GIA; vì quyền hành (jurisdiction) của nó chỉ có với một số đối tượng được xác định trước, và nó để cho các tiểu Bang được có một quyền chủ tể đọng lại[33] bất khả xâm phạm trên tất cả các đối tượng khác. Đương nhiên, trong trường hợp có bất đồng về ranh giới giữa hai loại quyền hành này, tòa đưa ra phán quyết tối hậu sẽ phải được lập dưới chính quyền chung.

    Nhưng điều này không làm thay đổi nguyên lý của vấn đề. Vì phán xét sẽ phải được thực hiện bất thiên vị, tuân theo các qui định của Hiến pháp; và tất cả các biện pháp đề phòng thông thường nhất, cẩn thận nhất sẽ được áp dụng để bảo vệ tính bất thiên vị này. Loại tòa án như thế rõ ràng là điều cốt tử để tránh phải viện tới gươm đao và tan rã kết ước; và nó cũng cần được thiết lập dưới chính quyền chung hơn là chính quyền địa phương hoặc, nói một cách rõ hơn, rằng tòa án này sẽ an toàn khi được thiết lập chỉ dưới thẩm quyền chung, một vị thế khó còn tranh cãi.

    Nếu xét bản Hiến pháp, trong mối tương quan cuối cùng, với thẩm quyền để tu chính bản thân nó, chúng ta sẽ thấy nó không hoàn toàn là QUỐC GIA cũng không hoàn toàn là LIÊN BANG. Nếu hoàn toàn là quốc gia, thẩm quyền tối cao và tối hậu phải thuộc về ĐA SỐ nhân dân của Liên hiệp; và thẩm quyền này sẽ phải luôn luôn có hiệu lực, như thẩm quyền của một đa số trong mọi xã hội quốc gia, khi tu chính hay xóa bỏ một chính thể đã lập.

    Mặt khác, nếu nó hoàn toàn là liên bang, phải có tán thành đồng thời của mọi tiểu Bang trong Liên hiệp cho mọi thay đổi ràng buộc tất cả. Cách thức do Hội nghị đề xuất không dựa trên nguyên tắc nào vừa nêu. Bằng đòi hỏi nhiều hơn một đa số, và một số nguyên tắc. Bằng đòi hỏi nhiều hơn một đa số, và đặc biệt bằng tính tỷ lệ theo TIỂU BANG, không phải theo CÔNG DÂN,  bản Hiến pháp đã rời tính chất QUỐC GIA và tiến nhiều sang LIÊN BANG; bằng không đòi hỏi phải có tán thành của tất cả các tiểu Bang, nó lại bớt đi đặc tính LIÊN BANG và lấy thêm tính chất QUỐC GIA.

    Vì vậy, bản Hiến pháp dự thảo, trong ý nghĩa chặt chẽ, không phải là hiến pháp quốc gia, cũng không phải hiến pháp liên bang, mà là tổng hợp của cả hai. Về nền tảng, nó là liên bang, không phải quốc gia; về nguồn gốc sinh ra quyền lực cơ bản cho chính quyền, nó vừa là liên bang vừa là quốc gia; trong sự thực thi các quyền lực này, nó lại là quốc gia, không phải liên bang; về phạm vi của quyền lực, nó lại là liên bang, không phải quốc gia; và cuối cùng, xét về thẩm quyền tu chính, bản Hiến pháp dự thảo không hoàn toàn thuộc đặc tính liên bang, cũng không hoàn toàn thuộc đặc tính quốc gia.

    Publius

    * Trong năm (5) nguồn tham khảo (nêu trong Lời giới thiệu) chỉ có hai nguồn (http://www.constitution.org; bản dịch Pháp văn La Fédéraliste của Anne Amiel, Paris Classiques Garnier, 2012) ghi thời gian xuất bản bài này (như ghi ở đây), nhưng chỉ có bản đầu ghi thứ của ngày trong tuần. Nguồn Anh ngữ căn bản dựa vào để dịch:

     http://www.foundingfathers.info/federalistpapers/

    – Các ghi chú là của người dịch. Những ghi chú có chữ A.A. là dựa theo ghi chú trong bản dịch Pháp văn của Anne Amiel.

    (còn 1 phần)

    [1] Chính thể cộng hòa nằm ở phía đông bắc Italy hiện nay, tồn tại gần 1000 năm từ cuối thế kỷ VII đến 1797, thường được giới nghiên cứu chính trị quan tâm vì mặc dù lâm chiến liên miên nhưng là một chính thể mạnh về kinh tế và thương mại và đặc biệt tồn tại rất lâu.

    [2] Tức Viện thứ dân, the House of Commons, của nghị viện Anh, được hình thành qua lá phiếu của người dân.

    [3] Tác giả có ý nói đến Viện Quí tộc, House of Lords – thượng nghị viện – của Nghị viện Anh, hình thành từ các chức sắc tôn giáo như các giám mục, chức sắc thế tục như giới quý tộc hoặc những tước vị cao cấp và tất cả có tính cha truyền con nối hoặc được tuyển chọn không qua lá phiếu của dân; còn “quân chủ trị” là nói đến vai trò của vua (hoặc nữ hoàng) Anh nắm quyền hành pháp.

    [4] “during pleasure” – Nhiệm kỳ có hạn định là 2, 4 hoặc 5 năm, v.v. nhưng có thể bị truất quyền, phế bỏ chức vụ bất cứ lúc nào khi người dân cảm thấy không hài lòng (pleasure). Thuật ngữ này đối ngược với nhiệm kỳ phẩm hạnh “during good behavior”. Xem thêm phần Thuật ngữ.)

    [5] “during good behavior” – Nhiệm kỳ vô thời hạn (coi như suốt đời đến khi về hưu hoặc tới lúc từ chức) chừng nào phẩm hạnh của người giữ chức vụ này vẫn được coi là tốt đẹp dù người dân có thể không thấy hài lòng (pleasure). Xem thêm phần Thuật ngữ.

