Hồ Chí Minh và pháp lệnh “Trừng trị các tội phản cách mạng”

1-99

Theo nhà triết học Pháp Jean Francois Revel, Hồ đã lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. “Mục tiêu của Hồ không phải là Việt Nam độc lập, mà sự hội nhập vào Quốc tế Cộng Sản.

Trong khi Bác vừa nhậu vừa hút thuốc, thì Diệp Kiếm Anh đọc thơ ca ngợi Bác, làm Bác rất đê mê

Các điều luật 78, 79, 88, 258 của bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành đang được chính quyền sử dụng làm cơ sở pháp lý để, trong một số trường hợp, biến những người vô tội thành có tội; đó là trường hợp của những người yêu nước và những người đấu tranh cho dân chủ bị biến thành tội phạm.

Mục đích của tôi ở bài này không phải là nhằm chỉ ra sự vô lý hay tính chất phản dân chủ của các điều luật nêu trên đây.

Mục đích của tôi ở đây là giới thiệu với quý độc giả văn bản pháp lý đầu tiên, cơ sở cho các điều luật ấy.

Văn bản đó là pháp lệnh « Trừng trị các tội phản cách mạng” do Hồ Chí Minh ký và ban hành tháng 11 năm 1967. Mặc dù pháp lệnh này do Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua, và do Trường Chinh ký trước khi trình lên chủ tịch nước, nhưng Hồ Chí Minh là người ký và ban hành trên toàn quốc, nên Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm về mọi nội dung trong văn bản.

Có thể tìm thấy văn bản này trên website của chính phủ. Tuy nhiên, văn bản trên website của chính phủ là văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do Trường Chinh ký ngày 30/10/1967. Văn bản này được đệ trình lên Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành ngày 10/11/1967. Pháp lệnh này được công bố trên báo Nhân dân ngày 21/3/1968. Những thông tin này dẫn theo nguồn của Céline Marangé, trong cuốn “Le communisme vietnamien (1919-1991) ». Vì sao website của chính phủ đăng bản đệ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mà không đăng Pháp lệnh chính thức do Hồ Chí Minh ban hành ? Điều này có lẽ chỉ có Bộ Chính trị mới trả lời được.

Văn bản của Hồ Chí Minh không còn hiệu lực, bởi nó đã được luật hóa bằng các điều luật trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, do Nông Đức Mạnh ký và ban hành năm 1999. Dĩ nhiên trước đó còn có những Bộ luật hình sự khác, nhưng chúng tôi không đề cập đến ở đây. Bộ luật hình sự 1999 là bộ luật hiện hành.
Ở đây tôi chỉ trích dẫn một số điều khoản tiêu biểu trong Pháp lệnh của Hồ Chí Minh, và đem so sánh với các điều khoản đã nêu ở trên, trong Bộ luật Hình sự.

“Điều 1.
Tội phản cách mạng là tội chống lại Tổ quốc, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, phá hoại công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, phá hoại quốc phòng, phá hoại sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.»

Nội dung điều 1 của Pháp lệnh Hồ Chí Minh về cơ bản được chuyển vào trong nội dung điều 78 của Bộ luật Hình sự 1999:

“Điều 78. Tội phản bội Tổ quốc

1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.”


Ngay ở điều 1 của Pháp lệnh, ta thấy rằng: để định nghĩa “tội phản cách mạng”, Hồ Chí Minh đã đồng nhất tội danh này với tội chống lại Tổ quốc, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, phá hoại công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Tuy nhiên không định nghĩa rõ như thế nào thì bị xem là « chống ».
Mặc nhiên, “cách mạng” ở đây phải được hiểu là “cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, vì sao có thể đồng nhất cách mạng xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc? Thời điểm này tôi chưa có câu trả lời. Thời điểm này tôi chưa hiểu được vì sao Hồ Chí Minh có thể đồng nhất cách mạng xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc.

Vì sao đem một thứ chủ nghĩa ngoại lai về du nhập vào Việt Nam rồi đem nó đồng nhất với Tổ quốc? Và vì sao biến những người bày tỏ sự phản đối chủ nghĩa đó thành tội phạm chống lại Tổ quốc ? Tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu để có một câu trả lời khả dĩ.

Điều 4. Tội âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân
Kẻ nào thành lập hoặc tham gia tổ chức phản cách mạng nhằm thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân, phá bỏ chế độ chính trị, kinh tế và xã hội đã được Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định thì bị xử phạt như sau:

a) Bọn chủ mưu, cầm đầu, xúi giục, bọn hoạt động đắc lực thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến tù chung thân hoặc bị xử tử hình;

b) Bọn tham gia thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
Trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì kẻ phạm tội bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm. »

Điều 4 này chính là điều 79 trong Bộ luật Hình sự của Nông Đức Mạnh:

“Điều 79. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân

Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.”

Dưới thời Hồ Chí Minh, chính quyền được gọi là “chính quyền dân chủ nhân dân”; đến thời Nông Đức Mạnh, “dân chủ” đã biến mất, chỉ còn là “chính quyền nhân dân” (dĩ nhiên chữ “nhân dân” được dùng với chức năng gì thì cần được làm sáng tỏ vào một dịp khác). Ngoài ra có thể thấy ngôn ngữ văn bản hành chính dưới thời Hồ Chí Minh mang tính khẩu ngữ, thiếu chuẩn mực của văn phong hành chính, ví dụ sử dụng từ “bọn”.

“Điều 15. Tội tuyên truyền phản cách mạng

Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà phạm tội như sau:

1. Tuyên truyền, cổ động chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa;

2. Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý của địch; xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà, phao đồn tin nhảm, gây hoang mang trong nhân dân;

3. Tuyên truyền cho chính sách nô dịch và cho văn hóa trụy lạc của chủ nghĩa đế quốc;

4. Viết, in, lưu hành, cất giấu sách, báo, phim, tranh, ảnh hoặc mọi tài liệu khác có nội dung và mục đích phản cách mạng;
thì bị phạt tù từ hai năm đến mười hai năm. »

Điều 15 này của Pháp lệnh, khi đi vào Bộ luật hình sự, đã trở thành điều 88:

“Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.”

Ở đây có thể thấy: “Phản cách mạng” ở điều 15 Pháp lệnh của Hồ Chí Minh đã được cụ thể hóa thành “Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” ở điều 88 trong Bộ luật hình sự của Nông Đức Mạnh. Mặc dù thế, điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến tinh thần chuyên chế của cả Pháp lệnh lẫn Bộ luật hình sự, chẳng ảnh hưởng gì đến bản chất của sự việc: dưới thời Hồ Chí Minh cũng như dưới thời Nông Đức Mạnh và cho đến hiện nay, luật pháp được sử dụng như một công cụ để bảo vệ chế độ, chứ không phải để bảo vệ con người.

Như vậy, pháp lệnh “Trừng trị tội phản cách mạng”, do Hồ Chí Minh ban hành hai năm trước khi ông mất, chính là nguồn gốc của mọi sự đàn áp mà những người yêu nước không theo cách của chính quyền và những người bất đồng chính kiến hiện nay đang phải gánh chịu, trong đó có tôi (những đe dọa đối với cá nhân tôi và những người khác vẫn tồn tại trên các website mang tên và chức danh những lãnh đạo đương nhiệm thuộc hàng cao cấp nhất).

Khi đồng nhất chủ nghĩa xã hội với Tổ quốc có lẽ Hồ Chí Minh không hình dung được rằng, Việt Nam sẽ nhanh chóng đi tới một giai đoạn mà những người kế nhiệm của ông sẽ phải đối diện với nan đề của lịch sử: muốn bảo vệ chủ nghĩa xã hội thì không thể nào bảo vệ được Tổ quốc, hay nói cách khác là sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội sẽ đẩy quốc gia tới chỗ mất độc lập. Tuy nhiên, chính quyền đương nhiệm, bộ máy đảng, bộ máy nhà nước, bộ máy quốc hội, đang bộc lộ ý chí mạnh mẽ bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chế độ. Vì thế nhân dân không thể biết được số phận của Tổ quốc Việt Nam tới đây sẽ như thế nào. Trừ phi chính nhân dân tự thức tỉnh và tự giành cho mình quyền quyết định số phận của Tổ quốc.

Ngoài số phận mù mịt của Tổ quốc thì vẫn còn nhiều câu hỏi cần phải trả lời : Vì sao Pháp lệnh này được ban hành năm 1967 ? Trong điều kiện cụ thể nào ? Vì sao phải đặt ra « tội phản cách mạng » ? Và vì sao phải đồng nhất tội phản cách mạng với tội phản bội Tổ quốc ? Vì sao đồng nhất chủ nghĩa xã hội với Tổ quốc?

Paris, 21/6/2015
Nguyễn Thị Từ Huy

Advertisements
This entry was posted in Hồ Chí Minh. Bookmark the permalink.

4 Responses to Hồ Chí Minh và pháp lệnh “Trừng trị các tội phản cách mạng”

  1. haiz00 says:

    Giá đừng có đảng Cộng sản tại Việt Nam!
    Lương Vĩnh Thế

    Đất nước Việt Nam, kể từ thời các vua Hùng dựng nước, cho tới các triều đại sau này, qua cả ngàn năm đô hộ của giặc Tầu, nhưng tiền nhân của chúng ta đã làm nên lịch sử với những chiến công oanh liệt như vào thời nhà Trần; với đức Thánh Trần Hưng Đạo cộng với lòng yêu nước thiết tha của toàn dân. Vì thế, nên đã ba lần chiến thắng cả đội quân hùng mạnh của Nguyên – Mông.

    Nhưng cần phải biết, sở dĩ dân tộc ta có được những chiến công lẫy lừng ấy, là do không có đảng Cộng sản, cho nên toàn dân mới một lòng cùng quan quân đánh đuổi giặc Tầu. Từ Vua cho chí dân chỉ biết đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết. Còn kể từ khi đảng Cộng sản được thành hình trên đất nước, thì đảng Cộng sản chỉ biết “Đảng trên hết – còn đảng còn mình”. Bởi vậy, bằng mọi giá đảng Cộng sản phải bảo vệ cái chế độ tàn ác phi nhân suốt mấy mươi năm qua. Do đó, những kẻ đang mơ đến những sự đổi thay tại Việt Nam, thì chỉ là ảo tưởng.

