Bức điện tín đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt

Lật đổ “Chế Độ” cộng sản trị trước khi chống Tàu cộng.
Vì csVN là bộ phận tiên phong bành trướng của Trung Cộng.(Hải)

BBT: Bài dưới đây cần phải đọc để có thêm dữ kiện đánh vào đầu những đứa cho rằng ngày 30 tháng 4 là ngày chiến thắng của Việt Cọng, và QLVNCH là một quân đội yếu hèn thất trận như bọn phản chiến từng tuyên truyền để hạ uy tín của VNCH, đồng thời cũng để mở mắt cho những thành phần SỢ SỰ THẬT không dám nhìn thẳng vào những kẻ chủ mưu đã xô đẩy VNCH vào hỏa ngục của Cọng Sản.

cauhinluon

Bức điện tín đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt
1. Vài nét về Ted Gunderson, chủ tài liệu liên quan đến bức điện tín
– Cựu Đặc vụ hành sự FBI và cựu Giám đốc FBI Los Angeles,
– Từng điều tra vụ Marilyn Monroe và John F. Kennedy,
– Từng phanh phui những tội các của FBI và những thế lực Do Thái đứng phía sau như Bilderberg và Illuminati,
– Từng bị tin tặc tấn công vào các máy tính cá nhân, từng bị sách nhiễu, đe dọa, bức hại và toan tính sát hại,
– Cuối cùng bị hạ độc bằng Arsenic và qua đời ngày July 31, 2011
Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh mà Đỉnh Sóng ghi ra từ YouTube liên quan cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế.

“I also received some information recently in my tours and lectures, and what have you. I did a TV show in Long Beach, California. One of the gentlemen involved in the show was in the U.S. army at one time. He told me that in the spring of 1973 we had bombed all the North Vietnamese supply lines, we had mined their harbors, they were cut off; and one of his associates was in the communication room in Saigon, and this is, of course, a classified job. And when he was in this room he received this message from the North Vietnamese, “We surrender unconditionally.” He passed it on to his superiors; and all army personnel were immediately ushered out and replaced by state department personnel. It’s shortly thereafter that Kissinger met with the north Vietnamese officials in Paris, France. Why do these things happen?”

(Tôi cũng đã nhận được một số thông tin gần đây trong những chuyến đi và thuyết trình, v.v.. của tôi. Tôi đã thực hiện một chương trình truyền hình ở Long Beach, California. Một trong những người liên quan trong chương tình có thời đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Ông ta nói với tôi rằng chúng ta đã dội bom tất cả những đường tiếp tế của cộng sản Bắc Việt, chúng ta đã gài mìn những bến cảng của họ, chúng đã bị cắt đứt; và một trong những cộng sự viên của ông lúc bấy giờ đang làm việc tại trung tâm truyền tin ở Sài gòn, và đương nhiên đó là một công tác tối mật. Khi đang ở trong phòng, ông ta nhận được điện tín nầy của Bắc Việt, “Chúng tôi đầu hàng vô điều kiện.” Ông ta chuyển điện tín đó lên cho thượng cấp; và tất cả nhân viên quân sự lập tức bị thuyên chuyển hết và được thay thế bởi nhân viên của Bộ Ngoại Giao. Chẳng bao lâu sau Kissinger đã họp với các viên chức Bắc Việt ở Paris. Tại sao lại xảy ra những chuyện như thế?)
2. Sự thật về Chiến Tranh VN : Đánh nhưng không được thắng – Bruce Herschensohn, Prager University
Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh do Đỉnh Sóng chép ra từ YouTube cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế:

“Decades back, in late 1972, South Vietnam and the United States were winning the Vietnam War decisively by every conceivable measure. That’s not just my view. That was the view of our enemy, the North Vietnamese government officials. Victory was apparent when President Nixon ordered the U.S. Air Force to bomb industrial and military targets in Hanoi, North Viet Nam’s capital city, and in Haiphong, its major port city, and we would stop the bombing if the North Vietnamese would attend the Paris Peace Talks that they had left earlier. The North Vietnamese did go back to the Paris Peace talks, and we did stop the bombing as promised.