    [6] Nguyên văn “great body of the society” (một bộ phận lớn của xã hội), tác giả nói theo nghĩa hết sức chính xác, vì kể cả có 100% số phiếu ủng hộ thì điều đó cũng chưa hẳn là 100% dân số vì thực tế không bao giờ có 100% người dân đi bỏ phiếu.

    [7] Nhiệm kỳ bấp bênh (during pleasure) hoặc nhiệm kỳ phẩm hạnh (during good behavior).

    [8] Tức nước Mỹ mới thành lập.

    [9] “popular government”. Xem thêm phần Thuật ngữ.

    [10] Lúc này đa phần 13 tiểu Bang đã tự xây dựng Hiến pháp riêng.

    [11] “House of Representatives” (thường được dịch là Hạ viện) là một trong hai viện của cơ quan lập pháp (quốc hội) của Mỹ, viện kia là Thượng viện (senate).

    [12] Ý này sẽ thành Điều (Article) 1 Khoản (section) 3 của Hiến pháp Mỹ qui định các thượng nghị sỹ liên bang sẽ do các cơ quan lập pháp tại tiểu bang bầu trực tiếp. Mãi đến năm 1913, tu chính án thứ 17 qui định lại, yêu cầu thượng nghị sỹ liên bang do nhân dân các bang bầu trực tiếp.

    [13] Nghĩa là người dân không bầu trực tiếp ra các chức vụ này mà qua sự đề cử và phê duyệt của những người do dân đã bầu ra. Ví dụ, Tổng thống đề cử thẩm phán liên bang hoặc các chức vụ tổng trưởng với sự phê chuẩn của Thượng viện.

    [14]Tức theo nhiệm kỳ bấp bênh hoặc nhiệm kỳ phẩm hạnh

    [15] Ý này đã được hiện thực hóa thành Điều 1 Khoản 2 Hiến pháp Mỹ qui định cứ 2 năm Hạ nghị viện Mỹ phải bầu lại.

    [16] Ý này đã được hiện thực hóa thành Điều 1 Khoản 3 Hiến pháp Mỹ qui định cứ 2 năm có 1/3 Thượng nghị sỹ phải bầu lại.

    [17] “impeachment”, xem thêm phần Thuật ngữ.

    [18] Xem thêm phần Thuật ngữ.

    [19] Xem thêm phần Thuật ngữ.

    [20] Đây là một ý của nhóm anti-federalist phản đối Hiến pháp, phản đối sự hợp nhất 13 tiểu Bang thành một thực thể dưới một chính quyền chung, vì họ sợ chính quyền liên bang (dự kiến) có bản chất giống như chính quyền của một tiểu Bang ở nghĩa thu vén và kiểm soát tất cả mọi vấn đề của các tiểu Bang, nghĩa là làm cho các tiểu Bang mất quyền chủ tể (sovereignty). Chính vì vậy, ở phần trình bày tiếp theo và trong các FP khác, vấn đề phân biệt giữa chính quyền liên bang và tiểu bang sẽ được làm rõ. Ở đây chúng ta nên chú ý một số thuật ngữ có những sắc thái khác nhau khá tinh tế: Trước hội nghị lập hiến tại Philadelphia, hình thức gắn kết của 13 bang (thuộc địa cũ) được gọi là Confederation. Nhưng khi thảo ra bản hiến pháp mới, các nhà lập hiến đã tạo ra một dạng thức chính quyền mới trên cơ sở tương tự như Confederation nhưng có nhiều cải tiến dường như chưa từng có trong lịch sử và bản thân họ, hình như, cũng chưa tự tin hoàn toàn trong việc đặt tên cho hình thức mới này nên những thuật ngữ như federation, confederation, confederacy vẫn thỉnh thoảng được dùng lẫn cho nhau mà ngày nay chúng ta có thể hiểu là cùng một nghĩa: liên bang. Chính vì thế, để làm bớt sự băn khoăn, và tránh ngộ nhận, và làm rõ hơn về dạng thức chính quyền mới, trong FP 9 Alexander Hamilton đã giải thích kỹ sự khác biệt quan trọng giữa dạng thức LIÊN BANG (confederacy, federation) với dạng thức HỢP NHẤT (consolidation).

    [21] Một trong những luận cứ của những người phản đối dự thảo Hiến pháp là Hội nghị Phidelphia không được phép đưa ra một hiến pháp hoàn toàn mới như đang thấy vì lý do triệu tập Hội nghị chỉ là nhằm sửa đổi thỏa ước the Articles of Confederation.

    [22] Tác giả có ý làm rõ và nhấn mạnh bản hiến pháp vẫn tôn trọng chủ quyền riêng biệt và những tự do riêng biệt của từng bang khi trở thành thành viên của liên bang như hiến pháp dự liệu.

    [23] Vì lúc này các tiểu bang rất e ngại khi hình thành liên hiệp các quyền tự do của họ sẽ bị mất hoặc thuyên giảm, do đó các nhà lập hiến Mỹ đã tránh các từ ngữ có thể làm trầm trọng thêm quan ngại đó. Vì vậy trong Hiến pháp Mỹ không hề có từ “dân tộc”, “quốc gia” (nation, national) mà chỉ có từ “nhân dân” (we the people) và chính quyền liên bang (federal government). Đoạn này cũng cho thấy e ngại đó. Nhưng chúng ta sẽ thấy các tác giả FP sau này sẽ mạnh dạn một cách dè dặt dùng các từ như “chung” (general) “quốc gia” (national) để chỉ Liên hiệp mới. Xem thêm ghi chú số 1 trong FP 3.

    [24] Xem lại ghi chú ở trên.

    [25] Thực tế, những người dự thảo Hiến pháp đã ấn định Hiến pháp sẽ được thông qua nếu có 9/13 tiểu Bang phê chuẩn. Tại sao những người soạn Hiến pháp lại quyết định như thế, chúng ta sẽ thấy một giải thích trong FP 40.