    Thế nhưng, đã có lắm kẻ đã rất hăng say mà ca tụng “công đức” của “72 trí thức” trong nước với cái màn “thay đổi Hiến Pháp CS”, mà không biết, hễ cái gì do đảng cộng sản tung ra, thì toàn dân không thể tin tưởng được.

    Xin hãy nhìn xem, trong “72 trí thức” đó, có một tên nào có thành tích chống cộng hay không, hay chỉ toàn là cùng lò cộng sản và lò phản chiến, là những tên ăn cơm Quốc Gia nhưng lại thờ ma cộng sản.

    Ấy vậy, mà vẫn có khối người, được cho là “chính trị gia” có tên nhưng không có óc, đã muốn ngồi chung với đảng Cộng sản, để… cứu nước, để chống Tầu. Trong khi đó, thì bọn cầm quyền tại Hà Nội không hề nghĩ đến chuyện chống Tầu, mà càng ngày còn rước thêm giặc Tầu vào đất nước, để giữ cho được chế độ cai trị toàn dân.

    Thật vô cùng thảm thương và tội nghiệp cho những ai đã từng nuôi những giấc mộng “quên quá khứ, xóa bỏ hận thù – hòa hợp, hòa giải” với đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vì chính bọn cầm quyền cộng sản chúng không hề có một thái độ nào để chứng tỏ một chút thiện chí đó, mà những điều ấy, là do những tên tay sai của chúng tuyên truyền mà thôi.

    Một bằng chứng rất rõ ràng, do lòng hận thù, và gian trá, và để lừa gạt các thế hệ trẻ sau này của đảng CSVN, là đã dàn dựng qua những hình tượng các chiến sĩ Quân Cảnh VNCH đã “tra tấn, đóng đinh” những tù binh cộng sản tại nhà giam Phú Quốc.

    Tôi muốn nhấn mạnh là đảng CSVN có thể lừa gạt được thể hệ trẻ sau này, chứ hiện tại, những người đã sống qua cuộc xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa của chính Hồ Chí Minh chủ xướng, thì không lừa gạt được. Tuy nhiên, trách nhiệm của chúng ta là phải lên tiếng, cộng thêm với những tấm hình hoàn toàn trung thực về trại tù binh Phú Quốc, để cho thế hệ trẻ sau này, dù là bao nhiêu năm nữa, để cho họ không lầm lẫn. Đảng CSVN cần phải biết, phải nhớ, những cảnh tượng giả tưởng đã dàn dựng đó, không bao giờ lừa gạt được khi những tấm hình thực, đã chụp tại trại tù binh Phú Quốc. Bởi vì, những hình ảnh ấy, là những con người thật, cảnh thật. Còn những hình tượng vô tri kia, chỉ là những tượng gỗ, sắt, đá…

    Như vậy, một mặt thì qua lũ tay sai, cò mồi, đảng CSVN đã tuyên tryền “quên quá khứ, xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải”. Nhưng, mặt khác, thì lại cố tình khơi dậy hận thù khi cho đúc những bức tượng gian trá, để vu khống cho các chiến sĩ Quân Cảnh VNCH “đóng đinh, tra tấn” tại trại tù binh Phú Quốc.

    Riêng về cái trò “sửa đổi hiến pháp – bỏ điều 4 HP”, thì chính đảng CS đã tính toán từ rất lâu, nên mới giăng ra những cái bẫy, để chụp bắt những con thú tham mồi ngu ngốc. Bởi vì, cho dù có bỏ điều 4 Hiến pháp của Cộng sản, thì cái gọi là “Hiến pháp mới” chắc chắn sẽ có thêm những “Điều khoản” khác, để ràng buộc, không khác gì cái “điều 4” trước kia cả. Nghĩa là, có hay không có cái “Điều 4 HP” thì cũng vẫn như nhau, không có một điều gì khác.

    Mà chẳng lẽ, những người đã từng tranh đấu bao nhiêu năm qua, để rồi chỉ xin bỏ điều 4 hiến pháp của CS hay sao. Nếu nói như vậy, thì không khác gì chuyện một người bị bọn cướp xông vào nhà cướp hết tài sản rồi, mà gia chủ lại van xin bọn chúng trả lại cho một chiếc dép, chỉ một chiếc dép thôi. Để làm gì vậy, cả gia đình có đi được bằng một chiếc dép hay không. Ngu ngốc vừa thôi chứ!

    Tương tự như thế, đảng cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã xâm lăng và cưỡng chiếm đất nước Việt Nam Cộng Hòa, rồi bỏ tù, hành hạ tất cả Dân, Quân, Cán, Chính VNCH, và đã cướp sạch sẽ hết tài sản của người dân, gây nên không biết bao nhiêu cảnh chết chóc, đau thương, ly tán cho người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa. Như thế, mà bây giờ chỉ đòi có mỗi cái tên Sài Gòn, và vào dịp Tết Quý Tỵ, 2013, thì đảng CSVN đã thí cho một cái tên Sài Gòn trên con dấu bưu điện. Ấy vậy, mà vẫn có kẻ tỏ ra “phấn khởi hồ hởi” rằng thì là vui, là hay: Rằng hay thì thật là hay; Không hay sao lại vỗ ngay cái… đầu.

    Nói tóm lại, dù có muộn màng, nhưng tôi vẫn phải nói rằng: Giá như không có đảng Cộng sản trên đất nước Việt Nam, thì chắc chắn không có lũ giặc Tầu ngang nhiên làm chủ trên đất nước như đã và đang có hiện nay, vì chính đảng CSVN đã rước bọn giặc Tầu về giày xéo quê hương, đất nước Việt Nam chứ không ngoài ai khác.

    Và, cũng có một chữ “giá” khác, đã do tác giả Charles ở Slough, tại Vương quốc Anh đã viết và đã đăng trên trang BBC Tiếng Việt:

    “Giá đừng phản chiến’
    Charles ở Slough, Vương quốc Anh, tự vấn phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Độc giả này viết:

    “Những người chúng ta đã từng tham gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên cúi đầu xấu hổ trước người dân Việt Nam. Với việc ủng hộ phe cộng sản và gây sức ép lên Quốc hội cắt đứt mọi viện trợ cho miền Nam Việt Nam thì chúng ta đã góp phần đảm bảo cho chiến thắng của ông Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta”.

    Tôi rất đồng ý với tác giả Charles ở Slough, vì “Giá như không có phản chiến”, là những tên giặc như Nguyễn Đan Quế, Huỳnh Tấn Mẫm, Huỳnh Ngọc Chênh… qua cái vỏ bọc là “phản chiến, thành phần thứ ba” để hoạt động cộng sản hợp pháp, thì chắc chắn nước Việt Nam Cộng Hòa đã không bị rơi vào tay của hai đảng Tầu cộng và Việt cộng. Không có những cảnh Dân, Quân, Cán, Chính VNCH phải bị tù đày, bị giết chết trong và ngoài những nhà tù “cải tạo” hoặc trên đường vượt thoát cộng sản, để tìm tự do, và đã không có ngày Quốc Hận 30/4!

    Và, nhân mùa Quốc Hận, 30/4, 2013. Để những cảnh đau thương, đẫm máu của một thời chống đội quân xâm lăng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa không tái diễn một lần nào nữa. Chúng ta, tất cả Dân, Quân, Cán, Chính, Việt Nam Cộng Hòa phải quyết liệt loại trừ hết những tên “phản chiến” năm xưa, là những tên Cộng sản trá hình, không để chúng len lỏi, chen chân vào hàng ngũ của người Việt Quốc Gia – Việt Nam Cộng Hòa một lần nào nữa.

    Chúng ta, phải đòi lại cả nước Việt Nam Cộng Hòa, như các điều khoản của Hiệp Định Paris, 1973 về Việt Nam đã quy định. Nhất định không đòi chỉ một cái tên Sài Gòn, hay chỉ đòi “bỏ điều 4 Hiến Pháp” của đảng Cộng sản Việt Nam. Được như vậy, thì chúng ta mới giành lại được Hoàng Sa và Trường Sa vì cả hai quần đảo này vốn là của nước Việt Nam Cộng Hòa. Những sự thật ấy, đã hiển nhiên, lũ giặc Tàu không thể nào phủ nhận được.

    26/4/2013
    Lương Vĩnh Thế

    ***

    LTS: – Việc Việt cộng tuyên truyền bịp bợm từ khi đảng cướp Cộng sản Việt Nam thành lập do sự chỉ đạo của Nga sô cho tới nay, thành tích lừa bịp để bán nước, hại dân đã không ngừng nghỉ mà ngày càng thêm chồng chất.

    Sau 38 năm xâm lăng và cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa, CSVN vẫn không ngừng nghỉ gia tăng lừa bịp các thế hệ sinh sau đẻ muộn và thế giới bằng những hình ảnh, bằng những chứng liệu ngụy tạo nhằm vu khống, bội nhọ chính nghĩa của chính quyền nước Việt Nam Cộng Hòa nói chung và của Quân Lực VNCH nói riêng trong cuộc chiến tự vệ, chống lại cuộc xâm lăng của làn sóng Đỏ, mà Hồ chí Minh cùng đồng bọn đã nhận súng đạn, vũ khí của Nga, Tàu về khởi chiến.

    Đảng CSVN đã ngụy tạo nhiều khu gọi là “di tích lịch sử chiến tranh”… , ngày 15/3/2013, Việt cộng đã cho khánh thành khu “di tích lịch sử Phú quốc : Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam”. Nhưng những hình tượng mà chúng ngụy tạo, đã không lừa bịp được người dân Việt cũng như thế giới khi đối chiếu với một số hình ảnh thực tế về cuộc sống của các cán binh Việt cộng bị bắt làm tù binh tại Phú Quốc, khi chúng xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa đã được ghi lại dưới đây.

    Việc bôi xóa lịch sử, cố lừa bịp hòng giành chính nghĩa, lẽ phải về chúng bằng mọi hình thức, phương tiện, bất kể thủ đoạn đê hèn nào, lần lượt được đảng CSVN đem ra thực hiện, nhằm cho việc “cha truyền con nối” như Tàu cộng, Bắc Hàn đang theo đuổi. Đó là ý đồ đen tối và việc làm của đảng CSVN!

