Toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc

Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào ngày 11/10/2011

LTS: Chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam đang được dư luận hết sức quan tâm nhất là khi 2 bên đã có những thỏa thuận liên quan tới biển Đông. Mấy tháng gần đây, tình hình biển Đông đã trở nên hết sức phức tạp, sau khi tầu tuần ngư của Trung Quốc nhiều lần cắt cáp thăm dò dầu khí của Việt Nam và làn sóng chống Tầu dâng lên mạnh mẽ trong dân chúng và trên các trang mạng.

Thỏa thuận về biển Đông ra sao, chắc chưa ‘người trần mắt thịt’ nào có thể biết được.

Dưới đây là bản Tuyên bố chung của 2 bên. Chúng tôi xin đăng nguyên văn để bạn đọc tìm hiểu, mổ xẻ.

1. Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 10 năm 2011.

Trong thời gian chuyến thăm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Ðào; lần lượt hội kiến với Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Ðại hội Ðại biểu Nhân dân Toàn quốc Ngô Bang Quốc; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Thủ tướng Quốc vụ viện Ôn Gia Bảo; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc Giả Khánh Lâm. Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Thủ tướng Quốc Vụ viện Lý Khắc Cường cũng đã tham gia các hoạt động liên quan.

Trong bầu không khí chân thành, hữu nghị, hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; đi sâu trao đổi ý kiến về việc tăng cường hơn nữa quan hệ giữa hai Đảng, hai nước trong tình hình mới, cũng như về các vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm, đạt được nhận thức chung rộng rãi. Ngoài Bắc Kinh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thăm tỉnh Quảng Đông.

Hai bên nhất trí cho rằng, chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thành công tốt đẹp, thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển ổn định, lành mạnh và đi vào chiều sâu, đồng thời có ảnh hưởng tích cực thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

2. Hai bên vui mừng trước những thành tựu mang tính lịch sử mà nhân dân hai nước, dưới sự lãnh đạo của hai Đảng Cộng sản, đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, trong đổi mới của Việt Nam và cải cách mở cửa của Trung Quốc.

Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự mở đầu thuận lợi trong thực hiện Quy hoạch 5 năm lần thứ 12 của Trung Quốc; tin tưởng vững chắc Đảng Cộng sản Trung Quốc nhất định sẽ đoàn kết chặt chẽ và dẫn dắt nhân dân Trung Quốc thực hiện thắng lợi mục tiêu vĩ đại xây dựng toàn diện xã hội khá giả và đẩy nhanh hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa.

Phía Trung Quốc chúc mừng thành công của Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và tin tưởng vững chắc rằng, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thực hiện thắng lợi những mục tiêu và nhiệm vụ mà Đại hội XI đã đề ra, xây dựng Việt Nam thành nước xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

3. Hai bên đã nhìn lại và tổng kết những thành tựu to lớn đã giành được trong quá trình phát triển quan hệ hai nước 61 năm qua kể từ khi Việt Nam và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt là 20 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ, và nhất trí cho rằng, quan hệ hai nước đã phát triển nhanh và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.

Hai bên nhấn mạnh tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau, tin cậy lẫn nhau, hợp tác với nhau là kinh nghiệm quan trọng cho quan hệ hai nước phát triển ổn định, lành mạnh; khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.

Hai bên khẳng định, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt,” từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục, sẽ tăng cường giao lưu hữu nghị giữa hai nước, mở rộng hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực, trân trọng, giữ gìn, phát triển tốt quan hệ hai Đảng, hai nước Việt-Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển một cách ổn định, lành mạnh, lâu dài.

Hai bên nhất trí cho rằng, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến sâu sắc, phức tạp, việc hai Đảng, hai nước Việt Nam-Trung Quốc tăng cường hơn nữa sự tin cậy chiến lược, hợp tác chặt chẽ toàn diện, xử lý thỏa đáng các vấn đề còn tồn tại hay mới nảy sinh giữa hai nước, là phù hợp với lợi ích căn bản và lâu dài của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, có lợi cho sự nghiệp chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, có lợi cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

4. Hai bên nhất trí áp dụng các biện pháp hữu hiệu, thiết thực để mở rộng toàn diện và đi sâu hợp tác hữu nghị trên các lĩnh vực giữa hai nước:

Một là, duy trì truyền thống tốt đẹp các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao thông qua các hình thức linh hoạt, đa dạng như thăm song phương, trao đổi qua đường dây nóng, gặp gỡ tại các diễn đàn đa phương, cử đặc phái viên…, kịp thời trao đổi ý kiến về tình hình quốc tế, khu vực và các vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương, tăng cường trao đổi chiến lược, nắm chắc phương hướng thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển lâu dài, lành mạnh, ổn định. Trong thời gian chuyến thăm, hai bên chính thức khai thông đường dây nóng giữa lãnh đạo cấp cao hai nước.

Hai là, phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc trong việc đi sâu hợp tác thực chất, thúc đẩy quan hệ song phương, tăng cường hơn nữa sự chỉ đạo và quy hoạch chính sách đối với hợp tác trong các lĩnh vực, thúc đẩy tổng thể sự hợp tác, phối hợp xử lý vấn đề phát sinh, thúc đẩy hợp tác thiết thực trên các lĩnh vực đạt thành quả phong phú hơn nữa, không ngừng làm phong phú nội hàm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện hai nước.

Ba là, thắt chặt giao lưu hợp tác giữa hai Đảng, thực hiện có hiệu quả “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2011-2015.”

Tổ chức tốt Hội thảo lý luận giữa hai Đảng, tăng cường trao đổi kinh nghiệm xây dựng Đảng, quản lý đất nước; mở rộng và đi sâu hợp tác đào tạo cán bộ Đảng, chính quyền; tổ chức các cuộc gặp gỡ cấp Trưởng Ban theo cơ chế giao lưu, hợp tác giữa hai Ban Đối ngoại và hai Ban Tuyên truyền hai Đảng vào thời điểm thích hợp.

Bốn là, đi sâu hợp tác giữa hai quân đội, tăng cường tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao quân đội hai nước; tiếp tục tổ chức tốt Đối thoại Chiến lược cấp Thứ trưởng Quốc phòng; thúc đẩy thiết lập đường dây điện thoại trực tiếp giữa hai Bộ Quốc phòng hai nước; tăng cường hợp tác đào tạo cán bộ và giao lưu sĩ quan trẻ; triển khai thí điểm tuần tra chung biên giới đất liền vào thời điểm thích hợp; tiếp tục tổ chức tuần tra chung giữa hải quân hai nước trong Vịnh Bắc Bộ; tăng cường hợp tác trong các mặt như tàu hải quân hai nước thăm nhau.

Năm là, đi sâu hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực thi hành pháp luật và an ninh; tổ chức tốt Hội nghị cấp Bộ trưởng Hợp tác phòng chống tội phạm lần thứ 3 giữa hai Bộ Công an hai nước; thúc đẩy triển khai các hoạt động chung chống xuất nhập cảnh trái phép ở khu vực biên giới; tăng cường phối hợp có hiệu quả trong các lĩnh vực phòng chống tội phạm kiểu mới như tấn công tội phạm lừa đảo viễn thông.

Tăng cường giao lưu và hợp tác giữa các cơ quan như tòa án, viện kiểm sát, công an, hành chính tư pháp; cùng phòng ngừa và tấn công các hoạt động vi phạm pháp luật, tội phạm xuyên biên giới; tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình.
Sáu là, tăng cường và mở rộng hợp tác thiết thực giữa hai nước theo các nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, chú trọng hiệu quả thực tế, bổ sung thế mạnh lẫn nhau, bằng nhiều hình thức đa dạng, cùng nhau phát triển:

– Phát huy đầy đủ vai trò của Ủy ban hợp tác kinh tế-thương mại, Ủy ban liên hợp hợp tác khoa học kỹ thuật giữa Chính phủ hai nước trong việc chỉ đạo, điều phối tổng thể, đôn đốc thực hiện hợp tác thiết thực giữa hai nước trong các lĩnh vực liên quan. Thực hiện tốt “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế-thương mại Việt Nam-Trung Quốc” vừa được ký kết trong chuyến thăm này.