    [26] Để dễ hiểu hơn ta có thể coi như thế này: Hợp Chúng Quốc đó có 13 Bang với tổng số dân là 2 000 người (coi như đều đủ tư cách bỏ phiếu). Vậy xét đa số “qua việc so sánh các lá phiếu cá nhân” là xét trên tổng số 2 000 lá phiếu đó, sẽ có bao nhiêu người đồng ý/không đồng ý. Và xét ý chí đa số của các tiểu Bang là xét xem trong 13 bang đó có bao nhiêu bang đồng ý/không đồng ý. Hai cách xem xét này có thể không trùng nhau về kết quả dựa trên tổng số dân, vì có thể số các bang “đồng ý” không đạt được quá bán của 13 bang, nhưng tổng số dân trong các bang “đồng ý” này lại chiếm đa số dân trong tổng số 2 000 người dân (của toàn 13 bang). Bởi tổng số dân ở các bang “không đồng ý” ít hơn tổng số dân có trong các bang “đồng ý”.

    [27] Số đại diện trong Hạ viện của các tiểu Bang được ấn định dựa trên tỷ lệ dân số. Hiến pháp Mỹ Điều 1 Khoản 2 qui định cứ 30.000 dân có 01 đại diện trong Cơ quan Đại diện (Hạ viện), nhưng ít nhất một bang phải có 01 đại diện.

    [28] Nghĩa là dù bang ít dân hay nhiều dân thì số thượng nghị sỹ mỗi bang đều giống nhau, không theo tỷ lệ dân số như Hạ viện. Hiến pháp Mỹ Điều 1 Khoản 3 qui định mỗi tiểu bang có 2 thượng nghị sỹ.

    [29] Chính là Cơ quan Đại diện (Hạ viện).

    [30] Hiến pháp Mỹ Điều 2 Khoản 1 qui định cách thức bầu Tổng thống, tóm tắt: Mỗi tiểu Bang sẽ đề cử, theo thể thức do cơ quan lập pháp của Tiểu bang đó qui định, một số cử tri (elector) bằng tổng số Thượng nghị sỹ và Hạ nghị sỹ mà tiểu Bang đó có tại Quốc hội Liên bang để bầu tổng thống và phó tổng thống. Tiến trình đó gọi là Electoral College, các cử tri đó thường được người Việt gọi là đại cử tri. Tổng số đại cử tri hiện nay là 538 (435 + 100 + 3; 3 là số đại cử tri được dành riêng cho District of Columbia theo Tu chính Án số 23 được các tiểu Bang phê chuẩn ngày 29/3/1961). Các đại cử tri sẽ tập hợp lại tại từng tiểu Bang của họ để bỏ phiếu cho hai ứng cử viên Tổng thống – trong đó ít nhất có một người không cư trú tại tiểu Bang của họ. Nếu ứng cử viên nào được đa số phiếu cử tri đoàn (tối thiểu 270) thì đắc cử Tổng thống. Nếu có hai ứng cử viên có số phiếu cử tri đoàn chiếm đa số bằng nhau thì Hạ viện sẽ bỏ phiếu chọn Tổng thống trong hai người này. Nếu không có ai được đa số phiếu cử tri đoàn, Hạ viện sẽ bỏ phiếu cho năm người có số phiếu cao nhất theo cách: mỗi tiểu Bang được một phiếu với điều kiện phải có đại diện của ít nhất 2/3 tổng số các tiểu Bang. Sau khi chọn được Tổng thống, người có số phiếu nhiều nhất sẽ là Phó Tổng thống. Nếu có hai hoặc nhiều người cùng có số phiếu như nhau thì Thượng viện sẽ bỏ phiếu chọn Phó Tổng thống.

    [31] Tức với mục tiêu vì toàn liên bang.

    [32] Ý tưởng “cơ quan lập pháp quốc gia nắm uy quyền tối cao” là một ý tưởng thịnh hành lúc đó. Nhưng, các diễn tiến về học thuật chính trị sau này không còn coi như thế, mà “uy quyền tối cao” được san sẻ, ước chế và cân bằng giữa lập pháp-hành pháp-tư pháp.

    [33] “A residuary sovereignty” – đây là thuật ngữ do tác giả sáng tạo, sẽ được nhắc lại trong FP 62. A.A.

    nguon

  2. haiz00 says:

    Donald J. Trump và ba bản Federalist – Bài 3

    z-alexander-hamilton

    Xem phần: (1), (2)

    Bất chấp Mỹ đã rút khỏi TPP và Tổng thống Mỹ đang là tâm điểm chỉ trích, giễu nhại của truyền thông thế giới, lãnh đạo Nhật vẫn không ngừng gia tăng gắn bó với Mỹ. Trong vòng sáu tháng qua, Thủ tướng Shinzo Abe đã tới Mỹ bốn lần và gặp Donald J. Trump hai lần. 

    Nhật thường có những hành động “lạ lùng” so với những dân tộc đồng văn, đồng chủng da vàng. Năm 1852, Hiệp ước thân thiện Nhật-Mỹ được ký kết. Nhật Bản là nơi duy nhất các nhà thực dân phương Tây của thế kỷ XIX không đòi hỏi nhà chức trách bản xứ phải áp dụng nguyên tắc pháp luật kép – vì chính quyền Nhật đã du nhập và thực thi nghiêm “thượng tôn pháp luật” (the rule of law) cho mọi đối tượng. Năm 1946, Nhật phê chuẩn và thực thi nghiêm cẩn bản hiến pháp do người Mỹ – cựu thù của Nhật – soạn thảo.

    Trong cộng đồng trí thức Việt hiện vẫn có một luồng dư luận cho rằng nếu lãnh đạo Mỹ vào năm 1946 biết phản hồi và đáp ứng những khẩn cầu của Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh đã không đi theo Stalin, Mao Trạch Đông và đã không quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

    Nước Việt và nước Nhật vẫn là hai nước rất khác nhau, có lẽ vì người Nhật đã sớm nhận ra chân lý: Không thể chạy theo sự bất lương khi không được sự văn minh để ý và coi trọng.