On January the 23rd, 1973, President Nixon gave a speech to the nation on primetime television announcing that the Paris Peace Accords had been initialed by the United States, South Vietnam, North Vietnam, the Viet Cong, and the Accords would be signed on the 27th. What the United States and South Vietnam received in those accords was victory. At the White House, it was called “VV Day,” “Victory in Vietnam Day.” The U.S. backed up that victory with a simple pledge within the Paris Peace Accords saying: should the South require any military hardware to defend itself against any North Vietnam aggression we would provide replacement aid to the South on a piece-by-piece, one-to-one replacement, meaning a bullet for a bullet; a helicopter for a helicopter, for all things lost – replacement. The advance of communist tyranny had been halted by those accords.
Then it all came apart. And It happened this way: In August of the following year, 1974, President Nixon resigned his office as a result of what became known as “Watergate.” Three months after his resignation came the November congressional elections and within them the Democrats won a landslide victory for the new Congress and many of the members used their new majority to de-fund the military aid the U.S. had promised, piece for piece, breaking the commitment that we made to the South Vietnamese in Paris to provide whatever military hardware the South Vietnamese needed in case of aggression from the North. Put simply and accurately, a majority of Democrats of the 94th Congress did not keep the word of the United States.
On April the 10th of 1975, President Gerald Ford appealed directly to those members of the congress in an evening Joint Session, televised to the nation. In that speech he literally begged the Congress to keep the word of the United States. But as President Ford delivered his speech, many of the members of the Congress walked out of the chamber. Many of them had an investment in America’s failure in Vietnam. They had participated in demonstrations against the war for many years. They wouldn’t give the aid.
On April the 30th South Vietnam surrendered and Re-education Camps were constructed, and the phenomenon of the Boat People began. If the South Vietnamese had received the arms that the United States promised them would the result have been different? It already had been different. The North Vietnamese leaders admitted that they were testing the new President, Gerald Ford, and they took one village after another, then cities, then provinces and our only response was to go back on our word. The U.S. did not re-supply the South Vietnamese as we had promised. It was then that the North Vietnamese knew they were on the road to South Vietnam’s capital city, Saigon, that would soon be renamed Ho Chi Minh City.
Former Arkansas Senator William Fulbright, who had been the Chairman of the Senate Foreign Relations Committee made a public statement about the surrender of South Vietnam. He said this, “I am no more distressed than I would be about Arkansas losing a football game to Texas.” The U.S. knew that North Vietnam would violate the accords and so we planned for it. What we did not know was that our own Congress would violate the accords. And violate them, of all things, on behalf of the North Vietnamese. That’s what happened.
I’m Bruce Herschensohn.”
Phần chuyển ngữ: Sự thật về Chiến Tranh VN
Nhìn lại những thập niên trước, vào cuối năm 1972, Miền Nam VN và Hoa Kỳ rõ ràng đang thắng Chiến Tranh VN, hiển nhiên là thế. Đó không chỉ là quan điểm của riêng tôi. Đó là quan điểm của kẻ thù của chúng ta, những viên chức của chính phủ Bắc Việt. Chiến thắng rõ ràng khi Tổng Thống Nixon ra lệnh cho không lực Hoa Kỳ dội bom những mục tiêu kỹ nghệ và quân sự ở Hà Nội, thủ đô Bắc Việt và ở Hải Phòng, hải cảng chính của họ, và chúng ta sẽ ngưng dội bom nếu Bắc Việt tham dự Hội Đàm Paris mà họ đã rời trước đó. Bắc Việt không trở lại bàn hội nghị, và chúng ta không ngưng dội bom như đã hứa.
