Thách thức chiến lược ở Thái Bình Dương (phần 1)

1-US_Emblem

Trường Sơn dịch, CTV Phía Trước
Michael D. Swaine, Foreign Affairs

Một phản hồi với bài viết “Làm cách nào chặn Trung Quốc” của tác giả Andrew F. Krepinevich

Trong những năm qua, nhà phân tích Andrew Krepinevich, Jr.[1], từng tranh luận để bảo vệ một lý thuyết quân sự của nước Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương gọi là “Chiến tranh không – hải”. Khái niệm này tập trung chủ yếu vào thực hiện tấn công phủ đầu áp đảo trong giai đoạn đầu của một cuộc xung đột với nhiều khả năng leo thang. Có lẽ vì thấy được cách tiếp cận trên đòi hỏi chi phí tốn kém và mức rủi ro đến dường nào, Krepinevich hiện giờ cung cấp một thuật ngữ thay thế gọi là “Phòng thủ theo cụm đảo” (Ông đề xuất khái niệm này trong bài viết “Làm cách nào chặn Trung Quốc” công bố vào khoảng tháng ba/ tháng tư 2015). Cách tiếp cận này sẽ “chặn đứng khả năng Trung Quốc kiểm soát không phận và hải phận xung quanh chuỗi đảo thứ nhất”[2], thông qua việc triển khai các lực lượng mặt đất của Mỹ và đồng minh, cùng với lượng khí tài quân sự bao gồm vũ khí chống máy bay, chống tên lửa, chống tàu ngầm. Ông khẳng định tính cấp thiết của những kế hoạch này bao gồm sự chuẩn bị kéo dài trong vùng biển trải rộng từ Nhật Bản đến Philippines, trong hoàn cảnh Bắc Kinh đã cam kết một chiến lược với những biện pháp thúc ép và đe dọa loại trừ quyền lực biển của Hoa Kỳ khỏi khu vực tây Thái Bình Dương vì mục đích tối hậu của Trung Quốc là quyền thống trị trong khu vực.

Ông Krepinevich đã hoàn toàn đúng khi cho rằng một số chiến lược ngăn chặn nhằm chống lại hành động khiêu khích và tấn công của Trung Quốc trên vùng lãnh thổ quan trọng của đồng minh trong chuỗi đảo đầu tiên có ý nghĩa răn đe để đề phòng tình huống xấu nhất. Tuy nhiên, ông vẫn chưa làm rõ chiến lược này có liên hệ thế nào đến tình hình an ninh tổng thể của nước Mỹ trong khu vực. Và ông cũng không đề cập tới những vấn đề chiến lược quan trọng đang thách thức chính quyền Washington, đấy là sự xuống sức không thể phủ nhận của cả quân đội và ưu thế kinh tế ở vùng duyên hải châu Á.

Đối với những nhà phân tích như Krepinevich, chắc chắn rằng những cường quốc mới trỗi dậy như Trung Quốc sẽ tìm kiếm sự thống trị bằng quyền lực cứng và thách thức chủ yếu với những siêu cường hiện đang kiểm soát khu vực như Hoa Kỳ là làm cách nào ngăn chặn diễn biến này. Dạng tư duy một mất một còn như vậy, hiện ngày càng phổ biến ở cả hai phía Thái Bình Dương, đang làm tình hình khu vực ngày càng căng thẳng, cũng như làm suy yếu mọi nỗ lực duy trì hòa bình và thịnh vượng vốn là mục tiêu chung. Cả hai siêu cường sẽ cùng được lợi từ một hướng tiếp cận khác với cách đối đầu trên, thay vì hai phía phải lao vào thế cục phân tranh quyền lực ngày càng gay gắt xung quanh ưu thế của nước Mỹ trong khu vực, họ có thể cùng thỏa thuận để đạt đến một trạng thái cân bằng quyền lực chính thức về dài hạn ở vùng tây Thái Bình Dương dựa vào sự kiềm chế lẫn nhau về quân sự và chính trị, bên cạnh những điều chỉnh để thích nghi, cũng như những ​​chính sách được hoạch định để giảm mức căng thẳng ở những điểm nóng như bán đảo Triều Tiên và Đài Loan.

VIỄN CẢNH XUNG ĐỘT

Hầu như mọi quan chức Mỹ và các nhà lãnh đạo châu Á tin rằng quyền lực đại dương của người Mỹ đã kiến lập nền tảng cho một giai đoạn 70 năm tương đối hòa bình và thịnh vượng trên hầu khắp khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cũng như ngăn chặn mọi dấu hiệu chạy đua vũ trang, xung đột quân sự và hỗ trợ cho những mục tiêu tập trung phát triển kinh tế trong hòa bình. Tuy nhiên, nhiều người Trung Quốc tin rằng trong một thế giới ngày càng phân cực và phụ thuộc lẫn nhau, nền hòa bình và thịnh vượng nên dựa vào trạng thái cân bằng tương đương của quyền lực, cả trên phạm vi toàn cầu hay giữa các cường quốc của khu vực, và các quốc gia này cần phối hợp trong việc đối mặt với những thách thức chung, đối thoại bất cứ khi nào có thể thông qua các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc.