    FEDERALIST 51

    Phạm Hồng Sơn dịch

    Cấu trúc chính quyền phải tạo được cơ chế “kìm soát và đối trọng” thực sự giữa các bộ phận

    Từ the New York Packet

    Thứ Sáu, 8 tháng Hai 1788

    Alexander Hamilton hoặc James Madison*

    Kính gửi Nhân Dân tiểu Bang New York:

    Rốt cuộc chúng ta sẽ trông cậy vào công cụ nào để trên thực tế duy trì được sự chia tách quyền lực cần thiết giữa các bộ phận như đã chỉ định trong Hiến pháp?

    Vì tất cả các biện pháp phòng tránh từ bên ngoài đã thấy sẽ không đủ hiệu lực, câu trả lời duy nhất chỉ có thể là phải bằng cách tạo ra một cấu trúc nội tại của chính quyền sao cho các bộ phận cấu thành, thông qua sự tương tác giữa chúng với nhau, trở thành các phương tiện giữ cho mỗi bộ phận ở nguyên trong các vị trí riêng của chúng. Tôi không dám đi sâu vào toàn bộ quá trình hình thành ý tưởng quan trọng này, nhưng sẽ cố trình bày một số nhận định khái quát có thể làm cho ý tưởng dễ hiểu hơn và giúp chúng ta có nhận thức đúng hơn về các nguyên lý và cấu trúc của chính quyền do Hội nghị thiết kế.

     z-alexander-hamilton
    Alexander Hamilton (c.1755-1804)

    Để đặt được nền móng đúng đắn cho sự thực thi các quyền lực một cách khác nhau và tách biệt – điều mà tất cả mọi người trong một chừng mực nào đó cùng thừa nhận là điều cốt tử để bảo tồn tự do – thì điều hiển nhiên là mỗi bộ phận phải có một ý chí riêng biệt; và, vì thế, phải được cấu tạo sao cho các thành viên trong mỗi bộ phận có khả năng tác động ít nhất có thể vào sự hình thành thành viên của các bộ phận khác. Nếu nguyên tắc này được tuân thủ nghiêm ngặt, mọi sự bổ nhiệm cho các vị trí cao nhất của hành pháp, lập pháp và tư pháp buộc phải bắt nguồn từ cùng một nguồn thẩm quyền, đó là nhân dân, thông qua các kênh không có bất cứ trao đổi gì với nhau. Có lẽ một dự án xây dựng các bộ phận như thế khi được triển khai vào thực tế sẽ bớt khó khăn hơn so với lúc còn nằm trên bản vẽ. Tuy nhiên, sẽ phải có thêm một số khó khăn và một số chi phí thêm trong khi thực hiện. Do đó, chúng ta sẽ phải chấp nhận một số sai lệch nào đó so với nguyên tắc ban đầu[1].

    Đặc biệt, khi xây dựng bộ phận tư pháp, sẽ không khôn ngoan nếu cứ nhất nhất giữ cho bằng được nguyên tắc, vì:  thứ nhất, điều cốt yếu của tư pháp nằm ở những phẩm chất đặc biệt của các thành viên, nên quan tâm hàng đầu phải là cách thức chọn lựa sao cho đảm bảo các thành viên tư pháp có được những phẩm chất đặc biệt đó; thứ hai, vì nhiệm kỳ vô hạn định[2] của các chức vụ trong bộ phận này chắc chắn sẽ sớm loại bỏ đi tất cả mọi lệ thuộc vào thẩm quyền đã bổ nhiệm họ[3].

    Một điều hiển nhiên nữa là lương bổng liên quan tới chức vụ của các thành viên trong mỗi bộ phận càng ít phụ thuộc vào thành viên của các bộ phận khác thì càng tốt. Ví dụ, nếu lương bổng của tổng thống hoặc của thẩm phán lại không có sự độc lập khỏi lập pháp thì sự độc lập của họ trong mọi vấn đề khác chỉ còn danh nghĩa mà thôi.

    Nhưng biện pháp an ninh tốt nhất để chống lại sự tập trung dần dần tất cả các quyền lực khác nhau vào cùng một bộ phận là phải cho những người điều hành mỗi bộ phận có hai thứ: một, các công cụ hiến pháp cần thiết; hai, những động lực cá nhân để chống lại các xâm lấn của các bộ phận khác. Phương tiện tự vệ trong lĩnh vực này, cũng như ở mọi lĩnh vực khác, phải được chế tạo sao cho có uy lực tương xứng với nguy cơ bị tấn công. Tham vọng phải tạo ra để đối lại tham vọng[4]. Lợi ích, ham muốn của kẻ lãnh đạo phải bị gắn với các quyền hiến định đã lập. Những kỹ thuật như thế là cần thiết để kiềm chế các quá trớn của chính quyền, có lẽ, là bởi chúng đã được rút ra từ một suy ngẫm nào đó về bản thể con người. Nhưng bản thân chính quyền là gì nếu không phải là suy tư vĩ đại nhất về bản thể người? Nếu con người là thiên thần, chính quyền sẽ thừa. Nếu thiên thần quản trị con người, các phương tiện kiểm soát chính quyền, cả trong lẫn ngoài, đều không cần[5]. Nhưng khi phải thiết kế một chính quyền để con người quản trị con người thì nan giải lớn nhất nằm ở đây: đầu tiên phải tạo điều kiện để chính quyền kiểm soát được người bị trị; tiếp theo là phải buộc được chính quyền tự kiểm soát chính nó. Và, chắc chắn, kiểm soát cơ bản đối với chính quyền là bắt nó phải lệ thuộc vào nhân dân; nhưng kinh nghiệm đã dạy nhân loại rằng phải cần thêm một biện pháp phụ trợ nữa.