Vào ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Tổng Thống Nixon đọc một bài diễn văn toàn quốc trên truyền hình vào giờ cao điểm, cho biết Hội Đàm Paris đã được ký tắt bởi Hoa Kỳ, Nam VN, Bắc Việt, Việt Cộng, và Hiệp Định sẽ được chính thức ký vào ngày 27. Những gì mà Hoa Kỳ và Nam VN nhận được trong hiệp định đó là một thắng lợi. Tại Tòa Bạch Ốc, người ta đã gọi đó là ngày “VV Day – Victory in Vietnam Day.”
Hoa Kỳ đã hậu thuẫn chiến thắng đó với một bảo đảm đơn giản bên trong Hiệp Định Paris, theo đó: nếu Miền Nam yêu cầu chiến cụ để tự vệ chống lại bất kỳ cuộc xâm lăng nào của Bắc Việt thì chúng tôi sẽ cung cấp viện trợ thay thế (replacement aid) cho Miền Nam trên căn bản từng cái một và một đổi một (piece-by-piece, one-to-one replacement), nghĩa là, một viên đạn đổi một viên đạn, một trực thăng đổi một trực thăng, đối với tất cả những thứ bị mất. Bước tiến của chế độ độc tài cộng sản đã bị chặn đứng bởi hiệp định đó.
Thế rồi tất cả đều tan vỡ. Và sự thể như thế nầy: Vào tháng Tám của năm tiếp theo, 1974, Tổng Thống Nixon từ chức do hậu quả của vụ Watergate. Ba tháng sau khi ông từ chức là những cuộc bầu cử quốc hội tháng mười một và trong đó những thành viên của Đảng Dân Chủ thắng lợi vẻ vang trong Quốc Hội mới và nhiều thành viên đã lợi dụng đa số mới của họ để chấm dứt tài trợ cho chương trình viện trợ quân sự mà Hoa Kỳ đã hứa, một đổi một, bội ước lời cam kết của chúng ta đối với Miền Nam VN ở Paris là sẽ cung cấp bất kỳ chiến cụ nào mà Miền nam cần trong trường hợp bị Bắc Việt xâm lăng. Nói một cách đơn giản và chính xác, đa số những đảng viên Đảng Dân Chủ của Quốc Hội khóa 94 không giữ lời hứa của Hoa Kỳ.
Vào ngày 10 tháng Tư, 1975, Tổng Thống Gerald Ford đã trực tiếp nói chuyện với những thành viên Quốc Hội đó trong một buổi họp hỗn hợp buổi tối, được truyền hình trên toàn quốc. Trong bài diễn văn đó, ông tha thiết kêu gọi Quốc Hội hãy giữ lời hứa của Hoa Kỳ. Nhưng trong khi Tổng Thống Ford đọc diễn văn, nhiều thành viên Quốc Hội bước ra khỏi phòng họp. Nhiều người trong số họ đã đầu tư vào sự thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Họ đã tham gia các cuộc biểu tình phản chiến trong nhiều năm. Họ sẽ không cho viện trợ. Vào ngày 30 tháng Tư, Miền Nam đã đầu hàng và những trại cải tạo được dựng lên, và hiện tượng người vượt biển bắt đầu. Nếu Miền Nam nhận được vũ khí mà Hoa Kỳ đã hứa với họ thì kết quả đã khác đi? Sự khác biệt đó đã được chứng minh. Giới lãnh đạo Bắc Việt đã thú nhận rằng lúc bấy giờ họ đang trắc nghiệm Tổng Thống mới Gerald Ford, và họ đã chiếm từ làng nầy đến làng khác, rồi đến những thành phố, tỉnh lỵ; và phản ứng duy nhất của chúng ta là bội ước. Hoa Kỳ không tái viện trợ Miền Nam như chúng ta đã hứa. Chính lúc đó Bắc Việt nhận thức được rằng họ đang trên đường tiến đến Saigon, thủ đô của Miền Nam, sau đó được đổi tên thành TP Hồ Chí Minh.
Cựu TNS William Fulbright, nguyên Chủ Tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thương Viện, đã đưa ra một công bố chính thức về sự đầu hàng của Miền Nam. Ông nói, “I am no more distressed than I would be about Arkansas losing a football game to Texas.”
(Tôi không thấy đau khổ gì mấy, chẳng khác nào khi thấy Arkansas thua Texas một trận đá bóng.)
Hoa Kỳ biết rằng Bắc Việt sẽ vi phạm hiệp định Paris và chúng ta đã chuẩn bị cho chuyện đó. Điều mà chúng ta không biết là chính Quốc Hội của chúng ta sẽ vi phạm hiệp định đó. Và vi phạm, về mọi mặt, thay cho Bắc Việt. Đó là những gì đã xảy ra. Tôi là Bruce Herschensohn.