    Còn chúng ta, những người dân Việt yêu nước chân chính, bổn phận phải tiếp nối việc bảo tồn sự thật lịch sử trong sáng của tiền nhân.
    Vô đây nghe






  2. haiz00 says:

    Quyền lực mềm của Trung Quốc còn nhiều hạn chế

    1-GoAhead

    TS Đỗ Kim Thêm  Dịch
    Joseph Nye, Project-Syndicate

    Trung Quốc đã có những nỗ lực chủ yếu để tăng khả năng gây ảnh hưởng đến các quốc gia khác mà không dùng bạo lực hay cưỡng chế. Trong năm 2007, lúc còn là Chủ tịch, Hồ Cẩm Đào có nói với Đảng Cộng Sản là đất nước cần tăng sức mạnh mềm; Chủ tịch Tập Cận Bình lặp lại cùng một thông điệp trong năm ngoái.

    Họ biết rằng, đối với một quốc gia như Trung Quốc, khi sức mạnh quân sự và kinh tế ngày càng gây thương tổn thêm cho các nước láng giềng thì các liên minh đối trọng sẽ hình thành, một chiến lược thông minh phải bao gồm các nỗ lực thể hiện việc ít gây lo sợ. Nhưng những tham vọng về quyền lực mềm của họ vẫn còn phải đối mặt với những trở ngại chính.

    Điều chắc là những nỗ lực của Trung Quốc đã có một số tác động. Khi Trung Quốc chọn các quốc gia làm thành viên của Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á và tung ra hàng tỷ đô la viện trợ trong các chuyến thăm của nhà nước ở nước ngoài, thì một số nhà quan sát lo ngại đến quyền lực mềm, Trung Quốc có thể thực sự vượt qua các nước như Hoa Kỳ. Ví dụ như nhà Trung Quốc học người Mỹ là David Shambaugh ước tính cả nước dành khoảng 10 tỷ mỗi năm trong chương trình “tuyên truyền đối ngoại.” Khi so sánh vối Hoa Kỳ đã chi có 666 triệu trong lĩnh vực ngoại giao công vào năm ngoái.

    Tuy nhiên, hàng tỷ đô la mà Trung Quốc chi cho các cuộc tấn công để gây thu hút chỉ mang lại thành tựu hạn chế. Những thăm dò công luận ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy ý kiến về ảnh hưởng của Trung Quốc hầu hết là tiêu cực. Được xem tích cực hơn cho Trung Quốc là các ý kiến tại châu Mỹ La tinh và châu Phi, đó là những nơi mà Trung Quốc không có các tranh chấp lãnh thổ và các quan tâm đến vấn đề nhân quyền không luôn đứng hàng đầu trong các chương trình nghị sự. Nhưng ngay cả ở nhiều nước trong những khu vực này, phương cách thực hành của Trung Quốc như nhập khẩu lao động cho các dự án cơ sở hạ tầng không được ưa chuộng.

    Kết hợp quyền lực cứng và mềm thành một chiến lược thông minh xem ra là chuyện không dễ. Một quốc gia có sức mạnh mềm chủ yếu đến từ ba nguồn lực: văn hóa (ở những nơi tìm thấy có hấp dẫn), những giá trị chính trị (khi phù hợp với trong và ngoài nước), và các chính sách đối ngoại (khi được xem là có tính chính thống và có sức mạnh tinh thần). Trung Quốc đã nhấn mạnh sức mạnh văn hóa và kinh tế, nhưng ít chú ý đến khía cạnh chính trị mà có thể làm suy yếu những nỗ lực của họ.

    Khi được đo lường trong các cuộc thăm dò công luận quốc tế gần đây, thì có hai yếu tố chính hạn chế quyền lực mềm của Trung Quốc. Yếu tố đầu tiên là vấn đề chủ nghĩa dân tộc. Đảng Cộng Sản đã dựa tính chính thống không chỉ do tốc độ tăng trưởng cao về kinh tế, nhưng cũng còn do sự thu hút của chủ nghĩa dân tộc. Làm như vậy đã làm giảm sức hấp dẫn phổ cập của Tập về “Giấc mơ Trung Quốc”, trong khi khuyến khích các chính sách ở Biển Đông và các nơi khác mà nó đối kháng với các nước láng giềng.

    Lấy ví dụ như Trung Quốc dọa nạt Philippines trong việc chiếm hữu các đảo còn đang tranh chấp ở Biển Đông, Viện Khổng Tử mà Trung Quốc thành lập tại Manila để dạy văn hóa Trung Quốc có thể giành được nhiều thiện chí. (Trung Quốc đã mở khoảng 500 viện nghiên cứu như vậy trong hơn 100 quốc gia.) Các hậu quả của chính sách đối ngoại của nước này có thể được nhìn thấy trong các cuộc bạo động bài Hoa năm ngoái tại Việt Nam sau khi Trung Quốc đặt của giàn khoan dầu của trong vùng biển còn tranh chấp giữa hai nước.

    Các giới hạn khác là Trung Quốc miễn cưỡng tận dụng lợi thế của một xã hội dân sự không bị kiểm duyệt. Theo ghi nhận của tạp chí The Economist, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã không quan tâm đến ý tưởng là quyền lực mềm bắt nguồn chủ yếu từ các cá nhân, khu vực tư nhân, và xã hội dân sự. Thay vào đó, họ bám chặt quan điểm rằng chính phủ là nguồn chính của quyền lực mềm, thúc đẩy các biểu tượng văn hóa xa xưa mà họ nghĩ rằng có thể có sức hấp dẫn toàn cầu, thường sử dụng làm các công cụ tuyên truyền.

    Thông tin tràn ngập trong khung cảnh của truyền thông ngày nay. Những gì là khan hiếm chính là sự quan tâm, mà nó phụ thuộc vào sự tín nhiệm – và tuyên truyền của chính phủ hiếm khi là đáng tin cậy. Đối với tất cả các nỗ lực của Trung Quốc tạo vị thế cho các hãng thông tấn Tân Hoa Xã và Truyền hình Trung ương Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh của CNN và BBC, khán giả quốc tế cho công tác tuyên truyền mong manh là khó gây ảnh hưởng.

    Ngược lại, Hoa Kỳ phát triển phần lớn của sức mạnh mềm không phải là do chính phủ, nhưng từ xã hội dân sự – tất cả mọi thứ đến từ các trường đại học và các hiệp hội cho đến loại hình văn hoá của Hollywood và văn hóa pop. Trung Quốc chưa có ngành công nghiệp văn hóa toàn cầu theo quy mô của Hollywood hoặc các trường đại học có khả năng so sánh với Hoa Kỳ. Thậm chí quan trọng hơn, Trung Quốc thiếu các tổ chức phi chính phủ tạo được nhiều sức mạnh mềm như của Hoa Kỳ.

    Ngoài việc tạo thiện chí và quảng bá hình ảnh của đất nước ở nước ngoài, các nguồn của quyền lực mềm không thuộc chính phủ đôi khi có thể bù đắp cho các chính sách không được lòng dân của chính phủ – như Hoa Kỳ xâm lược Iraq – thông qua phản ứng có tính phê phán và không bị kiểm duyệt của họ. Ngược lại, Trung Quốc đã chứng kiến các chính sách của chính phủ làm suy yếu cho sự thành công của quyền lực mềm.

    Thật vậy, các cuộc đàn áp trong nước đối với các nhà hoạt động nhân quyền làm giảm đi thành quả về quyền lực mềm của Thế Vận Hội Bắc Kinh năm 2008. Và lợi ích của Triển lãm Thượng Hải năm 2009 đã giảm đi nhanh chóng bởi việc bỏ tù Lưu Hiểu Ba, người đoạt giải Nobel Hòa bình và các màn hình truyền hình khắp thế giới phát sóng cảnh một chiếc ghế trống tại lễ Oslo. Các chuyên gia gọi hành vi này là “thâm nhập vào trong phạm vi thông điệp riêng”.

    Các chương trình viện trợ của Trung Quốc thường thành công và mang tính xây dựng. Nền kinh tế mạnh mẽ, và văn hóa truyền thống được khắp nơi ngưỡng mộ. Nhưng nếu nước này nhận ra tiềm năng quyền lực mềm khổng lồ, thì họ sẽ phải suy nghĩ lại chính sách ở trong và ngoài nước của mình, hạn chế các yêu sách với các nước láng giềng và học cách chấp nhận những lời chỉ trích nhằm mở rộng những tài năng toàn diện của xã hội dân sự. Bao lâu mà Trung Quốc còn hâm mộ ngọn lửa của chủ nghĩa dân tộc và giữ chặt đường dây kiểm soát của Đảng, thì quyền lực mềm của họ sẽ luôn còn bị hạn chế.

  3. haiz00 says:

    Nguồn gốc của chế độ độc tài

    ho-lai

    Khi nào chế độ độc tài Việt Nam sụp đổ với hình thức nào là một câu hỏi quen thuộc của người Việt mà chưa có câu trả lời chính xác. Dù nguy cơ của ĐCSVN thường được đặt ra, nhưng nguyên ủy cho sự tan rã chung này cũng là vấn đề cần tìm hiểu “chế độ toàn trị do đâu mà có”.

    TS Đỗ Kim Thêm, Dịch
    Giới thiệu sách: Hannah Arendt – The Origins of Totalitarianism. New York: Harcourt Brace, 1951

    Vấn đề 

    Gần đây, sự sụp đổ của Trung Quốc được học giới phương Tây đề cập và một học thuyết domino trong thời kỳ mới vẫn chưa thành hình. Chừng nào chế độ độc tài của Việt Nam sẽ sụp đổ và với hình thức nào là một câu hỏi quen thuộc của người Việt mà chưa có câu trả lời chính xác. Dù nguy cơ của ĐCSVN thường được đặt ra, nhưng nguyên ủy cho sự tan rã chung này cũng là vấn đề cần tìm hiểu: chế độ toàn trị do đâu mà có.

    Sự thành hình của nhà nước toàn trị là một khảo hướng lý thuyết đa dạng, nhưng sau khi chế độ Đức Quốc Xã đầu hàng thì “The Orgins of Totalitarianism“ (1951) của Hannad Arendt được học giới ca ngợi đây là một tác phẩm trứ danh, được liệt kê vào một trong số 100 danh phẩm của thế kỷ XX và tác giả được vinh danh là một triết gia có ảnh hưởng sâu đậm trong lịch sử tưởng chính trị cận đại. Bài viết sau đây sẽ giới thiệu danh phẩm này.

    Tác giả

    Hannad Arendt (1906-1975) là người Do Thái, nhưng sinh ở Linden gần Hannover (Đức) và trưởng thành ở Königsberg. Arendt học Triết học, Thần học và Hy lạp (1924-28) tại các Đại học Marburg, Heidelberg và Freiburg với các triết gia nổi danh Martin Heidegger và Karl Jaspers. Luận án Tiến sĩ của bà là “Khái niệm về tình yêu của Augustin”. Vì gốc Do thái nên bà không được phép dạy học.