– Tích cực thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng, nông lâm nghiệp, giao thông, điện lực, công nghệ thông tin, khoáng sản, năng lượng, du lịch…, tăng cường trao đổi về thúc đẩy cân bằng thương mại song phương, khuyến khích và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp của hai nước mở rộng hợp tác lâu dài cùng có lợi, xây dựng khu hợp tác kinh tế biên giới và hợp tác “hai hành lang, một vành đai”…

– Tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực như khoa học kỹ thuật, giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, văn hóa, y tế, thể thao, báo chí… Tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như bảo vệ môi trường, quản lý nguồn nước và ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện tốt “Thỏa thuận trao đổi giáo dục 2011-2015,” mở rộng số lượng lưu học sinh cử sang nhau.

– Tiếp tục tổ chức tốt các hoạt động giao lưu nhân dân, như Diễn đàn Nhân dân Việt-Trung, Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt-Trung, đẩy mạnh tuyên truyền tình hữu nghị Việt-Trung, tăng cường định hướng dư luận và quản lý báo chí, thúc đẩy tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, giữ gìn đại cục quan hệ hữu nghị hai nước, làm cho tình hữu nghị Việt-Trung được kế thừa và phát huy rạng rỡ.

– Mở rộng hơn nữa sự giao lưu, hợp tác giữa các địa phương hai nước, nhất là các tỉnh giáp biển, giáp biên giới của hai nước như Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Quảng Ninh, Điện Biên, Hà Giang, Lai Châu của Việt Nam với Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Hải Nam của Trung Quốc.

– Tiếp tục thực hiện tốt các văn kiện có liên quan đến biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc, “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ;” tích cực tìm tòi mô hình mới trong kiểm tra liên hợp khu vực đánh cá chung ở Vịnh Bắc Bộ; thúc đẩy thiết lập đường dây nóng liên lạc giữa cơ quan ngư nghiệp hai nước.

– Đẩy nhanh tiến trình đàm phán, sớm ký kết “Hiệp định tàu thuyền qua lại tự do khu vực cửa sông Bắc Luân” và “Hiệp định hợp tác khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch khu vực thác Bản Giốc,” cùng nhau duy trì ổn định và phát triển ở khu vực biên giới.

Trong thời gian chuyến thăm, hai bên đã ký “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc (2011-2015),” “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế-thương mại giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2012-2016,” “Thỏa thuận trao đổi giáo dục 2011-2015 giữa Bộ Giáo dục-Đào tạo nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa,” “Nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc về sửa đổi Hiệp định vận tải ôtô giữa Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc,” “Nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc về thực hiện Hiệp định vận tải ôtô giữa Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc,” “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”

5. Hai bên đã trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển; nhấn mạnh ý chí và quyết tâm chính trị thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị để giải quyết tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định tại Biển Đông; cho rằng điều này phù hợp với lợi ích căn bản của hai nước và nguyện vọng chung của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển tại khu vực.

Lãnh đạo hai Đảng, hai nước sẽ duy trì trao đổi và đối thoại thường xuyên về vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ tầm cao chính trị và chiến lược, kịp thời chỉ đạo xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển.
Hai bên đánh giá tích cực việc hai nước ký kết “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển;” cho rằng việc ký kết Thỏa thuận này có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng đối với việc xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, sẽ cùng nỗ lực thực hiện nghiêm chỉnh Thỏa thuận này.

Căn cứ vào nhận thức chung đã có giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển,” hai bên đẩy mạnh đàm phán vấn đề trên biển, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, đồng thời tích cực trao đổi tìm kiếm giải pháp có tính quá độ, tạm thời, không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển.

Hai bên thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển ở khu vực này. Hai bên tích cực thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên biển, thăm dò khai thác dầu khí, phòng chống thiên tai…

Trước khi giải quyết dứt điểm tranh chấp trên biển, hai bên cùng giữ gìn hòa bình, ổn định trên Biển Đông, giữ thái độ bình tĩnh và kiềm chế, không áp dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp, không để các thế lực thù địch phá hoại quan hệ hai Đảng, hai nước, xử lý các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để ảnh hưởng tới quan hệ hai Đảng, hai nước và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

6. Phía Việt Nam khẳng định thực hiện nhất quán chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức.

Việt Nam không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào với Đài Loan. Phía Trung Quốc bày tỏ hoan nghênh lập trường trên của phía Việt Nam.

7. Hai bên khẳng định tiếp tục mở rộng giao lưu và hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao hai nước, tổ chức tốt trao đổi chính trị giữa Bộ Ngoại giao hai nước, tăng cường trao đổi và hợp tác tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế như Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Á-Âu (ASEM), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), ASEAN+1, ASEAN+3, Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng…, cùng giữ gìn và thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển và phồn vinh của khu vực và thế giới.

8. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng chân thành cảm ơn Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chính phủ, nhân dân Trung Quốc về sự đón tiếp trọng thị, nhiệt tình và hữu nghị.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trân trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào sớm sang thăm lại Việt Nam. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào bày tỏ cảm ơn về lời mời.

Theo Chinhphu.vn

Advertisements
This entry was posted in Bí Mật Thâm Cung csVN. Bookmark the permalink.

6 Responses to Toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc

  1. haiz00 says:

    Tỷ phú George Soros: Kinh tế Trung Quốc sắp sụp đổ hoàn toàn

    images

    Nhà đầu cơ tiền tệ nổi tiếng George Soros cho rằng kinh tế Trung Quốc đang chờ đợi một sự sụp đổ hoàn toàn.
    Tỷ phú này cho rằng mối đe dọa chính đối với nền kinh tế thế giới không phải là sự sụp đổ của ngân sách Mỹ và các vấn đề trong khu vực Châu Âu, mà là cuộc khủng hoảng đang hiện dần ra trong lĩnh vực tài chính ở Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích không đồng ý với dự đoán này và cho rằng Soros đã quá phóng đại.

    Mô hình phát triển đảm bảo cho nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng đã ngừng hoạt động.

    Tình hình này tương tự như những gì đã xảy ra ở Mỹ vào đêm trước cuộc khủng hoảng năm 2008, theo nhà đầu tư George Soros, được toàn thế giới biết đến với tư cách là “người làm sụp đổ Ngân hàng Anh”.

    Ông Soros cho rằng bong bóng thị trường tín dụng Trung Quốc sắp vỡ và không có cải cách nào có thể cứu vãn được nữa.
    Nhà tài chính kiêm đầu cơ tiền tệ nổi tiếng George Soros. Ảnh AP
    Nhà tài chính kiêm đầu cơ tiền tệ nổi tiếng George Soros. Ảnh AP Lo ngại của tỷ phú Soros về nền kinh tế Trung Quốc không phải là không có cơ sở. Ông Alexander Orlov, chuyên gia Nga nổi tiếng, giám đốc điều hành của Arbat Capital cho biết: “Nhiều khả năng, ông Soros đã dựa trên thực tế là tổng số nợ của nền kinh tế Trung Quốc đang bắt đầu lên đến quy mô nguy hiểm”.
    Vẫn theo chuyên gia Orlov, các khoản nợ này, tập trung chủ yếu trong khu vực doanh nghiệp và đô thị, đã mấp mé ranh giới sống còn của nền kinh tế.

    Nợ doanh nghiệp đã vượt hơn 100% GDP và nợ đô thị lên đến 17.000 tỷ nhân dân tệ. Con số này hiện ít hơn mức lo ngại bi quan nhất 20.000 tỷ nhân dân tệ, nhưng nhiều hơn số 10.000 – 12.000 tỷ của một vài năm trước đây.

    Nhưng sự sụp đổ đe dọa Trung Quốc chỉ có thể xảy ra trong tương lai khá xa, và chỉ xảy ra nếu như Trung Quốc không cải thiện lĩnh vực tài chính. Vì vậy, theo ông Alexander Orlov, Soros đã phóng đại quá mức.

    “Những khoản nợ đó có thể trở thành vấn đề nghiêm trọng cho nền kinh tế Trung Quốc, nếu như bây giờ họ không có biện pháp giải quyết”, ông Orlov nói.

    Tuy nhiên, các nhà chức trách Trung Quốc đã bắt đầu hành động và tổ chức kiểm toán khẩn cấp. Và hiện giờ Trung Quốc đang cố gắng giải quyết vấn đề nợ tồn đọng.