    Biện pháp này, có thể thấy trong các hệ thống của con người, ở cả việc công lẫn việc tư, là bù đắp cho sự thiếu hụt động lực tử tế bằng các quyền lợi, ham muốn đối ngược và kình địch. Chúng ta thấy điều này đã được thể hiện rõ trong mọi sự phân bổ quyền lực lệ thuộc có một mục đích không đổi là nhằm phân chia, sắp xếp các chức vụ sao cho mỗi chức vụ là một sự kìm soát của chức vụ khác khiến cho quyền lợi riêng của từng cá nhân trở thành một kẻ canh chừng cho các quyền lợi chung. Những sáng tạo khôn ngoan như thế không thể nào lại không rất cần cho việc phân bổ các quyền lực tối cao của Nhà nước.

    Nhưng chúng ta không thể tạo cho mỗi bộ phận một sức mạnh bằng nhau để tự vệ. Trong chính thể cộng hòa, thẩm quyền lập pháp vượt hẳn các thẩm quyền khác là điều không tránh được. Cách chữa trị sự bất tiện này là phải chia lập pháp thành nhiều nhánh khác nhau; và dùng cách bầu chọn khác nhau cùng các nguyên tắc hoạt động khác nhau khiến cho sự liên hệ giữa chúng được giảm thiểu tối đa miễn là các chức năng chung và sự lệ thuộc chung của chúng đối với xã hội không bị ảnh hưởng[6]. Thậm chí có thể còn phải cần thêm những biện pháp khác để chống lại các xâm lấn nguy hiểm.

    Trong khi trọng lượng đặc biệt[7] của lập pháp khiến nó cần phải bị phân chia ra, thì sự yếu ớt của hành pháp lại đòi hỏi nhánh này phải được tăng thêm quyền lực. Mới nhìn qua, quyền phủ quyết tuyệt đối[8] trên lập pháp là một phòng vệ tự nhiên cần trang bị cho lãnh đạo hành pháp. Nhưng có lẽ biện pháp này vừa chưa an toàn vừa chưa đủ mạnh. Bình thường, nó có thể không được áp dụng một cách đủ cương quyết, nhưng lại dễ bị lạm dụng một cách nguy hiểm trong những hoàn cảnh đặc biệt. Phải chăng khiếm khuyết này của phủ quyết tuyệt đối không thể bù đắp bằng một liên kết phù hợp nào đó giữa bộ phận yếu ớt này[9] và nhánh yếu hơn trong bộ phận lớn nhất[10], qua đó nhánh nói sau sẽ hỗ trợ các quyền hiến định của bộ phận nói trước nhưng không quá tách rời khỏi các quyền của bản thân?[11]

    Nếu các nguyên lý nền tảng của các nhận định trên là đúng đắn như tôi nghĩ và nếu chúng được trở thành tiêu chuẩn cho các bản hiến pháp tiểu Bang và cho cả bản Hiến pháp liên bang, chúng ta sẽ thấy là nếu bản sau không đáp ứng hoàn toàn với các nguyên lý đó thì các bản trước lại càng vô cùng thiếu khả năng hơn.

    Ngoài ra, có hai cách nhìn đặc biệt cho thấy hệ thống liên bang Mỹ là một hệ thống cực kỳ thú vị.

    Thứ nhất, trong một nước cộng hòa riêng biệt thì tất cả mọi quyền lực mà nhân dân đã nhượng bỏ[12] sẽ được giao cho một chính quyền duy nhất quản lý; và các thoán đoạt quyền lực được phòng chống bằng cách chia tách chính quyền thành nhiều bộ phận riêng biệt, khác nhau. Trong nước cộng hòa phức hợp của Mỹ, quyền lực do người dân nhượng bỏ trước tiên được phân cho hai chính quyền khác nhau, rồi sau mới chia cho các bộ phận phụ thuộc nằm trong các bộ phận khác nhau, riêng biệt. Thành ra có một an ninh kép cho các quyền của người dân. Hai chính quyền sẽ kiểm soát lẫn nhau, đồng thời mỗi chính quyền sẽ bị kiểm soát bởi chính nó.

    Thứ hai, điều tối quan trọng trong một nước cộng hòa không chỉ là việc bảo vệ xã hội chống lại trấn áp của những kẻ cầm quyền mà còn phải bảo vệ từng nhóm xã hội khỏi sự xâm hại của các nhóm xã hội khác. Các tầng lớp công dân khác nhau tất yếu sẽ có những ham muốn và lợi ích khác nhau. Nếu một lợi quyền chung nào đó tạo ra một đa số, khi đó các quyền của nhóm thiểu số sẽ không an toàn[13].

    Có hai cách chống lại ác họa này: một, tạo ra một ý chí trong cộng đồng độc lập với đa số, nghĩa là độc lập với chính xã hội; cách kia, làm cho xã hội hình thành nhiều nhóm công dân thật riêng biệt tới mức khiến cho các kết hợp bất chính muốn thành đa số rất khó thực thi, nếu như không phải bất khả thi. Cách thứ nhất nằm ngay trong tất cả các chính quyền có quyền lực thế tập hoặc quyền lực tự trao. Nhưng cách này, khi tốt nhất, chỉ là một an ninh bấp bênh; vì một quyền lực độc lập với xã hội có thể câu kết với cả quan điểm bất chính của nhóm đa số và cả các quyền lợi đúng đắn của nhóm thiểu số rồi có thể quay ra chống lại cả hai. Cách thứ hai sẽ được thể hiện trong nước cộng hòa liên bang Hợp chúng Quốc[14]. Trong khi mọi uy quyền của nước cộng hòa này được tạo dựng từ và lệ thuộc vào xã hội, bản thân xã hội lại được phân chia thành rất nhiều nhóm, quyền lợi và các tầng lớp khác nhau khiến cho các quyền cá nhân, các quyền của thiểu số khó bị đe dọa bởi các manh tâm của đa số. Trong một chính thể tự do, an ninh cho các quyền dân sự phải giống như an ninh cho các quyền tôn giáo. An ninh cho các quyền trước nằm trong tính đa dạng của quyền lợi, còn trường hợp sau từ sự đa dạng của giáo phái. Mức độ an ninh của cả hai phụ thuộc vào số các quyền lợi và giáo phái, những điều được cho là phụ thuộc vào qui mô rộng lớn của đất nước và số lượng dân chúng sống trong cùng một chính quyền.