    Khi Hitler cầm quyền bà bị giam và sau đó cùng chồng là Günter Stern đào thoát sang Paris tháng 8 năm 1933. Tại Paris, bà làm việc cho Jungend Aliyad, một tổ chức thanh niên tỵ nạn người Do Thái, nhưng mất quyền công dân Đức và sống trong tình trạng không quốc tịch. Bà ly dị vào năm 1937 và làm việc cho tổ chức Jewish Agency tại Paris. Bà tái giá với Heinrich Blücher. Sau khi bị giam tại trại tập trung Gurs, miền nam nước Pháp, bà và toàn gia đình sang tỵ nạn taị Hoa Kỳ năm 1941. Khởi đầu bà làm việc cho tuần báo Aufbau, sau đó cho nhà xuất bản Schocken và phụ trách điều hành cho tổ chức Jewish Cultural Reconstruction Agency.

    Năm 1951 bà nhập tịch Mỹ sau 14 năm sống không có quốc tịch và cho ra mắt tác phẩm The Origin of Totalitarism. Bà nổi danh và được mời thỉnh giảng tại các Đại học Princeton, Harvard, Berkeley, Chicago và New York. Từ năm 1967 bà là giáo sư chính thức tại New School for Social Research, New York. Với nhiều trước tác quan trọng bà nhận được 10 bằng Tiến sĩ danh dự của các đại học danh tiếng và nhiều giải thưởng cao qúy. Bà mất ngày 4 tháng 15 năm 1975 tại New York.

    Dù hai lần kết hôn với hai nhà trí thức tên tuổi, nhưng người tinh muôn thuở của bà vẫn là Martin Heidegger. Chuyện tình và cuộc đời tranh đấu của bà được soạn thành phim và gây thu hút dư luận. Gần đây, các luận đề của bà được học giới quan tâm thảo luận và vinh danh các đóng góp này.

    The Origins of Totalitarianism

    Tác phẩm

    The Orgirins of Totalitarianism do New York Harcourt Brace xuất bản lần đầu vào năm 1951 là một tác phẩm có ba tựa đề và viết bằng hai ngôn ngữ Anh và Đức.

    Ấn bản Anh ngữ tại châu Âu do Secker & Warburg, London xuất bản vào năm 1951 có tựa là The Burdens of Our Time. Với tựa đề này bà muốn nhấn mạnh đến khía cạnh đạo đức và triết lý, vìThe Origins of Totalitarianism dễ gây ngộ nhận cho độc giả là bà nghiên cứu về mối liên hệ nhân qủa, một khảo hướng thông thường của sử gia.

    Ấn bản Đức ngữ của Europäische Verlagsanstlt, Frankfurt a. M. năm 1955 là Elemente und Ursprünge totaler Herrschaft do chính bà dịch và tăng bổ nội dung. Tựa đề này phản ánh nội dung mà bà kỳ vọng. Ấn bản lần thứ ba năm 1966 được xem là hoàn chỉnh, vì có số lượng tăng hơn 526 trang so với ấn bản 1951 và có lời giới thiệu trang trọng của Karl Jaspers.

    Nội dung

    Dù với tựa đề nào thì nội dung của tác phẩm cũng không thuần là một luận đề tư tưởng chính trị của một triết gia mà là một bản cáo trạng đầy tâm huyết của một nạn nhân của chế độ Đức Quốc Xã trước một tội ác có một không hai trong lịch sử của nhân loại. Bà xem đây là trách nhiệm cao cả của mình vì những khái niệm về hình luật như tội giết người, mức độ quy trách và hình phạt xét xử không thể nào diễn đạt được bất công của cả một chế độ phi nhân.

    Vì là một luận cương đấu tranh nên bà không đề ra một khái niệm cơ bản về nhà nước toàn trị để làm khởi điểm cho nội dung. Bà cho là các phương pháp của các sử gia thời hậu chiến không thể lý giải đầy đủ về biến cố trong đại này, khi chỉ đề ra mối liên hệ nhân quả trong từng biến cố riêng biệt, mà chế độ toàn trị là nguyên nhân chính cho mọi thảm hoạ. Bà nêu lên những hình thức mới của một nhà nước toàn trị mà độc giả ngày nay phải hiểu đó là một khái niệm chưa rõ nét trong bối cảnh chính trị của những năm đầu của thập niên 1950 thời Chiến tranh Lạnh.

    Trong ấn bản năm 1966 bà nhấn mạnh không phải bất cứ chế độ độc đảng nào cũng là chế độ toàn trị mà chế độ phát xít Ý và chính quyền của các quốc gia Đông Âu và Liên xô trước khi Stalin chết là một thí dụ. Đặc điểm của chế độ toàn trị chỉ phát sinh trong thởi kỳ Đức Quốc Xã với chủ trương tiêu diệt người Do thái và trong chế độ Stalin, chủ trương triệt để về một xã hội lý tưởng không còn gia cấp và nhà nước.

    Khác với các khảo hướng quen thuộc của các sử gia, bà không những tìm hiểu điều kiện hình thành của chế độ Đức Quốc Xã và Stalin, mà kết hợp hai hình thức độc tài này để giải thích về nguồn gốc của một chế độ toàn trị. Để nắm quyền cai trị một đất nước suy tàn, chính quyền sử dụng bạo lực không những chỉ trong sinh hoạt chính trị hàng ngày, mà còn chọn khủng bố toàn thể dân tộc là phương tiện mà việc tiêu diệt người Do Thái là một biến cố lịch sử đáng lý không thể xãy ra.

    Bố cục

    Tác phẩm có ba phần chính là phong trào chống người Do Thái, chủ nghiã đế quốc và chế độ toàn trị.

    Phần I trình bày ba chủ đề: Tại sao phong trào chống Do Thái lại thành hình đúng vào thời điểm suy tàn mà không vào thời hưng thịnh của chủ nghiã dân tộc tại các nước châu Âu? Đâu là vai trò của cộng đồng người Do Thái trong đất nước và xã hội? Tại sao chủ nghĩa đế quốc kết hợp đúng vào thời điểm bài Do Thái?

    Điều kiện lịch sử vào thế kỷ XVIII và XIX hình thành phong trào chống người Do Thái, khởi đầu là một hiện tượng xã hội phổ biến không chỉ phát sinh tại châu Âu, nơi mà phân biệt sắc tộc mà còn lan trọng, sau đó còn đến Liên Xô, nơi mà phân biệt gia cấp nặng nề.

    Chương IV trình bày vụ kiện Dreyfus tại Pháp vào cuối XIX. Dreyfus, một sĩ quan Pháp gốc Do Thái, bị vào tù vì vu cáo làm gián điệp. Mặc dù Dreyfus đã được toà xét là vô tội, nhưng phong trào chống Do Thái trong quân đội, giới tu sĩ Thiên chúa giáo lan tràn ra xã hội. Nhưng tinh thần liêm khiết và dấn thân của giới trí thức Pháp, ý thức trọng pháp và nhân quyền của dân Pháp, và đặc biệt nhất là chính giới tỏ ra chống đối chủ nghiã Phát Xít của Ý trong nước là lý do chính làm cho mức tác hại của phong trào bài Do Thái tại Pháp không quá trầm trọng như tại Đức, Áo, Hung và Đông Âu.

    Trong khi phong trào bài Do Thái khắp châu Âu lên cao điểm, thì cộng đồng người Do Thaí cũng mất đoàn kết trước hiểm hoạ và xem cộng đồng Do Thái tại Đức là một ngoại lệ trong lich sử. Dù cộng đồng này là một thành phần sắc tộc nhỏ, nhưng chính giới và dân chúng tìm mọi cách quy trách là tác nhân chính cho mọi tình trạng suy vi trong xã hội.

    Thực ra, vai trò tài trợ của các nhà đại tài phiệt Do Thái trong tất cả mọi sinh hoạt công trong chế độ phong kiến không còn nhiều và không phải bóc lột kinh tế của giới Do Thái thể hiện trong hằng ngày, mà sự giàu có và vai trò quyết định tối hậu trong mọi sinh hoạt quốc gia, dù tiểm ẩn, nhưng đó là nguyên nhân làm cho sự thù ghét trong toàn xã hội bộc phát.

    Phần II bàn về chủ nghiã đế quốc như là mối đe doạ cho toàn cầu vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Đó là một giai đoạn chuẩn bị cho thảm họa sắp tới của chế độ toàn trị và dân tộc Do Thái bị ảnh hưởng trong trong trào lưu này.

    Chính giới phương Tây lập luận là các chính sách phát triển kinh tế bị hạn chế do các luật lệ vốn có sẳn trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Rào cản pháp luật này cần phá vở mà tăng trưởng kinh tế liên tục và mở rộng sức mạnh khỏi biên giới quốc gia là mục tiêu của chủ nghĩa đế quốc.

    Từ 1884-1914, khẩu hiệu của “mở rộng vì lợi ích” đã được sử dụng để biện minh cho việc chinh phục nước ngoài, vì đó là lợi ích của dân tộc và cũng là một phương châm kinh doanh cho các công ty khai thác dã man người nước ngoài. Đóng vai trò tiên phong trong chính sách này là một số các nhà tài phiệt Do Thái có óc phiêu lưu mạo hiểm.

    Có hai hình thức của chủ nghiã đế quốc, một tại châu Âu và một tại hải ngoại, mà Nam Phi và các nước thuộc điạ khác của Anh và Pháp là thí dụ. Vì theo đuổi chính sách đế quốc ở hải ngoại với chiều hướng kinh tế tư bản chủ nghiã mà chính sách kỳ thị chủng tộc hình thành. Giới thống trị da trắng gốc người Hoà Lan tại Nam Phi không chấp nhận người da đen về mọi mặt. Họ du nhập nguyên tắc cai trị chính quyền và tổ chức xã hội nước thuộc địa dựa trên màu da. Từ đó, kỳ thị và bóc lột trở thành quy tắc chung trong xã hội. Bà dùng rất nhiều các văn phẩm để chứng minh cho lập luận này.