Trong những chừng mực nhất định, tất cả những quan điểm trên đều không vì lợi ích chung. Bản thân chính quyền Washington sẽ hưởng lợi nhiều nhất từ một trật tự thế giới do nước Mỹ dẫn đầu, với những quan điểm và lập trường của họ luôn được ưu tiên, còn chính quyền Bắc Kinh sẽ được lợi trong một viễn cảnh của sự bình đẳng hơn về quyền lực, với khả năng đưa ra tiếng nói và truy vấn có sức nặng hơn với Hoa Kỳ. Nhưng chính giới lãnh đạo ở mỗi nước cũng thực sự nghĩ rằng vị trí của họ đã phản ánh chính xác bức tranh hiện tại và tương lai của trật tự quyền lực toàn cầu. Người Mỹ thường tin rằng hòa bình và ổn định sẽ được tạo điều kiện phát triển mạnh dưới quyền bá chủ của nước Mỹ, nghĩa là trật tự ấy có thể và cần được gìn giữ, trong khi những người đồng cấp Trung Quốc của họ cho rằng quyền bá chủ như vậy là một hiện trạng bất thường của lịch sử và cần phải được thay thế bằng một sự tái phân bổ quyền lực, và đấy chính là những gì họ đang làm.

Lính hải quân Trung Quốc đứng gác trên boong tàu Liêu Ninh, tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc, trên hành trình tới một căn cứ quân sự ở Tam Á, tỉnh Hải Nam, tháng 11 năm 2013.

Trong phần lớn thời kỳ hậu chiến, những lập trường khác biệt này vẫn có thể cùng tồn tại tương đối dễ dàng, chủ yếu là vì khi ấy Bắc Kinh quá yếu để có thể bảo vệ quan điểm riêng của mình, với nền kinh tế vẫn tăng trưởng đều đặn trong trật tự do Mỹ bảo trợ. Nhưng thời thế đã thay đổi; Trung Quốc đã đủ lớn mạnh để không phải ngồi chiếu dưới nữa, cũng như khẳng định quan điểm về trật tự quyền lực ở phía tây Thái Bình Dương.

Diễn biến này này thực ra không có gì đáng ngạc nhiên đối với bất cứ ai am hiểu lịch sử Trung Quốc hiện đại, am hiểu về những quá trình chuyển giao quyền lực đất nước này đã trải qua. Động cơ để Bắc Kinh vẫn phải tiếp tục làm việc với Washington, cũng như với cả thế giới phương Tây luôn hiện hữu, đấy không chỉ vì mục đích duy trì tăng trưởng kinh tế liên tục mà còn để đối mặt với một loạt những biến động lớn ngày càng gia tăng trên toàn cầu và ở phạm vi khu vực, từ các đại dịch, tới những thảm họa do biến đổi khí hậu và mối đe dọa từ chủ nghĩa khủng bố. Đồng thời, cũng dễ hiểu rằng bản thân chính quyền Bắc Kinh luôn muốn giảm thiểu mức độ dễ tổn thương trước những mối đe dọa tiềm tàng từ Hoa Kỳ và các quốc gia khác trong khi vẫn phải tăng cường sức ép tổng thể dọc theo biên giới hàng hải chiến lược quan trọng nhất. Trong khi quyền lực quốc tế và ảnh hưởng ngày càng lớn, lợi ích nước ngoài càng mở rộng, và nhất là những kẻ ủng hộ chủ nghĩa dân tộc trong nước ngày càng hành động quyết liệt hơn, chính quyền Bắc Kinh sẽ tự khắc ở vào trạng thái ít khả năng chấp nhận vô điều kiện những mối liên hệ và trật tự về quân sự, chính trị, kinh tế mà chính quyền này tin rằng luôn tiềm ẩn bất công và chỉ có lợi cho các nước phương Tây. Và quốc gia này sẽ ngày càng lo ngại viễn cảnh Washington dùng đến áp lực hay thậm chí là vũ lực để cố gắng làm suy yếu hệ thống an ninh hàng hải của Trung Quốc ở phía tây Thái Bình Dương, kéo theo đó chặn đứng cả những nguy cơ suy giảm về quyền lực và uy thế chính trị của Hoa Kỳ.

Nhiều quan sát viên Trung Quốc hiện nay tin rằng sự yếu kém trong quá khứ của chính quyền Bắc Kinh và nhu cầu hiện tại phải hợp tác với Hoa Kỳ nói riêng và phương Tây nói chung đã làm cho chính quyền này trở nên quá dễ dãi hoặc bị động trong việc đối phó với những thách thức vi phạm đến cả những lợi ích quốc gia quan trọng nhất của Trung Quốc, từ việc Mỹ không ngừng viện trợ cho đảo Đài Loan và cả những nước châu Á có liên quan đến tình hình căng thẳng trong khu vực, đến những hoạt động do thám tầm gần của Mỹ và những hành vi thu thập tin tình báo dọc theo bờ biển Trung Quốc. Sự phát triển đến mức cực đoan của hình thái chủ nghĩa dân tộc này luôn tạo ra áp lực có thể thay thế chính sách chủ yếu của Trung Quốc vốn theo đuổi mục tiêu “phát triển trong hòa bình” về lâu dài, trong đó tập trung vào việc duy trì quan hệ thân thiện với Hoa Kỳ và các cường quốc khác, bằng một đường lối quyết liệt hơn nhằm phá hoại của uy quyền của Mỹ ở khu vực châu Á. Trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chính là một bước tiến rõ rệt theo hướng cực đoan này, nhấn mạnh ở một mức độ chưa từng thấy thái độ kiên quyết của Trung Quốc trong việc quản lý các vấn đề thuộc lãnh thổ và chủ quyền những vùng biển phía đông và phía nam.

dsv

Trong khi dõi theo những biến động này, nhiều quan sát viên của Mỹ và các nước khác nhận ra sự khởi đầu của một tham vọng còn lớn hơn, không chỉ nhằm chấm dứt sự hiện diện của quyền uy của nước Mỹ ở châu Á, mà còn để thay thế quốc gia này và trở thành siêu cường hàng đầu trong khu vực, và thậm chí có thể trên toàn cầu. Những khẳng định chắc chắn hơn của Trung Quốc đối với vấn đề tranh chấp lãnh hải, cũng như với hoạt động tình báo, giám sát của Mỹ và Nhật dọc theo lãnh hải của quốc gia này được xem là hàn thử biểu đối với nước Mỹ và quyết tâm của cả liên minh, cũng là bước đầu cho việc kiến tạo những khu vực cấm di chuyển để làm nền tảng cho quá trình thiết lập quyền kiểm soát của Trung Quốc trên khu vực tây Thái Bình Dương. Từ góc nhìn này, hướng hành động thích hợp nhất với chính quyền Washington là dứt khoát cảnh tỉnh để Bắc Kinh từ bỏ tham vọng bằng cách tăng cường ưu thế quân sự của Mỹ tại đây, tăng cường khai thác điểm yếu của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương, và khẳng định rõ ai đang làm chủ trong vùng biển sau 12 hải lý của lãnh hải của Trung Quốc.