    Cách nhìn này chắc chắn đã giúp những người bạn chân thành và cẩn trọng của chính thể cộng hòa nhận thấy một hệ thống liên bang đúng đắn vì nó chỉ ra một cách chính xác rằng khi lãnh thổ của Liên hiệp được chia thành nhiều Bang liên nhỏ hơn hoặc thành nhiều Nhà nước, các ý đồ trấn áp của một đa số sẽ dễ dàng thực hiện: sự đảm bảo tốt nhất, với tính chất cộng hòa, cho quyền của mọi tầng lớp công dân sẽ bị suy yếu; và hệ quả là sự ổn định, độc lập của một viên chức nào đó trong chính quyền – bảo đảm duy nhất còn lại –  chắc chắn sẽ được gia tăng một cách tương ứng[15]. Công lý là cứu cánh của chính quyền. Đó cũng là mục tiêu tối hậu của xã hội công dân. Mục tiêu này vẫn đang và sẽ mãi được đeo đuổi cho tới khi thành tựu, hoặc cho tới khi tự do bị kiệt quệ hoàn toàn trên đường tìm kiếm.

    Trong các xã hội để cho bè phái mạnh dễ dàng hợp lực triệt hạ bè phái yếu, sự rối loạn vô chính phủ sẽ ngự trị giống như trong tự nhiên ‘cá lớn nuốt cá bé’[16]; và, ngay nhữngkẻ mạnh sống trong tình trạng sau, vì bất trắc, cũng sẽ phải viện tới bất kỳ chính quyền nào có khả năng bảo vệ kẻ yếu và bảo vệ chính họ; tương tự, trong các xã hội vừa kể, những bè phái hay bè đảng mạnh nhất, với động cơ tương tự, cũng sẽ dần dần phải ước muốn có một chính quyền sẽ bảo vệ được tất cả mọi phe phái, yếu cũng như mạnh.

    Chẳng còn mấy nghi ngờ rằng nếu tiểu Bang Rhode Island[17] bị tách khỏi Bang liên và bị bỏ mặc một mình, sự mất an ninh của các quyền dưới chính thể bình dân[18]  trong một qui mô nhỏ hẹp như thế sẽ bị phơi bày bởi những trấn áp của các bè phái chiếm đa số tái diễn tới mức chính các bè phái đã cai trị bất công sẽ đòi hỏi phải sớm có một quyền lực nào đó độc lập hoàn toàn với nhân dân mà sự cai trị bất công của họ đã chứng tỏ cần phải có quyền lực này. Nhưng trong nước cộng hòa rộng lớn của Hợp chúng quốc và trong sự đa dạng mênh mông của các quyền lợi, bè đảng và giáo phái khác nhau mà nước cộng hòa này bảo bọc, một liên minh đa số của toàn xã hội rất khó có thể hình thành với những nguyên tắc khác với các nguyên tắc dựa trên sự công bình và phúc lợi chung; thành ra các nhóm thiểu số vừa ít bị đe dọa hơn bởi ý chí của nhóm đa số, vừa ít có lý cớ an ninh để buộc chính quyền phải thực thi những ý muốn bất lệ thuộc vào đa số, hay, nói cách khác, những ý muốn không bị ràng buộc vào chính xã hội.

    Dầu những ý kiến trái ngược vẫn tồn tại, điều chắc chắn và quan trọng là xã hội càng mở rộng trong một không gian hợp lý, xã hội càng có nhiều khả năng hơn trong sự tự quản. Thật đáng mừng cho SỰ NGHIỆP CỘNG HÒA, không gian hợp lý đó lại có giới hạn vô cùng lớn nhờ sự điều chỉnh và phối hợp sáng suốt của NGUYÊN LÝ LIÊN BANG.

    Publius

    * Trong năm (5) nguồn người dịch tham khảo (nêu trong Lời giới thiệu) có ba (3) nguồn (http://www.constitution.org; oll.libertyfund.org ; và bản dịch Pháp văn Le Fédéraliste của Anne Amiel, Paris Classiques Garnier, 2012) ghi tác giả bài này là James Madison. Hai nguồn còn lại đều giữ lại sự nghi hoặc giữa Hamilton và Madison. Nguồn Anh ngữ căn bản để dịch: http://www.foundingfathers.info/federalistpapers/

    – Các ghi chú là của người dịch. Ghi chú có chữ A.A. dựa theo ghi chú bản dịch Pháp văn của Anne Amiel.

    Thuật ngữ (trích) :

    Bang-liên (confederacy, confederation; confederate), Liên-bang (federation; federal): những thuật ngữ này (trong bối cảnh của the Federalist Papers) chỉ khác nhau ở phương diện lịch sử. Vào thời điểm trước và sau Cách mạng Mỹ 1776, mô hình quốc gia tạo lập từ 13 thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ là một mô hình gần như hoàn toàn mới chưa có trong lịch sử. Do đó các nhà lập quốc Mỹ cũng chưa có sự thống nhất rõ ràng về thuật ngữ, lúc thì gọi là confederacy, confederation hoặc federation, nhưng qua tranh luận đã dần dần hình thành nên ý niệm chung đó là mô hình khác với mô hình sự hợp nhất các quốc gia với nhau đã có trong lịch sử. Điểm khác biệt cơ bản của mô hình Liên-bang (federation) (cũng tức là bang-liên) so với Hợp-nhất(consolidation; consolidated): có một sự xác định rõ ràng trong giới hạn quyền lực của chính quyền trung ương liên-bang – không được can thiệp vào một số lĩnh vực quan trọng của các quốc gia tiểu bang. (xem FP 9, FP 39). (hai thuật ngữ bang-liên, liên-bang, theo Vũ Văn Mẫu, sđd)