    Đồng thời, nền kinh tế Trung Quốc có đủ nguồn lực và dự trữ vàng đủ lớn. Hiện tại kinh tế có mức tăng trưởng để có thể hy sinh 2-3% nhằm xóa bỏ sự mất cân bằng này.

    Trung Quốc sẽ không cho phép xảy ra khủng hoảng trong lĩnh vực tài chính.

    Trước hết, không giống như các nước nhỏ khác, nợ của Trung Quốc không lớn và vẫn có thể gia tăng. Thứ hai, sự hiện diện của nhà nước trong nền kinh tế với nguồn lực to lớn đang đóng một vai trò đáng kể.

    Ngoài ra, trong tháng Giêng, Trung Quốc hủy bỏ lệnh cấm các công ty tư nhân tổ chức IPO để thu hút đầu tư cho sự phát triển của mình và để không còn phải vay tiền ngân hàng.

    Chính quyền Trung Quốc đã thay đổi các quy tắc chính của luật chơi. Các khoản nợ lớn từ các thành phố và các công ty đã nổi lên do chính phủ đòi hỏi bằng mọi giá phải đạt hiệu quả tăng trưởng mong muốn.

    Ông Alexander Potavin,nhà phân tích chính của hãng “RGS- Quản lý tài sản” cho rằng nhiệm vụ chính hiện nay của Trung Quốc là đảm bảo chất lượng tăng trưởng.

    “Từ chối tăng trưởng kinh tế nhắm tới mục tiêu sẽ là giải pháp phát triển kinh tế thích hợp nhất mà bây giờ đang tiến hành tại Trung Quốc”, ông Potavin nói.

    Tất cả điều này đã thúc đẩy Đảng Cộng sản Trung Quốc công bố chương trình cải cách kinh tế mới toàn quốc hồi tháng 12/2013. Các quan chức địa phương có nhiệm vụ theo dõi chất lượng tăng trưởng kinh tế chứ không phải là định lượng như trước.

    Các dữ liệu mới nhất từ Trung Quốc rất đáng khích lệ.

    Năm ngoái, kim ngạch ngoại thương của nước này đã vượt quá 4000 tỷ USD, chỉ thiếu 8% theo mức dự đoán mà chính phủ đặt ra.

    Trong năm tới, GDP Trung Quốc sẽ tăng trưởng chậm hơn một chút, nhưng cấu trúc của nó sẽ tốt hơn, và tốc độ tăng trưởng sẽ vẫn còn đủ cao.

    Nói về dự báo Soros, các nhà phân tích cho rằng nhà đầu tư nổi tiếng đơn giản là mong muốn đưa ra tuyên bố cá cược chống Trung Quốc.

  2. haiz00 says:

    Hai nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc và sự an nguy của Việt Nam

    Vị trí của hai nhà máy điện nguyên tử Fangchenggang (Phòng Thành, Quảng Tây) và Chanjiang (Xương Giang, Hải Nam)

    Nhân duyên chúng tôi, một người học môi sinh và một người học hoá, gặp nhau trên đất Thái trong dịp thuyết trình hai đề tài liên quan đến Môi sinh và cách thức lãnh đạo bằng chánh niệm tại Đại Lễ Phật Đản Vesak 2015 – Tam Hiệp của Liên Hợp Quốc. Sau những ngày tâm sự và làm việc chung, cũng như trước những băn khoăn và ưu tư hướng về Tổ quốc. Chúng tôi quyết định viết bài ngắn này để cho người dân nhận thức được những diễn biến có thể xảy ra liên quan đến sự an nguy của đất nước. Trong năm 2015 này, có hai nhà máy điện hạt nhân của Trung Quốc đưa vào hoạt động mà có thể ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam.

    Trường hợp 1 – Cảnh báo về Nhà máy điện hạt nhân ở Quảng Tây

    Một nhà máy điện hạt nhân đang được hoàn thành ở gần thành phố Qinzhou thuộc Quảng Tây, có tên là Fangchenggang, khởi công xây dựng năm 2010 và bắt đầu hoạt động vào cuối năm nay 2015.

    image004

    Trong giai đoạn 1, nhà máy có hai lò với công xuất 2000 MW và vốn đầu tư là $3.7 tỉ USD. Còn có thêm 4 lò với công suất 4000 MW và tổng số đầu tư là $10.4 tỉ USD. Với công suất rất cao này sự thiệt hại, nếu bị rủ ro tại nạn xảy ra thì de doạ đến tính mạng và đời sống của nhiều người dân.

    Nhà máy Fangchenggang chỉ cách biên giới Việt Nam có 45 km (30 miles). Một điều đáng lo ngại nữa là nhà máy dùng công nghệ nội hóa của Trung Quốc (domestically-developed 1000 MWe CPR-1000 pressurized water reactors, theo bản tin của World Nuclear News ngày 3 tháng 8 năm 2010). Vì nhà máy sử dụng công nghệ của Trung Quốc nên xác xuất nhà máy gặp sự cố là rất cao. Vì nhà máy ở gần Việt Nam nên ảnh hưởng rất nghiêm trọng mỗi khi có sự cố. Ví dụ như sự tai hại của nuclear disaster ở Fukushima Daiichi tháng 3, 2011 và tại nạn Chernobyl disaster, 26 April 1986.

    Chúng tôi đã dùng mô hình READY/HYSPLIT của Cơ quan Khí quyển và Hải dương học (NOAA) của Hoa kỳ để khảo sát lộ trình của phóng xạ trong trường hợp nhà máy Fengchenggang gặp sự cố. Theo bản đồ dưới đây, mô hình READY cho biết phóng xạ dưới ảnh hưởng của gió mùa đông bắc sẽ quay về hướng tây-nam, dọc theo bờ biển Bắc bộ, vào đất liền theo hướng tây-bắc trước khi quay ngược về Trung quốc. Lộ trình này cho thấy không những các thành phố lớn như Hà Nội và Hải Phòng, mà toàn bộ miền Bắc Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Đây là một thảm họa to lớn mà chúng ta nên biết để đề phòng.

    Trường hợp 2 – Cảnh báo về Nhà máy điện hạt nhân ở Hải Nam

    Một nhà máy điện hạt nhân khác đang được hoàn thành ở phía Tây đảo Hải Nam. Nhà máy mang tên là Changjiang, được khởi công xây dựng năm 2010 và sẽ bắt đầu hoạt động vào năm nay 2015. Trong giai đoạn 1, nhà máy có hai lò với công suất 1300 MW và vốn đầu tư là $3 tỉ USD. Nhà máy này dự định còn có thêm 2 lò với công suất 1300 MW.

    image010

    Nhà máy Changjiang cách Hải Phòng khoảng 300 km. Giống như nhà máy Fangchenggang ở Quảng Tây, nhà máy Changjiang dùng công nghệ nội hóa của Trung quốc (domestically-developed 650 MWe CNP-600 pressurized water reactors, theo bản tin của World Nuclear News ngày 22 tháng 11 năm 2010).

    Theo khảo sát mới nhất của World Nuclear Association (tháng 2 năm 2015), công nghệ CNP ở hai nhà máy Changjiang và Fangchenggang được xem là công nghệ cũ thuộc thế hệ thứ hai (second generation technology). Các nhà máy hiện đại dùng công nghệ thuộc thế hệ thứ ba AP-1000 được đánh giá là an toàn hơn. Vì nhà máy sử dụng công nghệ lỗi thời nội địa của Trung quốc nên xác xuất tai nạn hạt nhân là rất cao. Hơn nữa, nhà máy điện hạt nhân này nằm trên bờ vịnh Bắc bộ nước ta nên ảnh hưởng sẽ rất nghiêm trọng khi có sự cố.

    Chúng tôi đã dùng mô hình READY/HYSPLIT của Cơ quan Khí quyển và Hải dương học (NOAA) của Hoa kỳ để khảo sát lộ trình của phóng xạ trong trường hợp nhà máy Changjiang gặp sự cố. Theo bản đồ dưới đây, mô hình READY cho biết phóng xạ sẽ tiến thẳng vào bờ biển Bắc bộ và Bắc Trung bộ trước khi quay ngược về Trung quốc. Lộ trình này cho thấy các thành phố lớn như Hà nội, Hải phòng, Thanh hoá và Vinh sẽ bị ảnh hưởng. Giống như nhà máy Fangchenggang, nhà máy Changjiang có thể gây thảm họa to lớn cho toàn bộ miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam mà chúng ta nên biết để đề phòng.