Vấn đề với viễn cảnh này, vốn đã tiềm tàng trong khái niệm “Phòng thủ theo cụm đảo” do nhà phân tích Krepinevich đề xuất, là nó phán đoán sai động thái của Trung Quốc và do đó không hề giảm nhẹ mà chỉ càng làm trầm trọng thêm những xung đột luôn tiềm ẩn. Tham vọng thực tế của Bắc Kinh để giới hạn hoặc chấm dứt ưu thế quân sự của nước Mỹ dọc theo lãnh hải của họ họ được thúc đẩy bởi trạng thái bất định, bất an và chủ nghĩa cơ hội chứ không phải bởi một tầm nhìn chiến lược lớn về quyền thống trị của Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay không hề cố gắng tạo lập một khu vực nhất định để áp đặt quyền thống trị, đặc biệt là đối với vấn đề quyền lực cứng; họ đang cố gắng giảm thiểu mức độ dễ tổn thương đáng kể của họ, cũng như gia tăng đòn bẩy chính trị, ngoại giao và kinh tế ở khu vực sân sau. Đây là một mục tiêu ít tham vọng và trong nhiều chừng mực cũng dễ hiểu hơn để tạo lập quyền lực của đại lục. Như vậy, chính quyền Bắc Kinh không nhất thiết phải uy hiếp đến cả những lợi ích sống còn của Mỹ hoặc các đồng minh, chiều hướng đối ngoại như vậy nên được đáp lại bằng một số nỗ lực thỏa hiệp hơn là thái độ sẵn sàng gây hấn.

NHỮNG XU HƯỚNG KHÔNG BỀN VỮNG

Uy thế của quân đội Mỹ ở Tây Thái Bình Dương không thể được biện minh bởi nhu cầu đối kháng với một Trung Quốc đang trỗi dạy và muốn thay thế nó, hay trách nhiệm đảm bảo trật tự khu vực (và cả trên toàn cầu). Không thể có chuyện Bắc Kinh sẽ vĩnh viễn chấp nhận ưu thế của Mỹ và Hoa Kỳ được toàn quyền tự do hành động ở Thái Bình Dương, cũng như thừa nhận khả năng chiến thắng của quân đội Mỹ trong một cuộc xung đột quân sự tiềm năng. Do đó, động thái cố gắng duy trì uy thế quân sự như vậy, thực tế chính là con đường ngắn nhất để dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang thường trực và luôn được đảm bảo, cũng như gia tăng tình trạng phân cực trong khu vực, và giảm sâu hơn nữa khả năng hợp tác giữa Washington và Bắc Kinh trong việc chung tay giải quyết những thách thức toàn cầu. Và thậm chí nếu một số nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể bị thuyết phục để thừa nhận quyền lực luôn hiện diện của người Mỹ ở khu vực này, họ gần như chắc chắn sẽ phải chịu đựng sự phê phán khốc liệt và liên tục của dư luận trong nước vì dám làm vậy trong khi Trung Quốc vẫn đang trỗi dậy và thường sau đấy phải làm ngược lại để bảo đảm sự tồn vong chính trị của họ.

Trong khi đó, những kế hoạch duy trì ưu thế quân sự của Mỹ trong khu vực sẽ càng lúc càng khó thực hiện và tốn kém hơn. Một nghiên cứu mới đây của Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế[3] (tôi là đồng tác giả) về môi trường an ninh lâu dài ở châu Á đã kết luận rằng Hoa Kỳ sẽ vẫn là cường quốc quân sự đứng đầu trên phạm vi toàn thế giới trong nhiều năm nữa. Nhưng nghiên cứu này cũng cho thấy chính quyền Washington gần như chắc chắn sẽ đối đầu với những hạn chế kinh tế ngày càng trầm trọng về chi tiêu quốc phòng trong nỗ lực cố gắng dẫn trước một quân đội Trung Quốc ngày càng lớn mạnh với sự hiện diện của một lực lượng bán quân sự trong vòng khoảng 1.500 hải lý tính từ bờ biển Trung Quốc (có nghĩa là, một vùng biển bao gồm cả chuỗi đảo thứ nhất và thứ hai[4]).

Tuy nhiên, Trung Quốc cũng phải đối mặt với thách thức tương tự như những gì Hoa Kỳ gặp phải để đạt được quyền thống trị trên biển. Những nghiên cứu của quỹ Carnegie cũng kết luận rằng uy thế quân sự của Mỹ ở châu Á gần như chắc chắn vẫn còn rất mạnh và thậm chí ngay cả khả năng quân sự vẫn đang tiến bộ vượt bậc của Trung Quốc cũng sẽ không đem lại cho Bắc Kinh khả năng vượt trội rõ ràng. Do đó, bất kỳ nỗ lực nào của Trung Quốc nhằm thiết lập quyền kiểm soát ở châu Á sẽ thất bại, đều vì Trung Quốc sẽ không bao giờ dễ dàng vượt mặt Hoa Kỳ, và nguy cơ về một viễn cảnh như vậy sẽ càng tạo cảm giác lo sợ nơi những nước xung quanh và đẩy họ vào thế liên minh với Washington.