    Ngày nay các thuật ngữ này đã có sự phân biệt rõ ràng hơn: confederation: là một thiết chế tổ chức gồm các thành viên đồng ý nhượng một số quyền lực cho một cơ quan quản lý, điều hành một số lợi ích chung trong khi các thành viên vẫn giữ nguyên vẹn tính độc lập của chúng, ví dụ:  NATO, Liên hợp quốc, khối các nước Ả-rập Thống nhất (the United Arab Emirates);fedearation: là một quốc gia độc lập gồm nhiều đơn vị lãnh thổ có chính quyền riêng biệt ở cấp bang, tỉnh hoặc vùng – các chính quyền này được đảm bảo một qui chế được ghi rõ trong hiến pháp của quốc gia về mức độ độc lập và tự trị so với chính quyền trung ương, ví dụ: Australia, Ấn Độ, Áo, Canada, Đức, Thụy Sỹ, Mỹ,… (theo Kenneth Newton và Jan W. Vandeth,Foundations of Comparative Politics – Democracies of the modern world, Cambridge, second edition, 2010)

    Chính thể (chính quyền) bình dân (popular government): Chính thể (chính quyền)  nhằm phân biệt tương phản với chính thểquân chủ. Trong chính quyền bình dân, quyền lực công không có tính chất thừa kế và không tập trung vào tay một cá nhân (hay nhóm), nghĩa là các chức vụ quản lý công của quốc gia, xã hội được hình thành thông qua sự lựa chọn (hoặc phế truất) bởi dân chúng một cách định kỳ. Tuy nhiên, tư cách cử tri và tư cách ứng cử viên trong chính thể bình dân, tại thời điểm của Federalist Papers ra đời, chưa được mở rộng phổ thông tới toàn dân như ngày nay, nhưng quá trình bầu cử và ứng cử là hoàn toàn công khai và minh bạch (khác hoàn toàn với các chính thể dân chủ giả hiệu hiện nay như ở Trung Cộng, Việt Nam,…)

    Đàn hạch (impeachment): Là một thủ tục pháp lý đặc biệt, có nguồn gốc từ thế kỷ XIV tại Anh, nhằm cáo buộc một viên chức cao cấp (thường là người đứng đầu hành pháp) đã có hành động được coi là không đúng đắn hoặc/bất hợp pháp gây tổn hại tới quyền lợi chung của đất nước. Kết cục của đàn hạch thường dẫn tới bãi chức hoặc có thể kèm theo cả hình phạt về dân sự hoặc hình sự tùy từng nơi, nhưng thường là nhằm mục đích tố giác sự thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm của một viên chức cao cấp. Thẩm quyền lập đàn hạch và xét xử đàn hạch thường thuộc hai thiết chế khác nhau và phải là một trong các nhánh quyền lực cơ bản của chính quyền, ví dụ Hạ viện Mỹ có quyền công tố quyết định đàn hạch đối với Tổng thống, các thẩm phán của Pháp viện Tối cao, nhưng vai trò thẩm phán xét xử đàn hạch thuộc thẩm quyền của Thượng viện. (xem FP 39, FP 47)

    Hợp nhất (consolidation): Xem mục “Bang liên”

    Kìm soát và Đối trọng (‘checks and balances’): Thuật ngữ này xuất phát từ ý niệm của Montesquieu (1689-1755) trong tác phẩm De l’esprit des lois (1748), trong đó Montesquieu nhận định rằng quyền lực có tính xâm lấn, hung dữ và để kiềm chế ác tính này thì cần phải tạo ra một cơ chế hữu hiệu, cơ chế đó là tạo ra quyền lực khác đối trọng với nó. Sau này, các nhà lập quốc Mỹ đã phát triển ý niệm này rõ hơn và đi đến hình thành thuật ngữ ‘checks and balances’ (hoặc nói ngược lại ‘balances and checks’) nghĩa là các nhánh quyền lực chính trong một chính quyền, lập pháp, hành pháp, tư pháp, phải tách rời nhau sao cho chính chúng trở thành phương tiện kiểm soát, kìm hãm và đối trọng lẫn nhau để giảm thiểu cao nhất sự tích tụ quyền lực quá nhiều vào một cá nhân (cơ quan) dẫn tới tình trạng độc tài, độc đoán gây bất lợi cho tự do và lợi ích công của toàn xã hội. (xem FP 9, FP 48, FP 51)

    Nhiệm kỳ bấp bênh (during pleasure): Nhiệm kỳ đã có hạn định là 2, 4 hoặc 5 năm, v.v. nhưng có thể bị truất quyền, phế bỏ chức vụ bất cứ lúc nào khi người dân cảm thấy không hài lòng (pleasure). Thuật ngữ này đối ngược với nhiệm kỳ phẩm hạnh“during good behavior”.

    Nhiệm kỳ phẩm hạnh (during good behavior): Nhiệm kỳ vô thời hạn (coi như suốt đời đến khi về hưu hoặc tới lúc từ chức) chừng nào phẩm hạnh của người giữ chức vụ này vẫn được coi là tốt đẹp dù người dân có thể không thấy hài lòng (pleasure). Loại nhiệm kỳ này thường chỉ áp dụng cho các thẩm phán cấp cao (thẩm phán liên bang, thẩm phán tòa tối cao).

    _______________________

    [1] Ở đây ý tác giả  nhắc lại lập luận đã nói trong FP 47, 48 rằng “tam quyền phân lập” không có nghĩa là tách biệt, khác nhau một cách tuyệt đối giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp.

    [2] Xem thêm phần Thuật ngữ, “Nhiệm kỳ phẩm hạnh”.