    Địa điểm của hai nhà máy Changjiang và Fangchenggang

    Quan ngại hơn là trong tương lai các công nghệ nội hóa của Trung quốc cũng có thể sẽ dùng ở Việt Nam, theo chiều hướng phát triển hiện tại của đất nước. Có nhiều nhà khoa học đã cực lực phản đối về ý định xây nhà máy nguyên tử hạt nhân tại Việt Nam vì sự rủi ro quá cao như động đất và lỗi kỷ thuật mà đất nước mình chưa đủ kinh nghiệm và trình độ để bảo toàn kỹ thuật.

    Hơn nữa, liệu chính phủ có thể bảo vệ thiên tai hay phòng chống khủng bố và trộm cắp chất liệu nguyên tử, cũng như chưa bảo đảm giữ vững tài liệu bảo đảm an toàn về các mặt: phòng vệ, nhân sự, hệ thống, công tác, điện toán (physical security, personnel security, vulnerability security, operations security, cyber security). Thêm vào đó vấn đề ô nhiễm môi trường, sức khoẻ hay hâm nóng khí quyển, hay sự lệ thuộc vào người anh tham lam không đẹp ở Phương Bắc. Cuối cùng đất nước nhỏ bé của chúng ta, không có đất để chứa đựng phế thải hạt nhân (chemical waste). Nhìn chung, chúng ta không có thể đoán biết trước được những thảm hoạ tai nạn hạt nhân có thể xảy ra, mà hậu quả thì khó lường.

    Nói tóm lại vì lợi ích chung của nhiều người và của nhiều thế hệ, chúng ta cần nhận thức rõ ràng về sự nguy hiểm của nguồn điện nguyên tử hạt nhân. Và phải học hỏi những cách thức chuẩn bị, đề phòng và đáp ứng cho gia đình mình, cộng đồng và đất nước mình nếu không may sự cố tại nạn có thể xảy ra. Riêng về hai nhà máy hạn nhân ở Trung Quốc nói trên, chúng ta cần phải theo dõi thường xuyên để chuẩn bị đối phó và giảm thiểu những thiệt hại về sinh mạng cũng như kinh tế cho người dân nước ta.

    27/6/2015
    Bauxite Việt Nam

    Tiến sĩ Bạch X. Phẻ
    Tiến sĩ Trần Tiễn Khanh

  3. haiz00 says:

    Mỹ có ra sao, mình mới được vào

    Áp dụng một cách tài tình và sáng tạo Phép Duy vật Biện chứng của Chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít bách chiến bách thắng vô địch muôn năm vào hoàn cảnh cụ thể nước ta, từ chỗ “Mình có ra sao, Mỹ mới cho vào Nhà Trắng”, mình cũng có có thể suy ra: Mỹ có ra sao, mình mới được vào.
    Trước hết mình phải đề cập đến một sự thật không thể chối cãi, tức là, như lời Bác Hồ dạy, “Sông có thể cạn núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bào giờ thay đổi.” Chân lý ấy ở đây là mình -Tổng Bí thư Đảng CSVN – đã được vào Nhà Trắng; nói rõ hơn, mình đã vươn lên một tầm cao mới, ít nhất cũng ngang hàng với Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, tên phản động chống phá Trung Quốc khét tiếng đến nỗi mình phải tống xuất ra khỏi nước cho khuất mắt.
    Mình được vào Nhà Trắng? Người ta có thể tin giấc mơ Mỹ đưa người lên Sao Hỏa sinh sống sẽ thành hiện thực, nhưng không ai tưởng tượng nổi chuyện mình được vào Nhà Trắng ngồi với Tổng thống Mỹ Ô-Ba-ma bên lò sưởi, dưới chân dung Ngài Oa-sinh-tơn. Mình lại cảm thấy cực kỳ thoải mái như chưa từng, đến nỗi vợ con mình xem TV thấy, liền gọi điện sang giữa đêm khuya, khen mình nói chuyện với cựu thù Mỹ cút mà tươi cười, hồ hởi phấn khởi hơn khi mình ở trong nước nói chuyện cùng đồng chí trong đảng; với đồng chí, mình đã có khi phải mếu máo trước mặt bộ sậu bá quan thiên hạ; phê bình nhưng không dám nhắc tên, chỉ gọi là “môt đồng chí ủy viên trong Bộ Chính Trị”, mà sau đó đồng chí Chủ tịch nước Tư Sâu, cũng không khá hơn mình, gọi là “Đồng chí X”.
    Mình ngạc nhiên do nhiều lẽ. Chỉ nêu lên một lẽ sau đây cũng đủ chủ nhà cấm cửa:
    Mới cách đây mấy tháng thôi, nhân dịp kỷ niệm 40 năm mình giải phóng Miền Nam, đưa cả nước xuống Chế độ Vô Sản, chế độ ưu việt bác Hồ đã có công ra đi tìm đường, tìm được và hì hục vác về, mà bọn phản động chống phá tổ quốc dám bôi bác đánh đồng với Chủ nghĩa Hiện thực Khố Rách Áo Ôm, mình đã cực lực lên án tội ác Đế quốc Mỹ mạnh mẽ hơn bao giờ, và nói lên tinh thần kiên cường, thà đốt hết dãy Trường Sơn để đánh thắng giặc Mỹ, và cuối cùng chúng đã phải cuốn cờ tháo chạy, ta hay gọi là Mỹ Cút.
    Mà đâu phải mình chỉ chửi Mỹ lần vừa rồi, mình đã biết chửi Mỹ từ hồi còn nhỏ mới quàng khăn đỏ. Có nhiều lần, do chỉ sở hữu độc nhất một cái quần, giặt chưa khô, phải để bòng thòng phần dưới, nhưng phần trên không thể thiếu khăn quàng đỏ, mình nhảy cò cò múa ca “Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa”. Không phải biết chửi rồi để đó, nhưng hễ có dịp là mình chửi Mỹ cực kỳ…, nhất là trong những ngày lễ lớn, đặc biệt là kỷ niệm Đại thắng Muà Xuân. Mặc dầu sau ngày đổi mới tư duy, bỏ đồng Rúp núp đồng Đô, hết Thủ tướng Phan Văn Khải sang Si-a-tồ (Seattle) ăn mày lòng từ thiện của Tỷ phú Biêu-ghết, đến Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đứng giữa Niu-Oóc (New York) mời mọc Tư Bản Mỹ nên sang VN làm ăn vì con gái VN đẹp, nhưng mình vẫn cứ chửi Mỹ. Lúc đất nước chưa độc lập, mình quyết trường kỳ kháng chiến, gọi theo tiếng nước Anh Hai là Trường Chinh; nay tổ quốc sạch bóng quân thù, mình quay sang quyết trường kỳ chửi địch, tức là Trường… Chửi. Trường chửi nhất định thắng.
    Tục ngữ mình có câu “Mưa lâu thấm đất”. Mặc dù Mỹ không chấp, nhưng “Mưa dầm thấm đất”, nghe mình chửi lắm nó cũng bầm gan.
    Mỹ nó tức mình bầm gan. Phải khẳng định điều đó. Nhưng nó vẫn cho mình vào nhà, nói chuyện vui vẻ và cho ăn uống đàng hoàng, lại còn hứa hẹn hợp tác hợp tình. Ở trong nước, mình bị gọi là Trọng lú, nhưng sang Mỹ mình được trọng thị. Thật là một sự đổi đời cực nhanh, nhanh gấp tỷ làn việc mình xây dựng CNXH đến hết thế kỷ này không biết đã xong chưa.
    Thật là Mỹ có ra sao, mình mới được vào. Mỹ có ra sao, chắc chắn là không phải do Ngài Tổng thống Ô-Ba-Ma chạm điện hay lúc nhỏ bị té giếng; chính Ngài Phó Tổng thống Bai- Đần cũng trọng lú, à quên, trọng thị mình; ông ấy còn chiêu đãi mình quốc yến và trong khi nâng ly mời mình, ông ấy đọc cho mình hai câu Kiều, “Trời còn để có hôm nay, Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời”. Mình rất hãnh diện vì điều này, nhưng bọn phản động thì chụp lấy thời cơ bôi bác: “Trời… vén mây” còn mình thì vén váy; ví mình như con điếm sang đây cho Ô Ba-ma chơi.
    Hay là vì Mỹ nó chơi đểu mình đây? Có thể lắm. Tại sao trong khi tiếp mình ở trong Nhà Trắng, chủ nhà vẫn mở toang cửa chính để cho mình nghe tiếng hàng ngàn Khúc ruột ngàn dặm phản đối sự hiện diện của mình, gào “Tự Do, Dân Chủ cho VN”, thậm chí mình nghe như có tiếng hô làm mình nhớ đến bác Hồ, “Đánh cho Trọng cút, đánh cho Trọng nhào”.
    Cũng không chính xác, vì Mỹ đã để cho mình thoải mái lên diễn đàn Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế (CSIS) và phản bác lại luận điệu xuy ên tạc của thế lực thù địch, bằng khẳng định rằng: Người dân VN chưa bao giờ được sống trong bầu không khí dân chủ như hiện nay. Hiến pháp VN có chương riêng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, và đang dần được luật hóa.”Đàng khác, cũng tại diễn đàn này (CSIS), mình có gửi gắm người Mỹ gốc Việt cho nhà nước Mỹ, như sau: “Tôi mong chính quyền Hoa Kỳ quan tâm, tạo đều kiện thuận lợi cho cuộc sống, công việc và học tập của người Việt Nam, tạo điều kiện để họ hội nhập tốt và đóng góp tích cực…”.
    Trước mình, cách đấy mấy năm, đồng chí Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang cũng sang đây để xin Mỹ săn sóc đời sống của người Việt ở đây. Chính nhờ sự quan tâm đặc biệt của đảng ta với hàng triệu khúc ruột ngàn dặm mà hàng trăm ngàn học sinh và thầy cô giáo công dân Mỹ gốc Việt không còn phải đu dây, chui bao ny lông để đến trường bên kia sông; hàng trăm ngàn thanh niên nam nữa người Mỹ gốc Việt có công ăn việc làm đàng hoàng, thoát được cảnh đi làm côn đồ đánh đập người ta, rãi mắm tôm trộn dầu nhớt vào nhà người ta theo lệnh bọn xấu giàu tiền xúi bậy, hoặc đi làm nô lệ tình dục ở nước ngoài… Không như những công dân Mỹ gốc các nước khác, chẳng bao giờ được chính quyền nước gốc, quan tâm như mình, nên những người Mỹ này không khá được, thua kém người Mỹ gốc Việt là vì vậy.
    Như vậy, rõ ràng chứ còn gì nữa: không phải vì có vấn đề thần kinh, hay chơi đểu mình mà Mỹ cho mình vào. Vậy thì Mỹ ra sao mà mình được vào nhỉ?
    Cái này mình phải nhờ các đồng chí Dư luận viên lên phương án điều tra nghiên kíu, tìm cho ra nguyên nhân sự cố Mỹ có ra sao, mình mới được vào.
    12.07/2015
  4. haiz00 says:

    Cái giá phải trả cho việc phản bội và bức tử một đồng minh!

     .
    Trúc Giang (Danlambao)…Cái giá mà Mỹ phải trả cho cuộc chiến Việt Nam trong quá khứ về kinh tế và sinh mạng quá đắt ai cũng có thể thấy được. Tuy nhiên cái giá mà Mỹ đang và sẽ phải trả giá dai dẳng trong tương lai chắc chắn sẽ còn đắt hơn nhiều. Đó là cái giá phải trả cho việc bỏ rơi, phản bội một đồng minh thân cận, cái giá của việc nuôi dưỡng “con quái vật” Trung cộng mấy chục năm cho nó đủ nanh vuốt và vùng dậy đang lăm le nuốt trọn cả biển Đông…
    *
    Trong những ngày qua, truyền thông trong nước và thế giới đồng loạt nóng lên đưa tin tức vể chuyến viếng thăm Mỹ của TBT đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng. Theo thông lệ bang giao quốc tế thì việc tiếp đón một nguyên thủ quốc gia là chuyện hết sức bình thường chẳng có gì phải rùm beng. Tuy nhiên, việc tổng thống Mỹ Obama phải “hạ mình” đón tiếp lãnh đạo một đảng có thành tích nhân quyền thuộc loại tệ hại nhất nhì thế giới bất chấp những lời chỉ trích gay gắt của các dân biểu từ lưỡng đảng của Mỹ, đặc biệt là dân biểu rất quan tâm đến nhân quyền Việt Nam bà Loretta Sanchez. Đáng chú ý là trong thời gian diễn ra cuộc gặp gỡ giữa ông Trọng và ông Obama, có rất nhiều người Mỹ gốc việc tập trung trước Nhà Trắng mang cờ VNCH phản đối cuộc đón tiếp này. Còn nhớ cách đây hơn một năm, ông Trọng từng bị mất mặt vì bị tổng thống Brazil hủy cuộc gặp giữa chừng mà không nói rõ lý do sau khi ông ta giảng đạo chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ chí minh ở Cu Ba trở về.
    .
    Cách nay vài tháng, khi xem cuốn phim tư liệu “Last days in Viet Nam” – bộ phim nói về những ngày cuối cùng của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam trong đó có cảnh những chiếc trực thăng trị giá gần nửa triệu đô la phải quăng xuống biển để có chỗ cho người tị nạn tháo chạy ở trên tàu. Đặc biệt có chi tiết khá mới: tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn phải đốt tiêu hủy cả triệu đô la tiền mặt vì CS tấn công quá nhanh nên các ngân hàng phải đóng cửa nên không chuyển tiền về Mỹ kịp.
    .
    Trong khi đó, đọc cuốn “Khi đồng minh tháo chạy” của TS Nguyễn Tiến Hưng thì những ngày cuối tháng 3 đầu 4/1975, Quốc hội Mỹ và chính quyền Tổng thống Gerald Ford đã mặc cả trả giá từng đồng đô la viện trợ để cứu lấy một đồng minh thân cận đang hấp hối vì thiếu cả thuốc men, đạn dược trước sự tấn công như bão táp của CS Bắc Việt có sự “bảo kê” của Liên Xô. Nên nhớ trước đó vào tháng 1 năm 1974, Mỹ đã “đi đêm” và ngó lơ để Trung cộng cưỡng chiếm Hoàng Sa của VNCH – một nước cờ hết sức sai lầm và tai hại trong quá khứ của chính quyền TT Nixon, vô tình là chiếc cầu nối tiếp tay cho Trung cộng trỗi dậy và quậy phá biển Đông ngày hôm nay. Cuối cùng thì Quốc hội Mỹ đã quyết định thỏa hiệp với CS, bỏ rơi VNCH để CS cưỡng chiếm miền Nam, phản bội lại đồng minh và hơn 50 ngàn lính Mỹ đã chiến đấu gian khổ và hy sinh mạng sống của mình vì lý tưởng chống tự do cho một miền Nam không CS. Ông Trọng nên nhớ, nếu không có sự phản bội của Mỹ thì CSVN không có cửa làm nên chiến thắng 1975 – một chiến thắng hết sức may mắn mà CS luôn rêu rao “đại thắng mùa xuân” thì chắc chắn sẽ không có cuộc gặp gỡ gây nhiều tranh cãi giữa Ông Obama và ông Trọng ngày hôm nay.
    .
    Cái giá mà Mỹ phải trả cho cuộc chiến Việt Nam trong quá khứ về kinh tế và sinh mạng quá đắt ai cũng có thể thấy được. Tuy nhiên cái giá mà Mỹ đang và sẽ phải trả giá dai dẳng trong tương lai chắc chắn sẽ còn đắt hơn nhiều. Đó là cái giá phải trả cho việc bỏ rơi, phản bội một đồng minh thân cận, cái giá của việc nuôi dưỡng “con quái vật” Trung cộng mấy chục năm cho nó đủ nanh vuốt và vùng dậy đang lăm le nuốt trọn cả biển Đông. Đây âu cũng là quả báo trong luật nhân quả của nhà Phật mà Mỹ phải gánh mang. QH Mỹ tiếc chi vài trăm triệu đô la để cứu lấy một đồng minh đang hấp hối để rồi hôm nay chính quyền Tổng thống Obama phải “xuống nước” để tiếp đón một “đối tác “ trong tư thế hết sức miễn cưỡng: không phải lả bạn cũng không phải là đồng minh!
    .
    Dẫu biết không có kẻ thù nào là mãi mãi mà lợi ích quốc gia mới là trên hết. Tuy nhiên, việc bức tử bỏ rơi “bạn thân” trong hoàn cảnh khó khăn để ngày nay phải miễn cưỡng hạ mình để giao du với một quốc gia độc tài, đối lập về ý thức hệ mà lịch sử đã chứng minh là rất khó tin tưởng vì giữa nói và làm luôn mâu thuẫn với nhau là đều hết sức cay đắng cho nước Mỹ. Còn nhớ cách đây vài tháng, thông điệp khép lại quá khứ mà “đồng chí X” đọc trong dịp lễ 30.4 là chửi Mỹ tan nát và biết ơn Trung cộng và Liên Xô trong việc ủng hộ tiền bạc, vũ khí để CS cưỡng chiến miền Nam!
    SG, 11/7/2015
  5. haiz00 says:

    Người Mỹ Tốt Bụng
    11/07/201500:00:00
    Tác giả: Vô Sắc

    Tác giả tự sơ lược tiểu sử: Tôi tên Sac Vo, sinh 5/10/1942 tại Huế, nguyên là giáo chức, động viên khoá 3/68 Thủ Đức. Cấp bậc trong quân đội Trung uý. Biệt phái về Bộ giáo dục tháng Chín 1969. Sau tháng Tư 75, đi tù 6 năm. Qua Mỹ diện HO 21, đinh cư tại thành phố Tucson từ 12/22/93 đến nay. Gia đình gồm vợ, 6 con năm gái, một trai, tất cả đã có gia đình và đều cư ngụ tại Mỹ. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên: “Những Police Mỹ mà tôi gặp”. Sau đây là bài viết thứ hai của ông.

    * * *

    Gia đình tôi sang Mỹ theo diện HO 21. Theo chương trình định cư nhân đạo của chính phủ và nhân dân Hoa kỳ dành cho những quân dân cán chính của VNCH và những nhân viên phục vụ trong quân đội cũng như các cơ quan của Mỹ, sau tháng Tư năm 1975 bị cộng sản bắt tập trung ở tù cải tạo có thời gian trên ba năm.

    Thông tin được truyền miệng từ những tù cải tạo vào năm 1989, nhiều anh em nhanh chân nạp hồ sơ, đã qua phỏng vấn và được chấp thuận, từ giã đất nước ra di theo diện HO 1 trong năm 1990. Tôi có thâm niên qua các trại cải tạo của Cộng sản 6 năm, nhưng mãi đến HO 8. Đây là đợt HO có cựu tù nhân ở Huế được lệnh gọi phỏng vấn đông nhất,150 chủ hộ, tổng số vợ, con trong gia đình ăn theo lên đến trên 5, 6 trăm người.

    Ga Huế, suốt mấy tuần vào mùa Xuân năm 1992, các chuyến tàu Thống nhất trung chuyển từ Huế vào Sài gòn đầy ắp các gia đình HO. Lượng người đi quá đông nên việc chạy vé cho kịp thời gian vô cùng vất vả, có gia đình phải chấp nhận rời Huế trước cả tháng,sân ga thì ngày nào cũng tấp nập, xôn xao.

    Thấy tình hình đầy triển vọng, gia đình tôi mới quyết định chạy muợn tiền nạp hồ sơ. Sở dĩ cứ đắn do, một phần không có tiền lo dịch vụ, một phần sợ dây chỉ là chiêu trò của Cọng sản làm mồi nhử, để đo xem còn ai chán ghét chế độ, lòng vọng về người Mỹ, để tập trung lại, bắt vào tù tiếp, tạo nỗi sợ hãi, hòng giữ vững chế độ. Bao nhiêu năm sống trong chế độ lừa lọc, gian manh, tàn bạo, dối trá, con chim một lần thoát chết vì bị bắn, khi nhìn thấy cành, nhánh cây cong còn tưởng cây cung.

    Hồ sơ nạp xong, giữa năm 1993 tôi nhận đựợc giấy gọi phỏng vấn. Thời gian này hình như chính phủ Mỹ muốn giải quyết nhanh chương trình, nên dồn dập mỗi tháng có một HO kế tiếp được gọi phỏng vấn.

    Gia đình tôi bồng bế nhau đi Sài gòn. Chúng tôi có cô con gái thứ tư đang học năm thứ hai tại trường Đại học kinh tế Đà nẵng, hộ khẩu gia đình đã gạch tên để nhập trường. (Sau thời điểm 1987 con cái sĩ quan chế độ miền Nam mới có cơ hội đươc thi đậu, trước đó đừng hòng vì theo qui chế con sĩ quan bị đi tù nằm ở diện ưu tiên thứ 13.) Cháu xin tạm nghỉ học để vào phỏng vấn; Cháu gái thứ năm phải chờ thi tốt nghiệp cấp 3 Phổ thông Trung hoc xong, sẽ vào sau.

    Hai yếu tố trong hồ sơ của tôi có thể trở ngại cho vấn đề phỏng vấn, như đã nói, cháu đang theo học tại Đà nẵng đã cắt hộ khẩu ra khỏi gia đình. Thứ hai giấy ra trại của tôi, chính quyền Cọng sản dùng mẫu in sẵn năm 1978, sửa năm phóng thích năm 1980. Vào phòng phỏng vấn mà trong lòng hồi hộp, sợ bị bắt trở về Huế xác nhận, sẽ tốn kém mà lại không biết đường đâu mà chạy

    Sáng hôm trình diện tại nơi phỏng vấn, cả gia đình tập trung ngoài phòng số 3 trên tầng lầu 2. Phỏng vấn trước tôi là gia đình của người cựu cảnh sát, kết quả phải về Huế xác nhận hộ khẩu nội trong ba ngày. Người phỏng vấn là bà trưởng phái đoàn, bà Mỹ da đen. Các anh em HO trước bảo tôi là bà này là khó lắm.

    Khi nghe gọi tên vào phòng, lòng hồi hộp, tay giữ cửa, tôi đẩy năm mẹ con vào trước. Căn phòng như sáng lên vì đàn bướm đang khoe sắc với năm chiếc áo dài năm màu, cậu con trai nối tiếp, sau cùng tôi mới khép cửa bước theo. Liếc nhìn lên đoàn phỏng vấn tôi thấy bà Mỹ da đen trưởng đoàn đang vỗ tay, mở miệng tươi cười. Chắc bà ta thấy vui mắt với 5 màu áo dài của mấy mẹ con, nghĩ vậy, tôi thấy an tâm hơn.

    Buổi phỏng vấn trôi qua thật nhanh, sau khi cả gia đình được lênh dưa tay phải lên tuyên thệ: Tất cả lời khai đều là sự thật. Bà trưởng đoàn chỉ hỏi qua loa, nhập ngũ năm nào, ở tù bao lâu… Xong bà quay qua dỡn với thằng con trai 11 tuổi.

    – Có vợ chưa ? Và cười.

    Không đợi nó thưa, bà hỏi tiếp.

    – Anh chị còn đứa con gái đầu, có muốn cho nó theo không?

    Tôi hiểu ý. Nếu xin đi có lẽ bà sẽ cho phép được bổ túc hồ sơ để đi cùng, vì cháu chồng từ năm 1989, hiện không có hồ sơ xuất cảnh. Nhưng bổ túc thì gia đình phải chờ thêm một thời gian nữa không biết bao lâu, trong lúc lại quá khó khăn về kinh tế, cần đi gấp. Hơn nữa vợ chồng cháu đang thay tôi săn sóc mẹ già trên 80. Tôi thưa:

    – Cháu đã có chồng,có con dại, đang có thai và đang thay gia đình săn sóc mẹ tôi già yếu.

    Bà không đề cập đến nữa và long trọng tuyên bố:

    – Nước Mỹ chấp nhận cho gia đình anh được định cư tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Ky.

    Lòng nhẹ nhõm, tôi cám ơn phái đoàn, cám ơn nhân dân Mỹ, đã thông cảm hoàn cảnh của anh em cựu tù nhân chúng tôi, mà ra tay cứu vớt.