Giới lãnh đạo Trung Quốc cũng hiểu được điều này và như vậy sẽ không mạo hiểm vì quyền thống trị nếu như họ có thể đạt được một phần ưu thế quân sự và khả năng kiểm soát như vậy bằng những cách thức ít rủi ro hơn. Họ chỉ có thể chấp nhận đánh cược vì một cuộc phiêu lưu quyền lực như vậy (theo cách đối nghịch với những điệu bộ hòa hoãn để tìm cơ hội trong hình thức của những động thái hạn chế hơn) chỉ khi lời nói và hành động của Washington khiến họ tin rằng ngay cả mức tối thiểu về quyền lực trên biển mà họ muốn đạt được cũng buộc họ phải đánh cược như vậy. Thật không may, việc Hoa Kỳ áp dụng những thuật ngữ quân sự mang nhiều tính đối kháng, điển hình là khái niệm “chiến tranh không – hải”, hay “kiểm soát xa bờ”, hoặc thậm chí là “phòng thủ theo cụm đảo”[5], sẽ càng khiến Trung Quốc phải đáp trả bằng những biện pháp tương ứng và như vậy góp phần dẫn đến một viễn cảnh ngày càng xấu của an ninh hàng hải ở Tây Thái Bình Dương.

Còn tiếp…

________

[1] Andrew F. Krepinevich, Jr. là một nhà phân tích chính sách quốc phòng, hiện giữ chức Chủ tịch Trung tâm Đánh giá Chiến lược và Ngân sách (Center for Strategic and Budgetary Assessments) của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

[2] Chuỗi đảo thứ nhất: hệ thống phòng thủ do Mỹ xây dựng từ thời Chiến tranh Lạnh, với bốn điểm trọng yếu là Hàn Quốc (đầu chuỗi đảo), Philippines (đuôi chuỗi đảo), Đài Loan (khóa chuỗi đảo), Nhật Bản (trọng tâm).

[3] The Carnegie Endowment for International Peace: Một viện chính sách chuyên nghiên cứu chính sách đối ngoại với những trụ sở ở Washington, Moscow, Beirut, Bắc Kinh và Brussels, thành lập năm 1910 bởi Andrew Carnegie, hoạt động của tổ chức này thường không bị chi phối bởi bất kỳ đảng phái chính trị nào, hoạt động vì nỗ lực thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia.

[4] Chuỗi đảo thứ hai: những hòn đảo xa hơn ở phía đông Thái Bình Dương, bao gồm quần đảo Marianas, Carolines và cả lãnh thổ Guam của Mỹ-nơi có căn cứ không quân Andersen

[5] Air – Sea Battle, Offshore Control, Archipelagic Defense.
nguon

Advertisements
This entry was posted in Hoàng Trường Sa. Bookmark the permalink.

One Response to Thách thức chiến lược ở Thái Bình Dương (phần 1)

  1. haiz00 says:

    Thách thức chiến lược ở Thái Bình Dương (phần cuối)

    Trường Sơn dịch, CTV Phía Trước
    Michael D. Swaine, Foreign Affairs

    Một phản hồi với bài viết “Làm cách nào chặn Trung Quốc” của tác giả Andrew F. Krepinevich

    CẦN HƠN SỰ ỔN ĐỊNH

    Do đó, đối với cả Hoa Kỳ và Trung Quốc, thách thức chiến lược chủ yếu trong tương lai là tìm ra một giải pháp để kiến tạo một diễn tiến có lợi cho cả đôi bên, trong đó ưu thế của Mỹ ở khu vực sẽ chuyển dần thành trạng thái cân bằng quyền lực ở Tây Thái Bình Dương, với một thế cục như vậy, không phía nào đạt được khả năng chắc chắn để chiến thắng trong một cuộc xung đột vũ trang, nhưng cả hai nước đều có thể tin rằng lợi ích sống còn của họ vẫn được bảo toàn.

    Một giải pháp như vậy lại rất khó để đạt được và luôn tiềm tàng nguy hiểm. Khu vực này sẽ luôn cần đến không chỉ một loạt những khả năng quản lý khủng hoảng và cơ chế xây dựng lòng tin, vượt ngoài giới hạn của những nền tảng đã được tạo dựng đến nay ở châu Á, mà còn cả những bảo đảm chiến lược và khả năng kiềm chế đến cao độ. Nhiều quan sát viên am hiểu tình hình đã cung cấp những khuyến nghị nhằm giảm thiểu sự mất lòng tin và tăng cường mức độ hợp tác giữa Washington và Bắc Kinh, bao gồm tất cả mọi thứ từ hàng hóa của Mỹ, chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc đến sự nhượng bộ, hạn chế lẫn nhau về vấn đề Đài Loan và những tranh chấp lãnh hải thường xuyên diễn ra. Phần lớn những ý tưởng này đều thiết thực, nhưng vẫn không thể giải quyết vấn đề cơ bản nhất là sự thiếu thiện chí của người Trung Quốc để có thể chấp nhận ngồi chiếu dưới về uy thế quân sự dọc theo lãnh hải của họ.