** Sau khi Saigon thất thủ, hơn một triệu người Miền nam bị đưa vào các trại cải tạo ở miền quê. 250 ngàn người đã chết ở đó, do bị hành quyết không xét xử, tra tấn, bệnh tật, và suy dinh dưỡng. Giữa năm 1975 và 1995, hai triệu người Việt đã trốn chạy khỏi nước, vượt Biển Đông bằng những chiếc thuyền thiếu trang bị để đi tìm tự do. Ước tính có khoảng 200 ngàn người vượt biển nầy đã chết – do bị chết chìm và bị hải tặc giết. Ngày nay Việt Nam vẫn có một chính phủ cộng sản, nhưng họ đã bỏ hết những lý thuyết kinh tế cộng sản, những lý thuyết mà họ đã hy sinh bao nhiêu sinh mạng của đồng bào của họ để theo đuổi.
3. Nhận định bên lề
Trong khi hơn 96% hệ thống truyền thông nằm trong tay Tập đoàn Do Thái quốc tế và Mỹ Cộng thì công việc truy tìm thông tin, tài liệu, nhận định, và phán xét trung thực về Chiến Tranh VN chẳng khác nào mò kim đáy biển, vì hầu hết các hảng thông tấn, các trang mạng, đài truyền thanh truyền hình, những tờ báo hàng đầu đều nói một thứ tiếng của Do Thái được chuyển ngữ sang tiếng Anh, cùng phục vụ một chủ nghĩa độc tài mềm, cùng bị kiểm soát bởi một chính sách ngân hàng trị và Do Thái trị, cùng gián tiếp hay trực tiếp cỗ xúy một loại trật tự được mệnh danh New World Order hayOne-government World – thực chất là một loại thế giới đại đồng hoang tưởng do tập đoàn Do Thái thống trị. Hiện cảnh đen tối của một chính quyền Mỹ thân cộng Do Thái trị ngày nay là nhìn đâu cũng thấy Do Thái và sờ đâu cũng chạm phải bàn tay lông lá của Do Thái từ CIA, FBI, truyền thông, Internet, đại học, Hollywood đến hành pháp, tư pháp, lập pháp, v.v…; và đâu có Do Thái ở đó có Mỹ Cộng. Những kẻ đi tìm sự thực như Ted Gunderson luôn bị chúng khủng bố và truy sát bằng mọi cách; những kẻ khác thì co đầu rụt cổ vì sợ bị ghép tội bài Do Thái, cùng lắm chỉ vòng vo đập quanh bụi rậm. Hậu quả là Do Thái và Mỹ cộng xem phần còn lại của thế giới như một bầy trẻ con, ngây thơ về chính trị và nhút nhát như bầy gấu trúc. Hầu hết các bài viết, nhất là những bài của những tay viết blog cho VOA, BBC, RFA, RFI, v.v…, đều viết theo đơn đặt hàng của Do Thái, Mỹ Cộng, và Việt Cộng, dưới môt hình thức nào đó và theo một kênh tuyên vận nào đó. Chín mươi phần trăm của những bài viết nầy là vỏ bọc đường nghe rất bùi tai và nhìn rất mát mắt, nhưng chỉ để phục vụ 10 phần trăm còn lại dùng chứa thuốc độc nhằm đánh bóng Mỹ Cộng hay Việt Cộng hay cả hai.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào toàn cục vấn đề và căn cứ trên những tài liệu, dù là hiếm hoi, được chính phủ Hoa Kỳ bạch hóa về những cuộc đi đêm mà Washington đã tiến hành với Bắc Kinh nhằm bán đứng Miền Nam hay thậm chí cả Việt Nam cho Trung Quốc dưới sức ép và đồng lõa của tập đoàn Do Thái và cộng sản quốc tế để đổi lấy quan hệ ngoại giao và thương mại với Trung Quốc, về chủ trương đánh Cộng Sản nhưng không được thắng, v.v… thì bức điện tín đầu hàng vô điều kiện nói trên không hẳn là bịa đặt. Nhưng tại sao Bắc Việt đầu hàng mà Mỹ vẫn tiếp tục đánh? Theo thiển ý của chúng tôi, đầu hàng với Mỹ không thành vấn đề; đầu hàng với Trung Quốc mới là mục tiêu tối hậu của cả Mỹ lẫn Tàu. Ở điểm nầy, vì muốn có được những quyền lợi với Trung Cộng, Mỹ ra sức phục vụ quyền lợi của Bắc Kinh trước đã, nghĩa là giúp Bắc kinh thôn tính Việt Nam thông qua Đảng Cộng Sản VN và trên xương máu dân tộc VN ở cả hai miền. Cũng ở điểm nầy người ta mới thấy Chiến Tranh VN là cơ hội bằng vàng để đế quốc Tàu tiếp tục giấc mộng thôn tính Việt Nam sau hơn ngàn năm không thực hiện được. Cả Mỹ lẫn Tàu đã đạt được mục tiêu chung sau những cuộc không tập B52 kéo dài; và sau đó, vì muốn bảo vệ đảng, Bắc Việt đã quỳ gối đầu hàng Bắc Kinh và ký những mật ước nhượng đất nhượng biển và nhượng cả chủ quyền cho Trung Cộng. Việc Mỹ làm ngơ cho Trung Cộng chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam có lẽ cũng nằm trong khuôn khổ những mật ước như thế nhưng đã có trước khi chiến tranh chấm dứt. Như thế kẻ thắng chiến tranh VN là Trung Cộng chứ không phải Bắc Việt; Bắc Việt chỉ là một thây ma được Mỹ, Tàu, Do Thái vớt lên từ địa ngục để thi hành sứ mạng Thái Thú cho Thiên Triều.