    Vậy là bỏ lại quê hương, mồ mả, mẹ già và cả đứa con gái đầu, gia đình chúng tôi bước lên máy bay vào đầu tháng 12 năm 1993, ba tuần lễ trước lễ Giáng Sinh.

    Vừa đáp xuống sân bay gia đình tôi được đại diện của Hội USCC, hội thiện nguyện của Thiên Chúa giáo Hoa kỳ, đón, đưa về khu chung cư thuê sẵn. Vì gia đình tôi có đến 7 người, hội thuê cho hai căn, mỗi căn gồm hai phòng ngủ, một phòng khách, một nhà vệ sinh và một khu nhà bếp. Giá thuê mỗi căn là 250$., tiền nước chủ nhà bao, người thuê phải trả: điện, gas, điện thoại, cable TV. Hằng tháng mỗi người được trợ cấp 230$ không kéo dài quá 6 tháng. Hôm đầu tiên, bà MaMa (tên gọi của bà thiện nguyện già trên 70, có họ Mac Namara) người của hội dẫn đi chợ, mua đồ dùng trong nhà và thức ăn. Bà dặn dò mua những gì cần thiết, nên mua thức ăn bình thường, đừng lấy thức ăn sang, không đủ tiền chi tiêu trong tháng đâu.

    Ngày qua Mỹ, đứa con gái thứ hai nhưng lớn nhất trong các con cũng đã 24, cô út 18, tất cả đều qua phổ thông trung học tại Việt nam, nên muốn tiếp tục sự học phải vào colege sau khi cư trú tại tiểu bang trên một năm mới khỏi nạp tiền học phí. Khổ nhất là việc đi lại, may thời gian qua sau, nhiều gia đình người Việt đến trước tận tình giúp tập lái xe cũng như chở đi đây, đi đó.

    Được chừng 3, 4, tháng tui xin được job, lương khởi đầu 4$25 một giờ, như vậy tiền trợ cấp bắt đầu cắt bớt. Bốn cô con gái phải bươn chải kiếm tiền thêm để phụ chi tiêu trong gia đình và góp nhặt mua gấp một chiếc xe làm phương tiện đi lại chung cho mấy cha con. Các con tôi xin việc tại các nhà hàng, đứa chạy bàn đứa đứng bếp, tội nhất là cô con gái thứ ba, tốt nghiệp khoá hộ sinh chờ chỗ làm bỏ ra đi, nay tới được nước Mỹ thì phải làm công việc nặng nhọc, đêm nào về hai chân sưng húp, còn con gái út như chim non mới ra ràng dang tập vỗ cánh, cứ 5 giờ 30 sáng phải lò mò đến nhà người quen, đi xe nhờ vào hãng điện tử, xin làm công nhật.

    Đây là những ngày tháng thật gian nan, nhiều khi tôi không khỏi bị chao đảo, tinh thần có lúc suy sụp, cứ tự hỏi việc chọn đi Mỹ đúng hay sai. Nhìn các con cực nhọc quá mức, thấy tương lai mờ mịt, việc vào được đại học sao có vẻ xa vời.

    Những rồi sự quyết tâm phấn đấu vươn lên dần có kết quả. Thời mới đến, mấy cha con theo học lớp ESL mở tại hội USCC, nhưng khi đã đi làm ban ngày thì không thể tiếp tục học Các lớp này được nữa. May sao có Bà giáo Sharon Olbert, cũng là một giáo sư dạy college, biết hoàn cảnh khó khăn của các cháu và gia đình, tự nguyện ngỏ ý là bà sẽ tiếp tục hướng dẫn tiếng Anh riêng cho mấy chị em, mỗi đêm 2 giờ.

    Thấy các cháu, dù ban ngày đi làm vất vả để phụ với gia đình, ban đêm vẫn chăm chỉ trau dồi học hành, Bà Sharon rất thương nên tận tâm kèm dạy. Nhờ vậy, năm sau các cháu đều đã đủ sức ghi danh thường xuyên vào College.

    Hai ông bà John và Sharon Olbert là một gia đình Mỹ chính gốc. Không chỉ dạy tiếng Anh từ lúc đầu, mà cả hai ông bà đều tận tình giúp đỡ, dìu dắt các cháu suốt mấy năm đại học. Bốn năm sau hai cháu út tốt nghiệp đại học. Ngày các cháu ra trường, công ty ở Cali thuê mướn, hai ông bà còn lặn lội đi theo, giúp thuê nhà, mua xe.

    Hai cháu lớn phải mất thêm 4 năm. Cậu trai sau cùng thì 11 năm sau mới ra trường. Năm 2008, sau khi tôi có quốc tịch, đã lo ngay việc bảo lãnh cho cháu gái lớn ngày trước còn kẹt lại. Hiện nay, vợ chồng cháu cùng các con cũng đã tới được nước Mỹ theo diện đoàn tụ.

    Tất cả các con chúng tôi giờ đã ổn định, có công ăn việc làm đàng hoàng, có gia đình vững chãi. Sau cùng, cháu trai 11 tuổi khi được bà trưởng đoàn người da đen phỏng vấn hỏi đùa chuyện có vợ, nay đã có thể trả lời Bà là cháu đã có một gia đình hạnh phúc.

    Nước Mỹ có thể đúng là thiên đường, nhưng không phải thứ thiên đường theo kiểu bánh vẽ. Cơ hội sẵn đó, đường đi sẵn đó, nhưng tự mình phải chọn đường mà đi. phải bỏ công bỏ sức, phải đổ mồ hôi mà đi cho tới đích. Xã hội Mỹ là một xã hội công bằng, kết hợp bởi những con người nhân ái, tốt bụng như ông bà John và Sharon Olbert mà chúng tôi đã gặp.

    Thân tình giữa ông bà và gia đình chúng tôi ngày càng tốt đẹp hơn. Cả năm đứa con chúng tôi khi có vợ, có chồng, hai ông bà là thành viên tham dự sốt sắng nhất. Lẫ cưới các cháu, dù gia đình chúng tôi tổ chức ở tiểu bang nào hai ông bà cũng tìm đến góp chung niềm vui. Bây giờ dù đã về hưu, mỗi lần đi du lịch hay thăm con ở cùng tiểu bang với các cháu, hai ông bà đều tự động tìm đến thăm hỏi.

    Không cùng một chủng tộc, khác biệt về giai cấp, nhưng tấm lòng ông bà John và Sharon Olbert thật là vị tha, cao thượng, bác ái. Nước Mỹ, một hiệp chủng quốc được kết hợp bởi nhiều thành viên như vậy thì đương nhiên đất nước đó, dân tộc đó phải thật sự vĩ đại. Bởi vậy Hiệp chủng quốc Hoa kỳ lập quốc hơn 300 năm mà đã lãnh đạo thế giới trên 100 năm và chắc chắn còn tiếp tục về sau nữa. Thật khó thấy một dân tộc nào đủ tầm vóc thay thế.

    Về già, ngồi ôn lại chuyện cũ, nhớ lại năm tháng qua, chúng tôi biết ơn ông bà John và Sharon Olbert. Xin tạ ơn nước Mỹ, tạ ơn nhân dân Mỹ nói chung và ngợi ca những người Mỹ tốt bụng.

    Vô Sắc
    nguon

  6. haiz00 says:

    Những hạn chế trong quan hệ Việt – Mỹ bộc lộ qua chuyến viếng thăm của nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản

    Diplomat (10-07-2015)

    Tác giả: Shawn W. Crispin
    Người dịch: Trần Văn Minh
    11-07-2015

    blank

    ​Nguồn ảnh: Flickr/ Bộ Ngoại giao Mỹ

     Chuyến đi mới đây không quan trọng như một số người mô tả.

    Phải chăng chuyến thăm ngoại giao của ông Nguyễn Phú Trọng, lãnh đạo tối cao của Việt Nam, tới Washington, trong đó có một cuộc gặp tại Tòa Bạch Ốc với Tổng thống Barack Obama, quan trọng như đã được tường thuật? Những cái tít đã đồng loạt tung hô chuyến viếng thăm của ông Trọng, người đứng đầu đảng Cộng sản lần đẩu tiên đến Hoa Kỳ, như là một cái mốc lịch sử làm sâu sắc hơn sự hòa giải và phát triển mối quan hệ giữa hai kẻ từng là đối thủ trận địa.