    Để giảm thiểu nguy cơ xung đột và tăng cường những cơ hội hợp tác, cả Washington và Bắc Kinh sẽ cần phải đạt được những thỏa thuận sơ bộ đáng tin cậy về tương lai của bán đảo Triều Tiên và đảo Đài Loan, cũng như vấn đề quản lý tranh chấp lãnh hải ở những vùng biển phía đông và phía nam Trung Quốc, phạm vi và chức năng của những hoạt động quân sự không phải của Trung Quốc trong chuỗi đảo thứ nhất (hoặc ít nhất là trong cả vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc và Nhật Bản). Những thỏa thuận sơ bộ như vậy gần như chắc chắn phải bao gồm một số hình thức đáng tin cậy của tiến trình trung lập hóa trong những khu vực vốn là nguồn gốc của mâu thuẫn ngày càng tăng hoặc chịu kiểm soát bởi quyền lực của phía Mỹ hay Trung Quốc, của việc tạo lập một vùng đệm có ý nghĩa thực tế dọc theo lãnh hải Trung Quốc. Chỉ có những động thái như vậy mới có thể xác lập một niềm tin chiến lược được đảm bảo từ cả hai phía để duy trì một môi trường an ninh ổn định về lâu dài.

    Đối với trường hợp của miền Bắc và Nam Triều Tiên, chiến lược này sẽ hàm ý sự xuất hiện của một bán đảo thống nhất, trung lập (hoặc gần như vậy), không có sự hiện diện của các lực lượng quân sự nước ngoài. Kết cục như vậy phải dựa vào một thỏa thuận đáng tin cậy từ cả Hoa Kỳ và Trung Quốc xác nhận rằng một nước Triều Tiên thống nhất sẽ không phải chịu đựng bất kỳ áp lực nào từ bên ngoài và sẵn sàng đón nhận những liên hệ về kinh tế và chính trị với cả hai nước. Một thỏa hiệp như thế có thể bao gồm việc một số hình thức quan hệ an ninh với Washington vẫn tiếp tục hiện diện, nhưng chắc chắn sẽ giảm đáng kể so với trước, ít nhất là về ngắn hạn và trung hạn. Tiến trình này cũng có thể cần đến sự hỗ trợ từ Nhật Bản nhằm cung cấp những đảm bảo an ninh cho một Triều Tiên thống nhất, ít nhất là ở mức độ không có vũ khí hạt nhân hoặc một số loại vũ khí thông thường nhưng vẫn có thể tiềm ẩn mối đe dọa, chẳng hạn như những vũ khí với khả năng tấn công đạt độ chính xác đạn đạo và tên lửa hành trình.

    Đối với trường hợp Đài Loan, bước đầu tiên cần đạt được là một thỏa thuận sơ bộ giữa Mỹ và Trung Quốc về giới hạn để Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan, cùng với việc kiểm chứng giới hạn trong những hoạt động sản xuất và triển khai quân sự có liên quan của Trung Quốc, bao gồm tên lửa đạn đạo và máy bay tiêm kích. Bắc Kinh cũng cần phải cung cấp những đảm bảo đáng tin cậy rằng quốc gia này sẽ không sử dụng vũ lực chống lại Đài Loan khi Đài Loan vẫn chưa tuyên bố nền độc ​​lập hợp pháp hoặc khi không có dấu hiệu của quân đội Mỹ.

    Trong quá khứ, chính quyền Bắc Kinh chưa từng biểu đạt thiện chí không dùng đến những giải pháp phi quân sự đối với đảo Đài Loan, họ xem việc không dùng vũ lực trong trường hợp này như một giới hạn về chủ quyền của Trung Quốc đối với Đài Loan. Tuy nhiên, tương tự như trường hợp của bán đảo Triều Tiên, Bắc Kinh có thể phải chấp nhận thay đổi lập trường về vấn đề Đài Loan nếu động thái ấy cần thiết để ổn định tình hình của khu vực tây Thái Bình Dương; Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng có thể xem đấy như một bước tiến để đạt được sự thống nhất cuối cùng của các hòn đảo với đại lục. Ngoài ra, chính quyền Bắc Kinh cũng sẽ phải thừa nhận rằng một hình thái thống nhất như vậy chỉ có thể diễn ra thông qua một tiến trình hòa bình có sự tham gia tự nguyện của mọi người dân Đài Loan và phải mất hàng thập kỷ để hoàn tất. Về phần chính quyền Washington, nhiều khả năng họ phải đề xuất những thỏa ước với Bắc Kinh để đảm bảo rằng quân đội Mỹ sẽ không triển khai quân cũng như không tiếp tục bất cứ hình thức viện trợ quốc phòng nào cho Đài Bắc, miễn là Bắc Kinh làm đúng như trách nhiệm của họ. Và cả hai cường quốc này cần phải thường xuyên tham khảo ý kiến từ cả Đài Loan và Nhật Bản trong mỗi bước của tiến trình này, cũng như cung cấp những đảm bảo rõ ràng và đáng tin cậy về những thỏa thuận đạt được giữa hai bên.

    Đối với tranh chấp lãnh thổ ở những vùng biển phía đông và phía nam Trung Quốc, Hoa Kỳ cần phải làm rõ rằng chính quyền này bận tâm rất ít đến những xung đột xảy ra giữa các bên tranh chấp, trừ những biến động về an ninh hàng hải đe dọa trực tiếp đến hai đồng minh của Mỹ ở đây là Nhật Bản và Philippines. Washington cần biểu đạt, theo cách không thiên vị, một dấu hiệu ràng buộc về quản lý và thủ tục pháp lý để giải quyết xung đột và phân xử các khiếu nại, nhưng chính phủ Mỹ nên tránh đặt cược uy tín của mình vào việc đảm bảo rằng mọi trường hợp đều được giải quyết theo hướng không dùng đến vũ lực. Nói cách khác, Hoa Kỳ phải cho thấy rõ lập trường rằng chính quyền này sẽ dùng đến sức mạnh quân sự nếu cần thiết, để ngăn chặn mọi nỗ lực của Trung Quốc nhằm thiết lập một khu vực do Trung Quốc toàn quyền kiểm soát hoặc mọi động thái nhằm mở rộng  thực quyền trên biển của Trung Quốc đến những khu vực tranh chấp vượt quá giới hạn hợp pháp. Về phần mình, chính quyền Bắc Kinh phải khẳng định bằng lời nói và hành động, rằng sẽ không có giải pháp quân sự nào thỏa đáng để giải quyết những tranh chấp và nó sẽ không tìm cách loại trừ đối thủ bằng vũ lực khỏi những khu vực chiếm đóng từ trước. Chính quyền này cũng phải tuyên bố một cách thuyết phục và hợp lý, công khai hoặc bí mật, rằng vùng biển phía Nam Trung Quốc tuy nằm trong ranh giới của cái gọi là “đường chín đoạn” (một lãnh hải Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trong thập niên 40 của thế kỷ XX và chưa quốc gia nào khác công nhận), nhưng hoàn toàn ở phía ngoài lãnh hải hợp pháp và thậm chí cả vùng đặc quyền kinh tế của họ.