Những người sinh ra và lớn lên trong hệ thống tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ của cộng sản và ngay cả những người cộng sản được xem là “mở mắt” như Bùi Tín, Phạm Chí Dũng, Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Dương Thu Hương, chẳng hạn, có lẽ không bao giờ chấp nhận sự thực đó, vì, đối với những người nầy, làm thế chẳng khác nào chối bỏ “ảo ảnh đời mình,” chối bỏ một huyền thoại giúp họ tiếp tục ngẩng mặt lên tiếng với đời. Những đám người nầy có thể “trái dạ” với đảng cộng sản nhưng dứt khoát không tự phản bội chính mình. Nếu không có huyền thoại đó thì cách nay bốn mươi năm họ chỉ là nhưng kẻ mù quáng đi trong doàn quân ma được Mỹ, Tàu và Do Thái tha chết và vớt xác lên từ địa ngục đồng thời trao cho chiếc bánh vẻ “đại thắng mùa xuân” để sau đó đạo quân ma nầy tràn vào Miền Nam cướp của giết người. Nếu không tin các ông các bà cứ hỏi Trần Đăng Thanh, một đại tá VC thuộc Học Viện Quốc Phòng của chế độ Hà Nội thì biết ngay. Cũng có thể các ông các bà đều biết sự thực nhưng không dám công khai thú nhận; các ông các bà vờ mở mắt nhưng chỉ mở một mắt để khỏi thẹn với lương tâm và tiếp tục đi trong mộng du. Ngày nay các ông các bà được giải quyết sang Mỹ chẳng khác nào lá rơi về cội, gặp lại ân nhân ngày trước, thế thôi. Một số người cộng sản vẫn thường bóng gió so sánh cộng sản VN với giới lãnh đạo Tây Đức, Bỉ, với Bắc Quân Hoa Kỳ trong cuộc Nội Chiến, thậm chí với cả chính quyền Hoa Kỳ trong Đệ Nhi Thế Chiến đã thắng Nhật. Làm như thế là hiếp dâm lịch sử vì cố tình đặt một thây ma được vớt lên từ địa ngục ngang hàng với những kẻ chiến thắng đích thực, đặt đạo quân đồ tể ngang hàng với loài người có lương tri, liêm sỉ, và trí tuệ, đặt một đám gia nô thái thú ngang hàng với những con người thực sự làm chủ đời mình và giúp dân tộc làm chủ vận mệnh của đất nước. Hãy nhìn kỹ những gì đám đồ tể đã làm trong suốt bốn mươi năm qua trên đất nước Việt Nam để đặt tên đám thái thú thời đại nầy cho đúng. .