    Chủ nghĩa đế quốc trong châu Âu có những đặc điểm khác, vừa dựa theo khái niệm chủ nghiã dân tộc và sắc tộc thiểu số của một số quốc gia được thành lập muộn màng, mà các nước Đông Âu là thí dụ. Các nước này không thuần chủng và cũng không hề có một ý chí thống nhất về các vấn để chính trị. Do đó, để tạo đoàn kết quốc gia trong giai đoạn mới mà khái niệm về một tập thể dân tộc như một loại ý thức hệ mới nảy sinh. Xã hội có hai thành phần chính, một là giới lãnh đạo cực đoan, thiếu kinh nghiệm, quá giàu, hai là đa số giới dân nghèo, họ sống ngoài lề xã hội và không có ý thức sinh hoạt theo đảng phái hay hội đoàn trong một xã hội dân chủ. Cả hai giới nàycó nhu cầu phá vỡ truyền thống xa xưa và cùng muốn liên kết nhau trong hoàn cảnh mới với hai đặc thù.

    Một là phong công trào công nghiệp hoá tạo ra vô số người thất nghiệp và không có cơ hội chuyển hướng thích và họ bị chê trách là sản phẩm thừa thải trong xã hội tư sản.

    Hai là hậu quả của thế chiến thứ nhất gây cho nạn nhân chiến cuộc lâm vào cảnh tị nạn hay mất quốc tịch. Vấn đề không phải chỉ là họ mất nhân quyền mà chính là họ không còn có một mối quan hệ với cuộc đời và tìm một điểm tựa để chuyển hướng. Do bối cảnh bất ổn cá nhân và bất trắc kinh tế tăng lên mà một xã hội đang phân hoá theo gia cấp trở thành một xã hội đại chúng lầm than và vong thân, họ sẳn sàng làm nô lệ mới cho chính quyền nuôi mộng bành trướng chính trị.

    Căn bản kết hợp là các chiều hướng thuộc về chủ nghiã tập thể dân tộc và bành truớng đế quốc. Phong trào bài Do Thái là một nỗ lực tuyên truyền được kết hợp trong trào lưu này. Tuyên truyền của chính quyền là nền tảng để sách động quần chúng lầm than. Dù là mị dân nhưng tác động này thành công. Do đó, một phong trào quần chúng trong xã hội thành hình và chiếm mọi ưu thế trong sinh hoạt.

    Phần III là trọng điểm của tác giả để giải thích về nguồn gốc của một chế độ toàn trị mà Đệ Tam đế chế của Đức và Bolchevik của Liên Xô là thí dụ.

    Chế độ toàn trị thành hình trong một nhà nước dân tộc suy tàn, tình trạng vô chính phủ đi trước và một xã hội đại chúng bị phân hoá triệt để theo sau. Ngay khi nắm quyền Hitler đã ý thức về các hậu qủa của khủng hoảng xã hội này, nên tìm cách tiếp tục hủy diệt mọi sinh hoạt xã hội của người dân. Stalin, ngược lại, qua chủ trương xoá bỏ giai cấp cũng đi đến một tình trạng toàn trị tương tự.

    Xã hội giai cấp suy tàn khởi đầu và biến dạng thành một xã hội đại chúng lầm than và vô tổ chức. Không có đại chúng tham gia, tất nhiên sẽ không có một phong trào độc tài. Đó chính là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành một hình thức nhà nước mới. Nhưng phong trào này không có trong khuôn khổ bình thường của một sinh hoạt chính đảng hay hội đoàn theo hệ thống, mà là một tình trạng bạo loạn luôn biến động của buổi giao thời mà mọi người như cát bay trong gió: Đó là một đại chúng gồm có các cá nhân đầy lòng thù hận và nghi ngờ. Tình trạng thất nghiệp và lạm phát làm cho lý do tham gia chống Do Thái của giới bình dân lên cao.

    Vai trò của trí thức sách động cũng quan trọng không kém. Đặc điểm chính là chính quyền tuyên truyền ý thức hệ giả tạo và khủng bố toàn diện xã hội. Cả hai kết hợp nhau tạo ra một tình trạng bất ổn thường trực. Cá nhân vừa không còn tự do và suy nghĩ, chỉ còn chấp nhận hợp tác với chế độ là cách cuối cùng.

    Bà mô tả khá chi tiết các trại tập trung và cách huỷ diệt người Do Thái. Tất cả nạn nhân đều phải khuất phục truớc cách toàn trị vô nhân đạo. Đây chính là một lò sát sinh để thử nghiệm xem chế độ nhà nước độc tài được điều hành như thế nào và mức độ đối kháng của nạn nhân đến đâu. Giết người một cách có hệ thống bất kể là ai và như là một loại côn trùng hay là sinh vật thừa thải trong xã hội. Bà tố cáo là chế độ này đáng lý không thể xãy ra.

    Kết luận có hai khía cạnh quan trọng. Một mặt, chế độ toàn trị đạt được quyền hành bằng cách tuyên truyền ý thức hệ giả tạo và khủng bố toàn dân tộc một cách vô nhân đạo, dùng con người để thử nghiệm về quyền lực đàn áp nhưng không nhận trách nhiệm về những bất công trước lịch sử.

    Mặt khác, chế độ độc tài không thể tiêu diệt một dân tộc, một điều tất yếu vừa là nguồn hy vọng, nhưng nguy cơ này cần phải đối phó. Ý thức cá nhân trong tinh thần trách nhiệm chính trị là giải pháp. Dù quan điểm của người dân dị biệt trong mọi sinh họạt, nhưng khi tất cả đồng thuận tạo ra một nền tảng chính trị chung để xây dựng một xã hội trong tinh thần tự do, trách nhiệm, tương kính thì một hy vọng cho tương lai tốt đẹp hơn có thể khởi đầu, mà quan trọng nhất là khi mà con người xem bình đẳng là quyền duy nhất và không còn phân biệt theo chủng tộc, giai cấp, hoặc đảng phái. Nếu đạt được lý tưởng này, chúng ta sẽ thực hiện chủ nghĩa cá nhân tự do với những lý tưởng cao cả, tôn trọng phẩm giá của mỗi con người và chịu trách nhiệm chung cho tất cả.

    Nhận xét

    Ấn bản Đức ngữ là một tác phẩm khó đọc và bị chỉ trích với nhiều lý do. Về mặt hình thức, tác phẩm thiếu cân đối vì nhiều luận điểm thiếu bằng chứng để thuyết phục. Có quá nhiều chú giải không theo chuẩn mực dẫn luận thông thường, nhiều chổ dài hơn bản văn.

    Vì nội dung sách được tăng bổ nhiều lần, nên bố cục không còn mạch lạc như ấn bản Anh ngữ. Các chương cuối sách là những tiểu luận chuyên biệt hơn là kết luận cho toàn tác phẩm. Giới phê bình nghiêm túc không thể phân loại tác phẩm này vào lĩnh vực nào, triết học, sử học hay chính trị học hay là một khảo cứu liên khoa đúng nghĩa và cũng không là một cáo trạng cá nhân.

    Tác phẩm thể hiện một cá tính độc lập và một phong cách tư duy độc đáo của một triết gia dấn thân trong vấn đề tố cáo tội ác của một nhà nước độc tài trước bất công của lịch sử. Đó là tấm gương can đảm mà người Việt quan tâm thời cuộc cần so chiếu.

    Tóm lại, tuyên truyền sách động về một ý thức hệ giả tạo và khủng bố toàn dân trong một đất nước đang suy tàn là nguyên nhân thành hình của chế độ. Do bất lực nội tại của chế độ mà tiến trình tự hủy phát sinh tất yếu. Nhưng chế độ độc tài không thể hủy diệt toàn thể dân tộc và ý thức hồi sinh một thể chế dân chủ và cộng hoà của toàn dân là một hy vọng khởi đầu. Các lý giải này của Hannad Arendt về nhà nước độc tài của Đức và Nga trước đây vẫn đúng cho chế độ của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.

  4. haiz00 says:

    Việt Nam Dưới 40 Năm Cộng Sản Đô Hộ

    cauhinluon

    Khi đã lường gạt dư luận thế giới thành công về “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, lúc chiếm miền Nam xong thì Việt Cộng miền Bắc lột bỏ ngay mặt nạ và giải tán liền tụi tay sai dàn dựng này, thống nhất hai miền với danh xưng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa .

    CHÍNH TRỊ-KINH TẾ

    Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một khúc quanh bi thảm trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Hơn 2 năm ”hấp hối’ vì Hiệp Định Paris năm 1973, Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn bị Cộng Sản Miền Bắc chiếm đóng sau 21 năm hiện hữu. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa, tuy phải đối phó với những khó khăn do cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhứt 1945 -1954 để lại, vẫn là một chế độ dân chủ, hoàn toàn khác biệt với chế độ độc tài toàn trị ở Miền Bắc vĩ tuyến 17. Ta duyệt xét thành quả của VC sau 40 năm cai trị.

    1) Chính trị : lường gạt, tráo trở, bán nước
    – lường gạt
    a) lường gạt lần 1 : khi đã lường gạt dư luận thế giới thành công về MTGPMN, lúc chiếm miền Nam xong thì VC miền Bắc lột bỏ ngay mặt nạ và giải tán liền tụi tay sai dàn dựng này, thống nhất hai miền với danh xưng VNDCCH

    b) lường gạt lần 2 : rồi lộ bộ mặt thật, trở lại với tên Đảng CS VN trước đó núp dưới tên Đảng Lao Động, và đổi quốc hiệu thành CHXHCNVN

    c) lường gạt lần 3 : kêu gọi đi học tập cải tạo 3 ngày, 2-4 tuần mà biến thành tù cả chục năm, hãm hại trên 1 triệu quân cán chính miền Nam với hơn 165 ngàn người chết trong loại ngục tù này. Tuyên bố Độc lập-Tự Do-Hạnh Phúc mà cả nước biến thành một nhà tù khổng lồ, nhốt hơn 20 triệu con dân Miền Nam.

    d) lường gạt lần 4 : dàn cảnh các trại tù cải tạo mỗi khi có phái đoàn ngoại quốc viếng thăm

    e) lường gạt lần 5 : tuyên bố cởi mở đổi mới nhưng rồi xiết lại thành chủ thuyết quái thai « kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã». Theo lời Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng của Đảng C SVN, dù cho có đến 100 năm nữa Việt Nam vẫn chưa đạt tới Cộng Sản Chủ Nghĩa.

    f) lường gạt lần 6 : CSVN đã hô hào người Việt ở hải ngoại đem tiền và tài về VN để giúp xây dựng quê hương. Một vài người đã về nhưng đều thất vọng. Một số đã bị CS cầm tù, tịch biên tài sản như các Ông Trịnh Vĩnh Bình (Hòa Lan), Trần Triệu Quân (Canada)… Cho tới giờ phút này, chưa có một Người Việt Hải Ngoại nào về làm ăn với CS mà thành công, yên lành.

    g) Đang kêu gọi xoá bỏ hận thù, hoà hợp hòa giải, nhưng chỉ kêu gọi một phiá quốc gia mà thôi, phiá VC thì vẫn khư khư ôm chiến thắng, không xin lỗi, thay đổi gì hết, chỉ có nghiã là kêu gọi người quốc gia đầu hàng VC ! Ai dại tin thì sập bẫy. Chủ ý là đánh lừa giới trẻ và dư luận thế giới.

    h) Màn lường gạt thường trực : nhân dân làm chủ ? nhưng tất cả quyền hành nằm trong tay đảng (điều 4 hiến pháp) Tự Do ư, chỉ có tự do tuân hành chỉ thị và lệnh của đảng và đảng viên. Hạnh Phúc ở đâu ? quả thật chỉ có đảng viên và gia đình họ hưởng hạnh phúc, còn toàn dân thì è cổ còng lưng mà phục vụ !