    Trong lĩnh vực quân sự thông thường, ưu thế của hải quân Mỹ trong ít nhất là phạm vi của chuỗi đảo thứ nhất sẽ cần phải được thay thế bởi một lực lượng hợp lý và một học thuyết quân sự tương xứng. Nhiều khả năng cách tiếp cận này nên tập trung vào tình huống được định danh bằng thuật ngữ “loại trừ lẫn nhau”, trong đó bất kỳ phe nào của cuộc xung đột, một phía là Trung Quốc và một phía là Hoa Kỳ và các đồng minh, đều có đủ khả năng quân sự để ngăn chặn mọi nỗ lực của phe còn lại nhằm đạt được một lợi thế bền vững thông qua việc nắm quyền kiểm soát ở những khu vực không ổn định (như đảo Đài Loan, bán đảo Triều Tiên, những hòn đảo lớn, nhỏ thuộc vùng biển thường xảy ra tranh chấp)

    Ở cấp độ hạt nhân, một trạng thái cân bằng quyền lực ở Tây Thái Bình Dương sẽ cần đến một tập hợp rõ ràng những thỏa thuận được thiết lập để tăng cường khả năng răn đe của kho vũ khí hạt nhân của mỗi bên nhằm làm giảm nguy cơ leo thang dẫn đến xung đột hạt nhân. Để đạt mục tiêu này, Mỹ và những nhà phân tích quốc phòng đồng minh phải vứt bỏ quan niệm nguy hiểm cho rằng uy thế quân sự của Washington nên mở rộng đến cả lĩnh vực vũ khí hạt nhân. Chính phủ Mỹ nên chỉ ra rằng nó thừa nhận và sẽ không đe dọa đến khả năng tấn công hạt nhân trả đũa của Trung Quốc; cũng như từ bỏ khả năng xem xét đến một hệ thống vũ khí tầm xa với khả năng tấn công toàn cầu hoặc những hệ thống tương tự với khả năng phá hủy kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc; và thừa nhận rằng toàn bộ hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của nước Mỹ cũng không thể hoàn toàn loại trừ khả năng của một cuộc tấn công hạt nhân thứ hai từ phía Trung Quốc. Về phần mình, Bắc Kinh phải sẵn sàng chấp nhận những thỏa thuận như vậy từ phía Mỹ và tránh bất kỳ động thái nào nhằm mở rộng kho vũ khí hạt nhân vượt xa mức vừa đủ để gây sức ép, cũng như vượt mức trả đũa hạt nhân hiện tại.

    Rõ ràng, những thay đổi này sẽ có tác động lớn đối với các nước đồng minh của Mỹ trong khu vực. Đối với Nhật Bản, một ví dụ cụ thể là để nước Nhật phải hỗ trợ một bán đảo Triều Tiên thống nhất với những thỏa ước cần thiết, cũng như phải chấp nhận những điều chỉnh tương tự đối với lực lượng quân sự Mỹ đồn trú trên lãnh thổ Nhật hay giữ lập trường đứng về Đài Loan, thì người Nhật rõ ràng rất cần đến những thỏa thuận vững chắc giữa Washington và Bắc Kinh. Nói chung, chắc chắn Nhật Bản phải tăng cường đáng kể khả năng phòng thủ để đáp ứng việc hỗ trợ tạo lập một vùng đệm có ý nghĩa thực tế hoặc một khu vực trung lập trong chuỗi đảo thứ nhất, hoặc tự nước Nhật làm điều này, hoặc tốt hơn hết là người Nhật có thể dựa vào một liên minh vững chắc hơn với người Mỹ, nhưng vẫn phải có giới hạn.

    Động thái củng cố sức mạnh của liên minh Mỹ – Nhật này sẽ kéo theo việc tạo ra một cơ sở hạ tầng tích hợp đầy đủ và thiết yếu hơn để phục vụ cái gọi là khả năng C4ISR. (C4ISR là tập hợp chữ cái đầu của các từ “ra lệnh, kiểm soát, liên lạc, tính toán, tình báo, giám sát và trinh sát.”[1]) Không chỉ vậy, liên minh Mỹ – Nhật cũng cần xây dựng một hệ thống phòng thủ tên lửa mạnh mẽ hơn nữa để chống lại mọi mối đe dọa khả dĩ từ hệ thống tên lửa đạn đạo và hành trình của quân đội Trung Quốc vốn luôn có thể uy hiếp những khí quân sự của Mỹ và Nhật Bản, cũng như củng cố những cơ sở hậu cần của người Nhật, và tăng cường những cải tiến trong năng lực quốc phòng của Nhật Bản ở những lĩnh vực được định hướng cụ thể, chẳng hạn như khả năng chống tàu ngầm và đánh chặn máy bay tiêm kích. Tuy nhiên, những thay đổi như vậy vẫn sẽ không làm Nhật Bản phải trở thành một đối tác an ninh thường trực của Hoa Kỳ hoặc phải đảm trách những nghĩa vụ an ninh dựa trên nền tảng liên minh Mỹ – Nhật trên khắp vùng Tây Thái Bình Dương và xa hơn nữa.