Đỉnh Sóng
Nguồn: Đỉnh Sóng

nguon

Đọc thêm : CIA giữ bí mật lệnh đầu hàng của cộng sản Bắc Việt 1973

Advertisements
This entry was posted in 30.4.1975 - Hận Thù, Hồ Chí Minh. Bookmark the permalink.

One Response to Bức điện tín đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt

  1. haiz00 says:

    Anh Chọn Ai?
    Còn Chế Độ CS, Còn Nguy Cơ Đô Hộ Ngoại Bang

    Đỗ Văn Phúc

    Nếu Trung Cộng đánh với Việt Cộng, thì anh sẽ ủng hộ bên nào?

    Đó là một câu hỏi mà chúng tôi thường phải cố gắng né tránh mỗi lần bị bạn bè vặn hỏi trong mấy tuần lễ vừa qua, sau khi sự việc Trung Cộng đưa dàn khoan HD vào sâu trong hải phận Việt Nam có thể làm bùng nổ một cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á.
    Sở dĩ phải né tránh, vì đây là một vấn đề rất tế nhị mà bất cứ câu trả lời nào cũng có thể dẫn đến sự hiểu lầm và làm mình bị đả kích bởi chính những chiến hữu của mình do cách nhìn khác nhau trong vấn đề chính trị.
    Ủng hộ Trung Cộng ư? Đó là điều không một người Việt Nam yêu nước nào nghĩ tới. Trung Hoa, từ hàng ngàn năm nay vẫn là một thế lực đe doạ nền độc lập không những của Việt Nam, mà còn của nhiều nước lân bang trong vùng Á Châu. Bàn tay của nó ngày nay còn vói xa tới tận Châu Mỹ Latin và Châu Phi. Chỉ có Hồ Chí Minh và bè lũ Cộng Sản bị đầu độc bởi cái gọi là “tinh thần quốc tế vô sản” mới coi Trung Cộng là thầy, là bạn. Họ đã quỳ mọp dâng biển đảo quê hương để nhận viện trợ quân sự dồi dào nhằm nuốt gọn Miền Nam trù phú, xây dựng nên nền chuyên chính hà khắc đàn áp nhân dân, vơ vét cho đầy túi tham của họ.
    Người Việt Nam yêu nước chắc chắn phải coi Trung Cộng là kẻ thù truyền kiếp.

    Vậy muốn thắng Trung Cộng thì phải ủng hộ Việt Cộng không?
    Cuộc chiến mà chúng ta tưởng phải xảy ra sau những biến cố bạo động ở Việt Nam sẽ chẳng bao giờ có, khi cả tập đoàn cai trị Cộng Sản Việt Nam vẫn khư khư giữ một thái độ hèn yếu, khuất phục trước bọn Tàu Cộng. Trong khi hàng ngàn dân xuống đường biểu tình phản đối bọn côn đồ Trung Cộng, thì những lãnh tụ cao cấp của CSVN vẫn giữ thái độ im lặng. Thậm chí còn phát ra những lời tuyên bố khiếp nhược, vẫn coi trọng cái gọi là tình hữu nghị giữa hai đảng, hai nước. Đánh nhau đến chết người, đắm thuyền mà tên Bộ Trưởng Quốc Phòng VC Phùng Quang Thanh coi là chuyện xích mích nhỏ giữa anh em trong nhà!

    Từ hàng chục năm sau cuộc chiến, Việt Nam Cộng Sản vẫn chưa tìm cho mình một thế đứng độc lập, chưa tìm cho mình những bạn đồng minh đáng tin cậy. Khư khư bảo thủ cái học thuyết Cộng Sản đã bị thế giới chôn vùi từ sau sự sụp đổ của Liên Bang Nga Sô Viết, đám lãnh đạo ngu dốt và ngoan cố của Việt Nam đã bám vào một kẻ thù truyền kiếp để sống còn, mà từ chối những bàn tay thân hữu do Hoa Kỳ và các nước dân chủ chìa ra cho họ. Họ chỉ biết muối mặt nhận tiền viện trợ, đầu tư; mà không dám thay đổi cách nhìn để kết bạn với thế giới tự do. Khi biến cố 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra, CSVN đã reo hò vui mừng trước tai biến đau thương của Hoa Kỳ gây ra bởi bọn khủng bố Hồi Giáo. Khi Tàu Cộng đem chiến thuyền quấy nhiễu biển Philippines, VNCS đã im lặng một cách đồng loã. Thì nay khi cần đến, làm sao cả hiệp hội ASEAN có thể lên tiếng bênh vực VN cho dù Nguyễn Tấn Dũng có lên tiếng kêu gọi? Có thể nói, nếu chiến tranh xảy ra bây giờ, VNCS sẽ đơn độc, chẳng có đồng minh nào hỗ trợ, dù Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, thậm chí Ấn Độ cùng chia sẻ chung kẻ thù Trung Cộng.