    – Tráo trở
    a) Theo Nga bỏ Tàu : Hiến Pháp năm 1982, lời mở đầu ghi Trung Cộng là kẻ thù nguy hiểm lâu đời

    b) Sau khi bị Tàu dạy bài học từ 1979 đến 1984, sau khi khối Liên Sô sụp đổ, để tiếp tục thống trị đất nước bộ ba Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh vội sang Tàu xin thần phục và dâng hiến tổ quốc, xin làm một tỉnh tự trị của Tàu (Hội nghị Thành Đô 1990), Hiến pháp 1991 bỏ lời mở đầu ghi Tàu là kẻ thù.

    c) chửi Mỹ rồi lạy Mỹ để được công nhận, để thoát cảnh cô lập ngoại giao, để gia nhập Mậu Dịch Quốc Tế, để xin Mỹ quy chế tối huệ quốc … Ngày xưa chửi Mỹ hơn người, Ngày nay nịnh Mỹ chẳng ai bằng mình

    d) chửi thuyền nhân là đĩ điếm, tàn dư Mỹ nguỵ rồi lại nịnh là « khúc ruột ngàn dặm » để moi tiền
    … Ngày đi, đảng gọi “Việt gian”,
    Ngày về thì đảng chuyển sang “Việt kiều”,
    Chưa đi: phản động trăm chiều,
    Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng.

    – Bán nước « Hèn với giặc, ác với dân »
    a) Năm 2000 lén lút đổi mốc ranh biên giới, nhượng Tàu trên 10,000 km2 lãnh thổ, hiến dâng Ải Nam Quan, Núi Lão Sơn, Thác Bản Giốc… và lãnh hải Biển Đông … mở đầu kỷ nguyên Bắc thuộc lần thứ ba

    b) Sau đó xây lăng mộ và đài kỷ niệm « liệt sĩ » Tàu chết khi xâm lăng địa đầu Bắc Việt, hủy bỏ các lễ truy điệu bộ đội chống Bắc xâm

    c) mở đầu các màn dâng đất cho Tàu cộng bằng mỹ từ cho thuê, cho mướn dài hạn như ở Tây Nguyên (Bauxite), Rừng thượng nguồn (sông Hồng), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Quảng Trị, Cam Ranh, Bình Dương lấy tiền bỏ túi, … tại các nơi này tụi Tàu hoàn toàn làm chủ từ hành chánh cho đến kinh tế, tư pháp … tha hồ hà hiếp dân, tổ chức quân đội…thâu thuế, kinh doanh. Nhà nước VC hoàn toàn mất chủ quyền để những cứ điểm này thành đất Tàu. Dân Tàu nhập cảnh không cần chiếu khán, vào ở vô hạn định bất cứ nơi đâu, xem toàn thể đất VN như là một tỉnh của Tàu

    d) Hải quân Tàu tung hoành Biển Đông, chiếm Hoàng Sa-Trường Sa để lập huyện Tam Sa, dân chúng yêu nước bất bình phản đối thì bị chính nhà nước VC đàn áp vì sợ bị quan thầy mắng mỏ

    e) Không dám kiện Tàu trước Toà Quốc Tế LaHaye về vụ Biển Đông và Hoàng Sa-Trường Sa

    f) Ngư dân và thuyền chài VN bị Tàu ức hiếp, bắn chìm giết người thì bỏ mặc và nói là bị tàu lạ tấn công rồi làm lơ, rất đúng với lời thán oán của dân chúng « Hèn với giặc, ác với dân »

    2) Xâm lăng Cao Miên
    Trước 75 giúp Khờ Me Đỏ lật đổ Lon Nol sau thì lại mang quân, nhất là lính miền Nam làm « nghiã vụ quốc tế », xâm lăng Căm Bốt, giúp Tàu cộng có cớ « dạy cho một bài học » vì phản phé, làm chết biết bao mầm non đất nước và bị cô lập về ngoại giao trong 15 năm trời.

    3) Dân sinh : ăn cướp của dân để thành XHCN (xuống hố cả nước)
    Khi chiếm miền Nam dân số cả nước ước lượng 50 triệu người và nay có thể lên đến hơn 85 triệu.

    – Ăn cướp của dân
    a) tịch thu các hãng xưởng, các công ty tư nhân, các cơ sở thương mại …….trong chiến dịch đánh « tư sản mại bản » long trời lở đất do Đỗ Mười từ Bắc vào Nam chỉ huy.

    b) tịch thu, chiếm cứ tất cả các dinh thự, nhà cửa của những người thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa, của những người mà CS gọi là ”kẻ thù của nhân dân”, của những người trốn chạy chế độ độc tài CS, năm 1975 và những năm sau đó…

    c) bằng các chiến dịch đổi tiền (ngày 22.09.1975, ngày 02.05.1978, tháng chín 1985) chỉ báo trước 24 giờ, cũng như giới hạn số tiền được phép đổi, CSVN đã cướp một cách trắng trợn tiền của người dân Miền Nam, biến họ thành những người ”vô sản” theo đúng nghĩa của từ ngữ này

    d) bắt dân chúng vào hợp tác xã để nhà nước làm chủ tất cả ruộng đất, cơ sở kinh doanh và truất quyền tư hữu của người dân

    e) tổ chức bán bãi vượt biên để cướp nốt tài sản, vàng vòng còn dấu diếm được của người dân. Sau đó đẩy họ ra biển trên những con thuyền mong manh, sống chết mặc bay. Quả thực là vô nhân đạo ngoài sức tưởng tượng của con người. Hậu quả là trên 1/2 triệu người đã bỏ mình nơi biển cả, trên những con thuyền nhỏ nhoi để chạy trốn một chế độ bất lương

    f) cướp các thiết bị tối tân của kỹ nghệ Miền Nam, các trang bị tối tân, đắt tiền của các nhà thương trên toàn Miền Nam để mang về Bắc bằng hàng ngàn xe Molotova.

    g) Cán bộ cướp đất : mượn cớ lợi ích công cộng, cán bộ tha hồ cướp đất của người dân, của các giáo hội trên toàn quốc, tạo nên hiện tượng dân oan khiếu kiện, bị nhà nước trấn áp dã man (Đảng ta là đảng cầm quyền, Đảng bán ruộng đất lấy tiền đảng tiêu)

    – hồng hơn chuyên lý lịch là bùa hộ mệnh của cán bộ đảng viên. Thất học, vô hạnh cũng quyền cao chức trọng, thét ra lửa mửa ra khói (Giỏi a đồng chí Đỗ Mười, Lớp ba chưa đỗ đã ngồi bí thư) tha hồ tung hoành, phạm pháp, tham nhũng. Con cháu và gia đình quân cán chính miền Nam thì bị gọi là “ngụy” và bị tước đoạt hết mọi công bằng, quyền lợi, không xin được việc làm, không được học tiếp.

    • các lớp chuyên tu, tu nghiệp tại chức chỉ là hình thức để tăng bề thế cho cán bộ, che dấu sự dốt nát và mặc cảm của lớp cầm quyền

    – đoàn ngũ hoá và kiểm soát bằng công an.
    a) tổ chức công an phường, khóm để theo dõi, kềm kẹp bằng
    • hội họp thường xuyên, kiểm thảo, loa phát thanh tuyên truyền…
    • theo dõi lẫn nhau, tố cáo lẫn nhau (hàng xóm tố nhau, trẻ thơ báo cáo về cha mẹ, vợ tố chồng …)
    • khai báo lý lịch ba đời
    • dọa liên đới tới thân nhân đang ở tù học tập
    • hạn chế di chuyển, đi đâu cũng phải xin phép, xin chứng nhận…trình báo công an (Mang danh Dân Chủ Cộng Hòa, Đi ra khỏi tỉnh phải qua cửa quyền, Xuất trình giấy phép liên miên, Chứng từ thị thực ở miền nào qua)

    – cai trị bằng bao tử-đe dọa
    a) bần cùng hoá dân miền Nam xong thì đặt hộ khẩu, tem phiếu theo chế độ bao cấp hòng tiêu diệt sức tự lực tự cường của người dân để dễ kiểm soát. Khi quá đói thì vì miếng ăn dễ bị sai bảo hơn. Lấy miếng ăn để dễ áp đảo mẹ goá con côi, con đàn hay người già, người bệnh

    b) nên nhớ là lúc ấy dân miền Nam phải ăn cơm độn, phải nuốt bo bo, phải bán hết ngoài chợ trời của cải còn sót lại, phải thăm nuôi chồng, con “cải tạo” nơi rừng thiêng nước độc…Ở với Hồ Chí Minh, Cây đinh phải đăng ký, Trái bí cũng sắp hàng, Khoai lang cần tem phiếu, Thuốc điếu phải mua bông, Lấy chồng nên cai đẻ, Bán lẻ chạy công an, Lang thang đi cải tạo, Hết gạo ăn bo bo, Học trò không có tập, Độc Lập với Tự Do, Nằm co mà Hạnh Phúc!

    c) bắt đi vùng kinh tế mới, bắt làm thuỷ lợi không công …bắt làm “nghiã vụ quốc tế”

    d) ai may mắn có thân nhân ở ngoại quốc gửi quà tiếp tế thì dễ thở hơn một chút, nhưng phải biết đút lót mới mong được yên thân

    – đạo đức
    Đạo đức đỉnh cao trí tuệ của VC trong 40 năm cai trị đất nước vô cùng băng hoại khi
    a) xuất cảng lao nô sang khối Đông Âu và Liên Sô để trả nợ !

    b) bán phụ nữ làm vợ người ngoại quốc như Tàu, Đại Hàn, Mã Lai, làm nô lệ tình dục …

    c) tổ chức những đường giây lén lút sang Canada, sang Anh, Đông Âu, Hoa Kỳ trồng cần sa …

    d) cán bộ và con cháu xuất ngoại thì buôn lậu, ăn cắp đến nỗi các cửa hàng tại Nhật hay Nam Hàn phải dán thông cáo cấm người Việt, nhục nhã chưa từng thấy

    e) chưa bao giờ trong nước nhiều dịch vụ … “ôm” như dưới sự cai trị của VC

    f) chưa bao giờ trong nước nhiều hiện tượng vô cảm như dưới sự cai trị của VC

    g) chưa bao giờ trong nước nhiều tội ác như dưới sự cai trị của VC

    h) chưa bao giờ có thương nhân hỗn hào chửi bới khách hàng như người miền Bắc hiện nay

    i) chưa bao giờ có thương nhân gian lận tráo hàng, bóc lột khách hàng ngoại quốc (hay người việt hải ngoại) như bây giờ

    j) chưa bao giờ người cầm sổ thông hành VN xuất ngoại bị khinh thường như bây giờ.