    Đối với Trung Quốc, việc phải chấp nhận một liên minh Mỹ – Nhật ngày càng mạnh mẽ hơn (dù vẫn giới hạn); một bán đảo Triều Tiên thống nhất và trung lập; giới hạn xác định về những khả năng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Đài Loan; và các yếu tố khác của một trạng thái cân bằng quyền lực ở Tây Thái Bình Dương sẽ cần đến một quyết tâm rõ ràng nhằm từ bỏ những mục tiêu đầy tham vọng mà một bộ phận người Trung Quốc luôn khao khát, cả trong hiện tại và trong tương lai. Những tham vọng đáng chú ý nhất bao gồm: khả năng thiết lập quyền kiểm soát vùng biển và vùng trời dọc theo lãnh hải Trung Quốc và mục tiêu thiết lập một trật tự kinh tế và chính trị châu Á lấy Trung Quốc làm trung tâm, đồng thời loại bỏ những ảnh hưởng của chính phủ Hoa Kỳ khỏi khu vực. Chính quyền Bắc Kinh sẽ phải thực hiện tuần tự những nỗ lực phối hợp và công khai để đào thải chủ nghĩa dân tộc cực đoan khỏi xã hội Trung Quốc, nhằm đạt đến viễn cảnh Trung Quốc chịu từ bỏ những tham vọng như vậy, để sau đấy có thể hướng đến một trạng thái cân bằng quyền lực. Bù lại, nhờ nỗ lực thích nghi với cộng đồng quốc tế như vậy, chính Trung Quốc cũng sẽ nhận được lợi ích là môi trường an ninh xung quanh lãnh hải Trung Quốc được cải thiện, thông qua thực tế là nước Mỹ sẽ không uy hiếp đến những lợi ích của Trung Quốc nữa, và Trung Quốc cũng tránh được một cuộc chạy đua vũ trang ngày càng nguy hiểm và tốn kém.

    NHỮNG RÀO CẢN TRƯỚC MỘT TRẠNG THÁI CÂN BẰNG

    Luôn có những chướng ngại ngăn cản cả chính quyền Washington lẫn Bắc Kinh thực hiện một thay đổi đáng kể trong nhận thức, hành động, và triển khai quân đội. Về phía Mỹ, rào cản đầu tiên và quan trọng nhất là việc hầu như tất cả những nhà hoạch địch chính sách và quan chức của Mỹ đều không muốn phải trù tính đến một phương án nào khác hơn so với viễn cảnh người Mỹ vẫn nắm uy quyền trong khu vực quan trọng sống còn ấy. Ngoài ra, quan điểm thực dụng, quán tính tự nhiên, và tư duy né tránh mọi rủi ro của những quan chức và tầng lớp tinh hoa trong giới chính trị gia luôn chống lại những khả năng dẫn đến thay đổi lớn trong chính sách và phương pháp tiếp cận, đặc biệt là trong trường hợp không có nhu cầu cấp thiết cần đến sự thay đổi. Thật vậy, bất cứ cường quốc nào cũng gặp trở ngại lớn khi sự suy kiệt của khát vọng thay đổi chưa lộ diện mà đã ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu chuyển mình của cường quốc ấy, với nội bộ của một siêu cường thì áp lực từ quán tính không muốn thay đổi lại càng trầm trọng.

    Với tình hình tây Thái Bình Dương nói riêng, như Krepinevich đã phân tích trong bài “Làm cách nào chặn Trung Quốc”, những nhà hoạch định chính sách liên quan đến an ninh quốc gia của Hoa Kỳ vẫn trung thành với quan điểm cho rằng sức mạnh của quân đội Mỹ (và sức mạnh của hải quân Mỹ nói riêng) không thể dừng bước trước bất kỳ giới hạn nào trong vùng biển quốc tế. Vấn đề lợi ích kinh tế, nhu cầu của hoạt động tình báo, và trách nhiệm hỗ trợ liên minh đều góp phần củng cố niềm tin về quyền lực đại dương thường trực của người Mỹ.

    Giới hoạch định chính sách của Mỹ cũng vô cùng bất đắc dĩ khi phải chứng kiến những biến động đang xảy ra với bán đảo Triều Tiên hay đảo Đài Loan. Những nhà hoạch định này có một niềm tin thường trực rằng bất kỳ diễn tiến nào dẫn đến sự suy giảm, hoặc thậm chí là thay đổi đáng kể, trong những cam kết an ninh của Mỹ với Hàn Quốc và Đài Loan đều dẫn đến kết cục là hoặc những quốc gia này phải tìm cách có được vũ khí hạt nhân hoặc họ trở thành đối tượng của động thái uy hiếp quân sự từ Triều Tiên và Trung Quốc. Hơn nữa, Nhật Bản cũng có thể cảm thấy bất an trước tình hình như vậy và truy vấn về cam kết an ninh của Washington đối với Tokyo, và cuối cùng có thể dẫn đến một sự sụp đổ trong liên minh của hai nước và đến lượt Nhật Bản cũng tự mình tìm cách trang bị vũ khí hạt nhân.