    Nhưng cứ đặt giả thuyết là sẽ có cuộc chiến tranh Việt-Hoa, thì câu trả lời cũng không khó mấy nếu chúng ta minh định đúng đắn lập trường Quốc Gia chống Cộng Sản và các chế độ độc tài.
    Là người Việt Nam, chúng ta coi Trung Cộng là kẻ thù cố hữu, là ngoại xâm.
    Là người Quốc Gia, chúng ta coi chế độ CS là kẻ nội thù không đội trời chung.
    Cả hai kẻ thù đều phải chống, phải tiêu diệt. Tuy nhiên, khi đối phó với chúng, chúng ta cần biết kẻ nào khó chống hơn.

    Đối phó với Trung Cộng, chúng ta có một toàn lực người dân Việt Nam trong và ngoài nước với truyền thống chống ngoại xâm hun đúc từ hàng ngàn năm. Nếu Trung Cộng thắng và chiếm Việt Nam, thì tinh thần yêu nước quật cường sẽ lên cao độ, đất nước sẽ sản sinh ra một Hưng Đạo, một Quang Trung, Lê Lợi để lãnh đạo cuộc kháng chiến thành công. Quân Tàu khó yên ổn trong một đất nước lạ, bao quanh bởi kẻ thù, phong thổ khí hậu khắc nghiệt, và bên ngoài còn cả cộng đồng thế giới sẵn sàng yểm trợ chúng ta.

    Trong trưòng hợp CSVN đánh và thắng, dân tộc Việt Nam lại tiếp tục đắm chìm trong chế độ cai trị tàn khốc. Bọn CSVN lại thêm một lần huyênh hoang khoe công trạng “dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng…” “dưới lá cờ (đỏ sao vàng) bách chiến bách thắng…”; và sẽ có không ít những người u mê sẵn sàng vinh danh cái chiến công này như lời của Cù Huy Hà Vũ từng ca tụng chiến thắng 30-4: “…Quả thực, theo quan điểm của tôi, nếu không có chiến thắng Điện Biên Phủ thì sẽ không có miền Bắc hoàn toàn giải phóng để làm hậu phương lớn – nhân tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc…” Chứng đó, việc đấu tranh để triệt hạ chế độ CS càng khó khăn gấp bội. Và quốc tế cũng sẽ khó tìm ra lý do để yểm trợ các phong trào dân chủ Việt Nam.

    Do đó, nếu phải lựa chọn một trong hai điều xấu trên, chúng tôi sẽ chọn điều không phải ít xấu hơn, mà là điều xấu mà chúng ta có nhiều cơ hội để thoát khỏi nó dễ hơn. Thà để Trung Cộng thắng, diệt bớt bọn CSVN hung ác, rồi sẽ mưu đồ kháng chiến để giải thoát quê hương khỏi nạn đô hộ.
    Chúng ta không sợ mắc tội ủng hộ ngoại xâm, vì chính bọn CSVN đã là tội đồ của dân tộc khi dâng đất, dâng biển và chịu thần phục trước bọn Tàu từ gần thế kỷ qua. Người Việt Quốc Gia đã từng chiến đấu hy sinh trên biển Đông năm 1974, đã từ bao năm nay vẫn tiếp tục lên án, phản đối Tàu Cộng khi có những sự kiện xảy ra từ vụ mất đất biên giới Việt Hoa, vụ Bauxit Tây Nguyên cho đến các vụ uy hiếp của Tàu trên biển đông.

    Vậy, câu trả lời dứt khoát là: Không giúp Tàu Cộng, không giúp Việt Cộng. Phải triệt hạ chế độ CSVN trước để cùng huy động toàn lực vừa bảo vệ giang sơn, vừa vãn hồi tự do dân chủ cho đồng bào.

    Tháng 6, 2014
    Đỗ Văn Phúc

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s