    4. Kinh tế
    Đó là nền “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã» quái đản. Trên lãnh vực kinh tế, Việt Nam vẫn ì ạch đuổi theo các nước ở vùng Đông Nam Á. Một bài báo ở VN đã viết : VN chưa chế tạo nổi 1 cái đinh làm ta thấy đau đớn, thấm thía thương quê nhà.
    a) quốc doanh : tất cả các cơ quan kể cả quân đội, công an đều được nâng đỡ làm kinh doanh với tiền vay ngân hàng và làm việc giỏi đến độ 99 % lỗ nặng mà nhà nước vẫn phải bao che. Tới nay đã có trên 500 000 công ty quốc doanh.

    b) Các cơ sở tài chính đều do con cái, thân nhân của các ”ông lớn ” trong đảng CS nắm giữ, thí dụ như nhà băng Vietnamcomk Bank do Lê Kiến Thành, con của Lê Duẩn làm chủ nhân ông, con gái Nguyễn Tấn Dũng là Thanh Phượng thì mở Ngân Hàng tư Bản Việt, lớn hơn, kiêm nhiệm luôn rất nhiều Quỹ tài chánh và tập đoàn kinh doanh quan trọng bậc nhất…

    c) Tham nhũng-biển thủ-lường gạt là những độc chiêu xuất quỷ nhập thần làm thất thoát cả tỷ mỹ kim vào túi giới chóp bu, vd như vụ Vinashin, vụ Vinalines đều bị dìm chìm xuồng sau khi giết người diệt khẩu (vd tướng công an Phạm Qúy Ngọ) …”Nhà ai giàu bằng nhà cán bộ? Hộ nào sang bằng hộ đảng viên? Dân tình thất đảo bát điên, Đảng viên mặc sức vung tiền vui chơi”

    d) Các công ty ngoại quốc muốn đầu tư thì phải có thủ tục đầu tiên là 20 % hoa hồng cho cán bộ trên tổng giá công trình, và biết bao nhân viên, giám đốc các công ty tây phương, nhật, đại hàn đã bị chính phủ họ truy tố khi bị lộ.

    e) Nhờ nhân công rẻ mạt mà khéo léo nên thu hút được nhiều công ty lớn ngoại quốc như Samsung, Nike, Microsoft, Toshiba…

    f) Tới nay lợi tức đầu người của VN là dưới 1000 dollars, ngang ngửa với Cao Mên, Lào, thua cả nhiều nước châu Phi

    g) VN nhập cảng nhiều hơn xuất cảng, cán cân thương mại luôn luôn bị thâm thủng hàng chục tỷ dollars.

    h) Hàng nhập cảng phần lớn đến từ Tầu Cộng qua ngả biên giới bị bỏ ngỏ, đang đánh gục các sản phẩm nội địa do người dân VN sản xuất. Không kể hàng độc hại và những đòn gian thương làm kiệt quệ tài nguyên trong nước.
    Với các đặc khu Trung Hoa mọc lên như nấm trên khắp nước, với một nền kinh tế đang bị Hoa hóa, VN đang trở thành một phần của TC. Người CS Tàu đang bất chiến tự nhiên thành. Mọi biểu lộ lòng yêu nước, chống đối sự xâm lấn của TC đều bị VC đàn áp triệt để.

    i) Trong một cuộc gặp gỡ giữa Ban lãnh đạo của Tp HCM và các doanh nhân vào ngày 3-3-2015, các doanh nhân đã thẳng thắn nêu ra các khó khăn của họ trong các hoạt động, họ đã than phiền là các thủ tục hành chánh ”không thông thoáng, bất cập” đã cản trở các hoạt động của họ

    j) Theo các tài liệu trên mạng trích từ những báo cáo khả tín thì số chóp bu VC giàu bạc tỷ đô Mỹ trên 10 người, giàu hằng trăm triệu đô mỹ đến 300 người, còn hàng triệu mỹ kim thì đếm không hết. Với lương bổng nhà nước thì làm sao họ giàu đến thế được ?

    5. Giáo dục
    Lại là truyện dài bất lương vì không như thời Việt Nam Cộng Hòa, Giáo Dục không được dựa trên 3 nguyên lý: nhân bản, dân tộc và khai phóng nên giáo dục CS chỉ nhằm đào tạo ra những con người ”trung với Đảng”. Việc giáo dục của CS không có một mảy may mục đích đào tạo ra những con người có khả năng để góp phần vào việc phát triển đất nước mà chỉ nhằm mục tiêu chánh trị để phục vụ cho chế độ. CSVN đã rêu rao : Giáo Dục là quốc sách, nhưng căn bản của nền giáo dục của CS vẫn là theo đường lối của Đảng : ”bát nháo, hỗn loạn, lạc hậu, gian dối ”
    a) bằng dỏm-bằng giả
    CHXHCNVN là nước có nhiều bằng tiến sĩ và hàm GSTS nhiều nhất thế giới. Ban thường vụ Bộ Chánh Trị có 16 người, tất cả đều có bằng Tiến Sĩ, trừ Bà Tòng Thị Phóng, người thiểu số, chỉ có Cao Học. Ông Nguyễn Trọng Nhân, bộ trưởng giáo dục, khoe có bằng Tiến sĩ của một Đại Học Đức nhưng khi người ta tò mò tra cứu thì thấy năm ông Nhân khai đậu TS lại là năm ĐH này mới mở. Nguyễn Thiện Nhân là người tuyên bố rất hách dịch: các người Việt Hải Ngoại đều đáng tội chết.

    Theo thống kê của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo của CSVN, niên khóa 2011-2012, VN có một đội ngũ nhân viên giảng huấn là 84 149 người trong đó có 9152 người ( 11 % ) có học vị Tiến Sĩ. Trong một Hội Nghị về Giáo Dục năm 2013, Bà Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ Tịch Nước đã trăn trở : số học sinh ra trường càng ngày càng đông, số Thạc Sĩ, Tiến Sĩ càng ngày càng nhiều, nhưng tại sao đất nước chậm đổi mới và có vẻ tụt hậu xa so với các nước khác ở trong khu vực.

    Với đội ngũ Tiến Sĩ, Thạc Sĩ đông đảo như vậy nhưng không một ĐH Việt Nam nào có tên trong danh sách 200 ĐH dẫn đầu trên thế giới.

    Tính trên số bằng sáng chế VN là nước cầm đèn đỏ trong khu vực, thua cả Brunei là nước nhỏ chỉ có 1/2 triệu dân. Tổng số các bài nghiên cứu khoa học của VN đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế không bằng một trường đại học ở Thái Lan.

    b) chương trình học thay đổi như chong chóng.

    c) Sách giáo khoa quá tệ và hán hoá, lịch sử bị bẻ cong, gian dối, công trạng tiền nhân dựng nước, giữ nước chống bắc xâm bị gạt bỏ … gương liệt sĩ, anh hùng cách mạng hoàn toàn bịa đặt

    d) xin được cho con em vào học là cả một mối ưu tư, một ác mộng cho các bậc cha mẹ. Nào là phải hối lộ, phải tốn tiền – rất là nhiều tiền – không kể tiền học tại các lớp luyện thi, lớp dậy kèm.

    e) Du sinh : VNCS đã cho phép một số sinh viên có điều kiện đi du học tại Mỹ, Anh, Pháp, Gia Nã Đại… Điều kiện nói ở đây là phải có tiền. Điều kiện này chỉ có con cháu các cán bộ đảng viên mới hội đủ. Còn người dân thường thì ”con sãi ở chùa lại quét lá đa ”

    f) kỷ cương theo đạo đức cộng sản nghiã là tha hồ chạy tiền mua bằng thật, nhờ thi hộ, đút lót giám khảo, mua bằng giả, bằng ma…

    6. Y tế
    Về phương diện Y Tế, CS đã cho xây thêm một số nhà thương mới với ý định giải quyết tình trạng quá đông bệnh nhân mà họ gọi là ”quá tải ”. Trước 1975, Sàigòn chỉ có 1 nhà thương Nhi Đồng cộng với các Khu Nhi Khoa tại các Bệnh viện Đa khoa ở khắp mọi nơi trên toàn cõi Miền Nam Cộng Hòa. Hiện nay Sàigòn có 2 Nhà Thương Nhi Đồng 1 và 2. Mỗi nhà thương có chỉ số là hơn 1000 giường. Một nhà thương Nhi Đồng 3 đang được xây cất, cũng đồ sộ với hơn 1000 giường. Tuy vậy vẫn không đủ chỗ cho bệnh nhân. Hai, ba em bệnh nhân nằm một giường là điều thông thường ở VN. Với sự trợ giúp của Pháp, bệnh viện Tim được thành lập ở Hà Nội và Sài gòn, ngoài ra ở Sàigòn còn có 1 Viện Tim Tâm Đức là một nhà thương tư nhưng vẫn không đủ khả năng trước những nhu cầu của số bệnh nhân rất đông đảo.

    a) Y đức : tiền
    Nhập viện để được chữa trị tại các nhà thương thuộc Bộ Y Tế hay thuộc trường Y Khoa là cả một vấn đề, một nỗi sợ hãi. Gọi là bệnh viện của Bộ Y Tế, của Trường YK nhưng bệnh nhân vẫn phải trả tiền, đủ thứ tiền: tiền phòng, tiền thuốc, tiền trả cho các cuộc giải phẫu. Ngoài ra lại phải hối lộ từ y công cho đến điều dưỡng. Phong bì đưa Bác sĩ là điều thường xuyên để hy vọng được BS săn sóc. Y đức của giới thầy thuốc đã xuống rất thấp như chưa từng bao giờ thấy. Nhiều người bệnh bị chết oan.