    Về phía Trung Quốc, có lẽ trở ngại quan trọng nhất đất nước này phải vượt qua, trước khi có thể chấp nhận thay đổi vì trạng thái cân bằng quyền lực ở châu Á, đến từ sự thiếu tự tin và điểm yếu của chính phủ Trung Quốc, cả trong và ngoài nước. Địa vị chính trị của những nhà lãnh đạo của Trung Quốc dựa vào không chỉ tăng trưởng kinh tế liên tục và mức sống ngày càng nâng cao, mà cả những hình thức của chủ nghĩa dân tộc vốn luôn đánh giá cao những động thái của chính quyền Trung Quốc nhằm đối diện với bất cứ thách thức nào từ bên ngoài, cũng như sửa chữa những nỗi bất công trong quá khứ gây ra bởi các nước đế quốc trong khoảng thời gian được gọi là “thế kỷ ô nhục” của Trung Quốc. Sự phụ thuộc này khiến cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc không muốn dập tắt những ngọn lửa của chủ nghĩa dân tộc cực đoan rải rác trên khắp đất nước họ, và như vậy lại càng dễ che giấu tiềm năng của quân đội Trung Quốc trong khi đất nước vẫn tăng trưởng nhanh chóng.

    PHẢI HIỆN DIỆN MỘT TIẾN TRÌNH ĐƯỢC THỐNG NHẤT

    Như vậy, Washington và Bắc Kinh rõ ràng sẽ không tiến hành bất cứ một thỏa hiệp lớn nào nhằm thiết lập một môi trường an ninh mới trong khu vực về ngắn hạn. Một thay đổi cơ bản trong chính sách và cách tiếp cận như vậy chỉ có thể diễn tiến từng chút một trong khoảng thời gian dài. Nhưng ngay từ những bước tạo dựng nền móng, giới lãnh đạo ở Washington, Bắc Kinh, và các nước châu Á khác sẽ phải luôn bận tâm đến những nguy cơ thường trực của chiều hướng hiện tại, cũng như lợi ích của việc tạo ra những thỏa thuận mới về cơ bản phù hợp với thực tế không thể lay chuyển của quá trình cân bằng quyền lực giữa những siêu cường.

    Một biến dịch lớn về tư tưởng như vậy phải diễn ra qua nhiều giai đoạn: từ những diễn biến trong nội bộ từng quốc gia, đến quá trình tương tác giữa các đồng minh, và bước cuối cùng là đối thoại chiến lược song phương giữa Mỹ và Trung Quốc, với cơ hội như nhau cho mỗi bên để đánh giá độ tin cậy và tính xác thực trong những cam kết của bên còn lại. Một khi tất cả các bên đều nhận chân được bức tranh toàn cảnh, chính là điều kiện quan trọng nhất để đạt được những thay đổi chiến lược, họ có thể bắt đầu giải quyết những thỏa hiệp đặc thù trong từng lĩnh vực.

    Việc ý thức được rằng một quá trình chuyển đổi trong hòa bình và chậm rãi vẫn đang diễn ra vì một viễn cảnh cân bằng quyền lực nhiều khả năng có thể khiến Bắc Kinh thuyết phục Bình Nhưỡng từ bỏ hoặc hạn chế chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân và bắt đầu những quá trình cải cách để mở ra cơ hội cho một bán đảo thống nhất. Cũng như vậy, giới lãnh đạo của cả Mỹ và Trung Quốc sau cùng có thể thuyết phục Đài Bắc hướng đến lợi ích của một thỏa thuận an ninh ổn định hơn (và như vậy cũng không buộc Mỹ phải từ bỏ Đài Loan). Đối với trường hợp Nhật Bản, một sự tăng cường hiệu chỉnh khả năng của nó, trong bối cảnh của việc tạo ra một sự sắp xếp đệm giống và cân bằng ổn định của quyền lực liên quan đến các chuỗi đảo đầu tiên với, gần như chắc chắn sẽ chứng minh chấp nhận được đến Bắc Kinh và cuối cùng cần thiết đối với Tokyo.

    Những thỏa hiệp lý tưởng như vậy sẽ không tự khắc diễn ra. Mọi diễn tiến vì trạng thái ổn định của khu vực đều cần đến những nhà lãnh đạo can đảm và nhìn xa trông rộng từ tất cả các nước có liên quan, những người sẽ chấp nhận rủi ro và thực hiện những động thái ngoại giao có hiệu quả. Trong thực tế, với những rào cản rất dễ gây nản chí như vậy, bất cứ ai cũng có quyền đặt nghi vấn rằng tại sao phải nhọc công nâng cao triển vọng cho những thay đổi căn bản về chính sách. Câu trả lời là nếu không làm vậy, nghĩa là để mặc cho quá trình chạy đua vũ trang nhằm duy trì ưu thế quân sự của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương tiếp tục diễn ra, để mặc cho tình trạng mất kiểm soát và những cuộc khủng hoảng tiếp tục gia tăng, hậu quả sẽ còn bi thảm hơn nhiều, thậm chí có thể dẫn đến xung đột quân sự quy mô lớn, lịch sử đã ghi nhận những tiền lệ như vậy trong thời khắc của diễn tiến tái cấu trúc trật tự quyền lực.

    Sau cùng, giới hoạch định chính sách ở cả Hoa Kỳ, Trung Quốc, và những cường quốc châu Á đều đang đối diện với thách thức phải lựa chọn hoặc nỗ lực tìm hướng giải quyết thẳng thắn và hợp lý trước thế cục phân tranh quyền lực ở khu vực Tây Thái Bình Dương hoặc phớt lờ những biến động gây ra bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc cho đến khi tình hình diễn biến đến mức khó lường và nguy hiểm hơn rất nhiều. Thật vậy, bất cứ động thái trì hoãn nào chỉ làm quá trình thay đổi diễn ra khó khăn hơn. Và sẽ không có một giải pháp khả thi nào khác.

    ______

    [1] Command, control, communications, computers, intelligence, surveillance, và reconnaissance.
    nguon

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s