    [3] Vì theo nguyên tắc chung của “cộng hòa”, khác với “quân chủ”, các chức vụ công quyền phải có hai đặc tính: do nhân dân lập ra và có thời hạn nhất định. Nhưng ở đây, như ta thấy nguyên tắc (chung) này không được tuân thủ nghiêm ngặt ở khía cạnh “nhiệm kỳ có thời hạn”.

    [4] Ở đây chúng ta cần xem lại một đoạn trong De l’esprit des lois của Montesquieu xuất bản năm 1748 ở Chương XI, 4 “…mais c’est une expérience éternelle que tout homme qui a du pouvoir est porté à en abuser; il va jusqu’à ce qu’il trouve des limites. Qui le dirait! la vertu même a besoin des limites. Pour qu’on ne puisse abuser du pouvoir, il faut que, par la disposition des choses, le pouvoir arrête le pouvoir” – “…đó thuộc về một kinh nghiệm muôn thuở rằng mọi kẻ có quyền lực đều sẽ lạm dụng quyền lực hết mức cho tới tận khi thấy bị giới hạn. Đó là qui luật! Vì đạo đức cũng phải cần có giới hạn cơ mà. Để người ta không thể lạm dụng được quyền lực, cần phải tạo ra quyền lực để ngăn chặn quyền lực, như bản chất thường tình của sự vật.” John Adams (1735-1826), một nhà lập quốc Hoa Kỳ và là Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ cũng có phát biểu tương tự vào năm 1778 khi bàn về chính quyền: “Orders of men, watching and balancing each other, are the only security; power must be opposed to power, and interest to interest.” – “Các nhóm người khác nhau, cảnh giới và đối trọng lẫn nhau, là biện pháp an ninh duy nhất; quyền lực phải chống lại quyền lực, và quyền lợi chống lại quyền lợi.”   A.A.

    [5] Ý này giống ý của Jean Jacques Rousseau viết trong Du Contrat social,  Tập III, Phần 4 “S’il y avait un peuple de Dieux, il se gouvernerait Démocratiquement. Un gouvernement si parfait ne convient pas à des hommes” – “Nếu có một dân tộc Thần thánh, họ sẽ tự quản trị một cách Dân chủ. Một chính quyền hoàn hảo như thế không phù hợp với loài người.” A.A.

    [6] Nghĩa là làm giảm sự câu kết giữa các bộ phận lập pháp tối đa nhưng vẫn phải duy trì được các chức năng chính của chúng và chúng vẫn phải là kết quả từ ý nguyện của dân chúng. Đó là lý luận cho mô hình lập pháp gồm 2 viện (bicameral), nhưng các diễn tiến chính trị sau này của nhân loại cho thấy không nhất thiết phải tách nhánh lập pháp ra làm hai mà vẫn đảm bảo nhánh lập pháp không lộng quyền.

    [7] Tác giả ngụ ý về số lượng các thành viên của cơ quan lập pháp thường lớn hơn nhiều so với hành pháp, tư pháp.

    [8] “phủ quyết tuyệt đối” (absolute negative) là quyền bác bỏ không thể lật lại – là đề xuất của chính Madison trong Hội nghị Philadelphia nhưng đã bị bác bỏ. Sau này quyền phủ quyết của hành pháp (tổng thống) là quyền tương đối vì quốc hội có thể vượt qua bằng một lần biểu quyết mới với sự đồng thuận của ít nhất 2/3 thành viên của cả hai viện. A.A.

    [9] Tức nhánh hành pháp.

    [10] Tức nhánh lập pháp.

    [11] Để dễ hình dung hơn trong đoạn lý luận này, chúng ta có thể cụ thể hóa như thế này: tác giả đang giả thiết sẽ tạo lập một quan hệ tương tác giữa hành pháp và thượng viện (nhánh yếu hơn của lập pháp) để khi cần thượng viện sẽ cho tiếng nói ủng hộ quyết định đối với hành pháp nhưng sự ủng hộ đó của thượng viện lại không đi quá xa các quyền lập pháp. Ý tưởng này đã được hiện thực hóa trong Hiến pháp Mỹ, ví dụ Điều 1 khoản 3 cho phép Thượng viện giữ quyền xét xử mọiđàn hạch-impeachment (ví dụ đối với tổng thống) do Hạ viện đề xuất – nghĩa là có thể Hạ viện muốn phế truất Tổng thống nhưng Thượng viện khi xét xử lại không đồng ý – tức bảo vệ Tổng thống.

    [12] Nguyên văn “All the power surrendered by the people”. Từ “surrender” nghĩa đen là “đầu hàng”, “từ bỏ”, “giao nộp” với ý buộc chấp nhận trong hoàn cảnh hết khả năng. Cách dùng từ này của tác giả có thể xuất phát từ triết lý chính trị cho rằng người dân không thể tự dùng quyền lực của bản thân trong việc điều hành cộng đồng (như nền dân chủ sơ khai của Hy Lạp cổ), nhân dân buộc phải từ bỏ quyền lực đó cho một số người khác nếu muốn có một xã hội được quản trị tốt.

    [13] Đoạn này lại cho thấy quan điểm của các tác giả Federalist, nhất là James Madison (thể hiện trong FP 10) rất e ngại sự độc tài của đa số và rất lưu tâm tới quyền của thiểu số.

    [14] “the United States” tức Liên bang Mỹ theo mô hình như Hiến pháp dự thảo đề xuất.

    [15] Cả đoạn này có nghĩa dễ hiểu hơn là: Chia Liên bang thành nhiều thực thể nhỏ sẽ gây mất an ninh cho các quyền tự do của công dân nhưng lại làm tăng an ninh cho quyền lực của một số kẻ cầm quyền.

    [16] Nguyên văn “the weaker individual is not secured against the violence of the stronger”.

    [17] Rhode Island là tiểu Bang có kích thước rất nhỏ so với các tiểu Bang khác và là tiểu Bang duy nhất không gửi đại diện tham dự Hội nghị (lập hiến) Philadelphia.

    [18] “popular form of government”. Xem thêm phần Thuật ngữ mục “Chính thể bình đân”.

    nguon

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s