    Mới gần đây đã xẩy ra 1 vụ làm chấn động dư luận của cả nước. Đó là chuyện thủ tiêu để phi tang xác của 1 bệnh nhân chết tại 1 phòng Giải Phẫu Thẩm Mỹ Cát Tường ở Hà Nội.

    b) Giai cấp
    các giới chức được ưu tiên chăm sóc tuỳ theo chức vụ, phẩm hàm trong đảng, người thì nằm bệnh viện cao sang, kẻ được đưa ra ngoại quốc chăm sóc rồi du hý. Như trường hợp Anh Sáu Búa Lê Đức Thọ được chữa trị ở Nhà thương Val De Grâce, một nhà thương nổi tiếng của Pháp; Trần Văn Trà được đưa sang Tân Gia Ba. Nguyễn Cơ Thạch được mổ tim ở Pháp……..

    c) Y thuật
    – Năm 1975, ngay sau khi chiếm được Miền Nam, CSVN đã tịch thu tất cả các cơ sở Y Tế của Miền Nam. Họ đưa các BS thuộc loại ”top” của Miền Bắc vào tiếp thu Trường Y Khoa Đại Học, các cơ sở Y Tế của VNCH. Các BS Miền Nam đã nhận ra ngay sự yếu kém của các đồng nghiệp Miền Bắc. Thí dụ về Bệnh Lý Nội Thương, cuốn sách Pathologie Médicale của Pasteur Valérie Radot xuất bản năm 1954 ở Paris – được dịch ra tiếng Việt bởi BS Đặng Văn Chung – là cuốn sách gối đầu giường của Y Giới Miền Bắc mãi cho tới năm 1975. BS Tôn Thất Tùng, ông vua không ngai của Y Giới Miền Bắc, khi vào thăm Bệnh Viện Bình Dân ở Sàigòn đã thú thực khả năng của các BS ở BV Bình Dân hơn hẳn các BS của Miền Bắc (theo lời kể của BS Việt Nguyên Nguyễn Đức Tuệ, nguyên BS của BV Bình Dân, là người đã ở lại VN cho tới năm 1979 . BS Tuệ hiện ở Texas, Hoa Kỳ ).
    – Nhân tài y tế VC xuất thân dựa theo kinh nghiệm và công lao với đảng, từ từ thăng chức từ y công, lên y tá, y sĩ rồi sau một khoá chuyên tu ngắn trở thành bác sĩ để chữa cho bệnh nhân miền Nam

    – Năm 1978-1979, để cứu vãn nền Y Tế tại Miền Nam đang xuống dốc , Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng đã kêu gọi một số BS ”Nguỵ” cứu nguy như các Bs Nguyễn Chấn Hùng, Võ Thành Phụng, Trần Thành Trai, Trần Đông A, Bùi Văn Đức, Phùng Văn Đức …….

    – Ngoài ra rất nhiều BS ở Miền Nam được Pháp bảo trợ, đã được CS cho qua Pháp tu nghiệp. Gần như tất cả đã hồi hương, làm cột trụ cho Y Tế của Miền Nam.

    – Hiện nay ở VN, hệ thống Y Tế Công Tư hỗn hợp đang được nhà nước cổ võ. Tại Saigon, các BV tư như BV Hoàn Mỹ, Hopital Franco-Vietnamien … được mở cửa hoạt động để phục vụ những người có khả năng tài chính. Kể từ giữa thập niên 80, các BS được phép mở phòng mạch tư, cũng như làm việc tại các dưỡng đường tư nhưng chỉ có tại Sàigòn, Hà Nội mới có sự cởi mở này. Tại Hà Nội, BS Nguyễn Thanh Liêm, nguyên Y Sĩ Giải Phẫu Trưởng của Bệnh Viện Nhi Trung Ương, đã ra làm tại bệnh Viện tư Vimec. Đây là 1 Bệnh Viện tư với độ 500 giường. BV này hoàn toàn có vốn đầu tư từ 1 công ty ngoại quốc.

    Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã bị chỉ trích về cách điều hành nền Y Tế của cả nước VN. Bà cũng là người bị đổ trách nhiệm trong các tai nạn chết người ở các bệnh viện trong đó người ta nói tới hơn 100 trẻ em chết vì bệnh sởi trong năm 2014.

    Nói tóm lại, Y Tế VN vẫn luộm thuộm, nặng nề và kém hiệu quả. Nhà nước không đề ra được một chánh sách về Y Tế, tránh cho dân chúng cơn ác mộng khi bị đau ốm.

    7. Truyền thông – Văn hoá

    Đâu ai lạ gì tuyên truyền bịp bợm của CS vì “nói dối như vẹm”. Nhưng đảng và nhà nước vẫn trơ trẻn bất lương ngoan cố lừa gạt người dân và thế giới:

    a) Báo chí đều do đảng và nhà nước chỉ đạo, bưng bít tin tức, loan báo tin thất thiệt hay bẻ cong

    b) Đài truyền thanh truyền hình cũng chỉ là công cụ tuyên truyền hay ru ngủ dân chúng

    c) Thơ, sách, truyện, biên khảo… phải qua hội nhà văn kiểm duyệt, phải có những câu tâng bốc chế độ thì mới may ra được in và được cho đem bán, ai sai đường lối thì mất chức hay bị sa thải ngay, hoặc bị tù tội

    d) nhạc, phim ảnh cũng phải đi đúng đường lối của nhà nước

    e) nhờ máy vi tính và mạng internet mà “bức màn sắt” không hoàn toàn hiệu quả như ngày xưa

    f) và quan trọng nhất là khi chiếm được miền Nam, vì sợ nhân dân và cán bộ choáng ngợp như Dương Thu Hương, mở mắt quá sớm thì đảng và chế độ sụp đổ ngay nên phải vội vàng phát động phong trào “đốt sách”, cấm nhạc vàng … giam cầm nhà văn miền Nam

    g) và bây giờ tung rất nhiều cán bộ văn hoá ra ngoại quốc thi hành nghị quyết 36

    8) Tôn giáo

    Các tôn giáo cũng không thoát sự kềm kẹp của VC, mặc dù tự do tôn giáo được công nhận trong hiến pháp. VC cố tình phân hoá, bắt giam tu sĩ không tuân theo họ và dựng lên những thành phần “quốc doanh” để đánh lận con đen và lừa gạt dư luận thế giới. Họ tung ra hải ngoại những tu sĩ giả này, thường là công an được đào tạo, ban ngày làm tu sĩ, ban đêm hiện nguyên hình… tìm cách quyên tiền từ thiện, tuyên truyền giảm tiềm lực chống cộng của tín đồ và quan trọng nhất là làm tai mắt thâu lượm tin tức tình báo, tình hình…Họ cũng khá thành công, bằng chứng là một tu sĩ đạo bụt bị mắc hỡm, mất cả uy tín lẫn tiền bạc mà há miệng mắc quai không dám than thở tố cáo…

    9) Tư pháp

    Hiến pháp còn không được thi hành huống chi là công lý. Tư pháp chỉ là cánh tay nối dài, là công cụ của đảng.

    a) Toàn quyền bắt giam
    Muốn bắt ai thì bắt, muốn giam không xét xử bao lâu cũng được, muốn kết tội thì tha hồ ngụy tạo chứng cớ, muốn tra khảo ép tội tù nhân đến chết cũng toàn quyền.

    b) Món hàng trao đổi
    Khi bị áp lực quốc tế thì đem sự thả tù nhân chính trị để trao đổi kiếm lợi, để ra vẻ cởi mở, nhượng bộ … vd các vụ bắt-thả-bắt lại các người chống đối như bs Nguyễn Đan Quế, l.m. Nguyễn Văn Lý

    c) bản án định sẵn
    trước khi tòa xử thì đảng đã chỉ thị trước bản án, thẩm phán, bồi thẩm giả hiệu chỉ việc thi hành, công an bịt miệng bị cáo, cấm báo chí tham dự hay tường thuật

    d) công lý thui chột
    – ai chạy tiền đút lót giỏi thì án nhẹ, do đó trong nước có thành ngữ “chạy án”
    – thẩm phán, công an toàn quyền đổi trắng thay đen, tha phạt theo tiền hối lộ
    – viên chức cao cấp dù phạm tội tày trời, chứng cớ đầy đủ thì được đảng bao che, chỉ bị “kỷ luật hành chánh” một thời gian ngắn rồi lại tựu chức tiếp tục phạm tội như trước, có khi còn được thăng chức vào chính trị bộ.

    e) đồng loã với xã hội đen
    Nếu cần thì sai côn đồ, du đãng của xã hội đen dằn mặt hay tiêu diệt phi tang

    *****

    Trong giới hạn của TSYS, bài này chỉ kể rất sơ lược thành quả 40 năm cai trị của đảng cộng sản trên đất nước thân yêu. Họ tôn thờ và áp dụng một chủ thuyết ngoại lai, áp bức và lường gạt dân chúng (Đôi dép râu dẫm nát đời trai trẻ, Mũ tai bèo che khuất nẻo tương lai), chà đạp nhân quyền (Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý, Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do) đưa đất nước đến diệt vong

    Để bám víu quyền lực, CSVN đã lén lút dâng tổ quốc cho Tàu cộng để trong 5 năm nữa sẽ thành một tỉnh của Tàu (Hiệp ước Thành Đô 1990, Wikileaks). Muốn không bị Bắc thuộc lần 3 chỉ còn một cách lật đổ chế độ để tự quyết vận mạng quốc gia.

    Xin mượn 2 câu thơ của thi sĩ Ngô Minh Hằng thay lời kết:

    Đứng lên, toàn quốc, Việt Nam !
    Diệt Việt cộng, dẹp mưu toan của Tàu …

    12/7/2015
    BS Nguyễn Lương Tuyền & Thân Trọng An

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s