    Tuy nhiên, ngoài những chi tiết ngoại giao, ông Trọng trở về Hà Nội với vài nhượng bộ quân sự quan trọng ở thời điểm nhu cầu chiến lược cấp bách, gồm sự thiếu tiến triển trong việc dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương trong nhiều thập niên qua của Washington, đặt ra cho chế độ cộng sản Việt Nam với thành tích nhân quyền kém cỏi. Obama nới lỏng lệnh cấm năm ngoái, cho phép Việt Nam tiếp cận trang thiết bị hàng hải không sát thương mà cho đến nay chỉ có tác dụng rất ít trong việc kiềm chế sự quyết đoán ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông. Các nhà phân tích dự kiến việc dỡ bỏ lệnh cấm vũ khí sát thương sẽ được làm nổi bật trong chương trình nghị sự và có thể thậm chí được công bố trong chuyến thăm cấp cao của ông Trọng.

    Thay vào đó, các thỏa thuận đạt được từ cuộc họp là làm gia tăng ‘quan hệ đối tác toàn diện’ đa phần mang tính tượng trưng được khởi xướng vào năm 2013. Theo một tuyên bố của Tòa Bạch Ốc, hai nhà lãnh đạo đã đạt được thỏa thuận cụ thể về tránh đánh thuế hai lần, hợp tác về các mối đe dọa đại dịch, an toàn hàng không và giáo dục. Họ cũng cam kết hợp tác trong nhiều vấn đề khu vực và toàn cầu, bao gồm thiên tai, nạn buôn bán động vật hoang dã và bảo vệ nguồn nước, và làm việc hướng tới hoàn tất Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương càng sớm càng tốt.

    Về mặt quân sự, hai bên đồng thuận với bản ghi nhớ mở đường hợp tác cho sự tham gia của Việt Nam trong tương lai vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc. Được hiểu là bản ghi nhớ sẽ dẫn tới những huấn luyện nhân quyền cho người lính Việt Nam. Báo The New York Times cũng tường thuật các thỏa thuận mơ hồ về “đồng sản xuất” công nghệ và thiết bị quốc phòng chưa được tiết lộ, cũng như các hoạt động hải quân chung sâu rộng hơn nữa. Tuyên bố của Tòa Bạch Ốc cho biết, hai bên đang lo ngại về diễn biến gần đây ở Biển Đông, nhưng nhận thấy sự cần thiết phải “kiềm chế những hành động gây căng thẳng” và chống lại hành động “ép buộc, đe dọa, và sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực”.

    Các thỏa thuận quốc phòng được công bố trong chuyến thăm của ông Trọng sẽ không đẩy mạnh đáng kể khả năng triển khai sức mạnh hoặc răn đe của Việt Nam trong bối cảnh các tranh chấp lãnh hải đang gia tăng với Trung Quốc. Công cuộc xây dựng đảo của Trung Quốc ở Biển Đông, nếu phát triển thành căn cứ quân sự với các phi đạo, sẽ tiêu biểu cho mối đe dọa cấp thời và rõ ràng cho vị trí chiến lược của Việt Nam. Trong một hành động khiêu khích có tính toán, Trung Quốc lại triển khai hồi cuối tháng Sáu dàn khoan dầu HD 981 tại vùng biển mà cả Bắc Kinh và Hà Nội tuyên bố chủ quyền. Một sự điều động tương tự như của giàn khoan này hồi năm ngoái đã dẫn đến các cuộc đụng độ trên biển và các cuộc bạo động chống Trung Quốc gây chết người ở Việt Nam.

    Được biết, Hà Nội ước muốn có máy bay do thám P-3 Orion do Mỹ sản xuất, máy bay vô tuyến và tàu tuần tra cao tốc được trang bị súng ống để đối phó với Trung Quốc – tất cả những thứ này vẫn còn bị cấm bán theo lệnh cấm vận vũ khí hiện nay. Một bài báo gần đây của Reuters trích dẫn “nguồn tin công nghiệp” cho biết, Việt Nam đã thảo luận với bộ phận quốc phòng của hãng Saab của Thụy Điển, Airbus của Âu Châu và Boeing của Mỹ để mua máy bay phản lực, máy bay tuần tra và máy bay vô tuyến dân sự. Ông Trọng đã chứng kiến chiếc máy bay thương mại Boeing Dreamliner 787 được giao cho Việt Nam trong chuyến thăm Washington của ông; Airbus vừa công bố kế hoạch thành lập các nhà máy sản xuất tại Việt Nam.

    Duy trì lệnh cấm vận một phần là câu trả lời cho hồ sơ nhân quyền vẫn còn tệ hại của Hà Nội. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, một nhóm vận động có trụ sở tại Mỹ, cho biết, có ít nhất 150 tù chính trị hiện đang bị giam cầm. Nhiều người trong số những nhà hoạt động bị kết án về tội chống phá nhà nước do biểu tình chống sự xâm lấn lãnh thổ của Trung Quốc hoặc các thủ thuật kinh doanh bóc lột. Obama nói với các phóng viên, ông đã thảo luận “thẳng thắn” với ông Trọng về các vấn đề nhân quyền, nhưng không có dấu hiệu của một bước đột phá. Trong nhiều năm qua, hai bên thường xuyên tham gia vào các cuộc đối thoại nhân quyền, phần nhiều là không có hiệu quả. Các quan chức Việt Nam vẫn liên tục khẳng định họ không có tù nhân lương tâm.

    Một số báo cáo mô tả sự phóng thích luật sư nhân quyền được Hoa Kỳ đào tạo, ông Lê Quốc Quân, vào cuối tháng Sáu để chiều lòng Washington, nhưng nhà hoạt động đã chịu đủ bản án 30 tháng của ông. Việc phóng thích trước thời hạn nhà hoạt động chống Trung Quốc Nguyễn Văn Hải, một blogger nổi tiếng, được biết với tên Điếu Cày, hồi tháng Mười năm ngoái, đã được một số nhà phân tích xem như một sự trao đổi đáp ứng với việc tiếp cận tàu tuần tra biển của Mỹ. Obama đã công khai kêu gọi trả tự do cho blogger độc lập này và tiếp đón ông ấy tại Tòa Bạch Ốc sau khi ông được phóng thích và sang Mỹ sống lưu vong.

    Cuộc gặp giữa hai ông Obama-Trọng cũng không làm tiến triển thêm lời kêu gọi của Mỹ để có sự tiếp cận ưu đãi đối với cảng biển nước sâu Vịnh Cam Ranh của Việt Nam. Reuters đưa tin hồi tháng Ba rằng Washington đã yêu cầu Hà Nội ngừng cho Nga sử dụng cơ sở chiến lược quan trọng sau khi máy bay ném bom của Nga đã sử dụng nó để tiếp nhiên liệu trong khi bay vòng quanh một căn cứ không quân của Mỹ trên đảo Guam. Phù hợp với chính sách “ba không”, không liên minh với nước ngoài, không cho nước ngoài đặt căn cứ hoặc không dựa vào nước này để chống nước kia, được nhiều người xem như là sự nhượng bộ Trung Quốc, Việt Nam đã từ chối yêu cầu nhiều lần của Mỹ về quyền sử dụng ưu đãi của nước ngoài đối với cơ sở này, theo tin tức.

    Với lệnh cấm vận của Mỹ vẫn nằm yên tại chỗ, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa vào đồng minh Nga thời Chiến tranh Lạnh để phòng thủ ngăn chặn. Tuần trước chuyến thăm của ông Trọng đến Washington, Hà Nội đã tiếp nhận tại Vịnh Cam Ranh tàu ngầm thứ tư do Nga chế tạo, loại Kilo tân tiến, có thể trang bị tên lửa, được thiết kế để chống tàu ngầm và chống tàu trên mặt nước. Việt Nam sẽ cho vận hành sáu chiếc tàu ngầm chạy bằng điện và dầu diesel vào cuối năm nay, trở thành nước có đội tàu tiên tiến nhất Đông Nam Á. Trong khi Việt Nam có thể mong muốn nâng cấp thiết bị từ Nga sang Mỹ, chuyến viếng thăm mang tính biểu tượng của ông Trọng làm nổi bật những trở ngại lớn, đang cản trở mối quan hệ chiến lược toàn diện.
    nguon

     

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s