Giá trị của Việt Nam Cộng Hòa

VNCH02-danlambao

Trần Trung Đạo (Danlambao) – ...Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Sau 40 năm, VNCH như một mạch nước chảy ngầm trong rặng núi, đau đớn, vất vả, khó khăn nhưng không bao giờ ngừng chảy. Nếu ai cho tôi khoác lác hãy gác qua bên mặc cảm Bắc Nam, định kiến xã hội, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hòa trên trang đầu của Hiến pháp VNCH mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung thôi, tôi tin người đọc dù Nam hay Bắc, dù trong hay ngoài nước, sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến…
*

Trong suốt 60 năm từ 1954, bộ máy tuyên truyền của đảng đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. Suốt 60 năm qua, VNCH là hiện thân của thứ tội ác. Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ đều được dạy để biết VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.
Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas 8 năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc.
Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Chẳng những có mà còn vô cùng trầm trọng.
Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có, không chỉ đàn áp một lần mà nhiều lần, không chỉ một năm mà nhiều năm.
Miền Nam trước 1975 có sống bám vào viện trợ Mỹ không? Có, không chỉ 300 triệu dollars “viện trợ đặc biệt” như nhiều người hay nhắc mà nhiều tỉ đô la.
Vâng, tất cả điều đó đều có. Chế độ cộng hòa tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hòa hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi. Miền Nam có tất cả sắc thái của một xã hội dân chủ đang từng bước đi lên. Dân chủ không phải là lô độc đắc giúp một người trở nên giàu sang trong một sớm một chiều mà là quá trình tích lũy vốn liếng từ những chắt chiu của mẹ, tần tảo của cha, thăng trầm và thử thách của cả dân tộc.
Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ, Nam Hàn cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay. VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân.
Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.” 
Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: ”Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.
Phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền. Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Sau 40 năm, VNCH như một mạch nước chảy ngầm trong rặng núi, đau đớn, vất vả, khó khăn nhưng không bao giờ ngừng chảy. Nếu ai cho tôi khoác lác hãy gác qua bên mặc cảm Bắc Nam, định kiến xã hội, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hòa trên trang đầu của Hiến pháp VNCH mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung thôi, tôi tin người đọc dù Nam hay Bắc, dù trong hay ngoài nước, sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến. Công nhận các giá trị được đề ra trong hiến pháp VNCH không có nghĩa là đầu hàng, chiêu hồi. Không. Không ai có quyền chiêu hồi ai hay kêu gọi ai đầu hàng. Đây là cuộc chiến mới, cuộc chiến giữa dân tộc và phản dân tộc, giữa cộng hòa và cộng sản, giữa tự do và độc tài, giữa nhân bản và toàn trị. Mỗi người Việt sẽ chọn một chỗ đứng cho chính mình phù hợp với quyền lợi bản thân, gia đình, con cháu và sự sống còn của dân tộc.
Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi 1954 mà đã có từ hàng trăm năm trước.
Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hòa sau này. Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt của nhiều người. Đó không phải là tài sản của riêng miền Nam mà của tất cả những người Việt cùng ôm ấp một ước mơ dân chủ. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, tháo gỡ lớp màn “căm thù Mỹ Ngụy” ra khỏi nhận thức, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Không cần phải tìm giải pháp từ Miến Điện, Nam Phi, Ai Cập, Libya hay tìm chân lý ở Anh, ở Mỹ mà ngay ở đây, giữa lòng đất nước Việt Nam.
Phục hưng VNCH không có nghĩa là phủ nhận công lao của những người đã hy sinh trong chiến tranh chống thực dân Pháp. Như kẻ viết bài này đã nhấn mạnh nhiều lần, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Đó là cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất anh hùng của một dân tộc bị nô lệ đã đứng lên chống lại một thực dân tàn bạo. Việc tham gia vào đảng phái, kể cả việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn. Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập nhưng đối với đảng CS chiếc phao lại chính là dân tộc.
Nhiều người yêu nước chọn tham gia vào đảng CS nhưng bản thân đảng CS như một tổ chức chính trị dựa trên ý thức hệ CS chưa bao giờ là một đảng yêu nước. Những nông dân hiền hòa chất phác, những công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay. Dù sao, người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên. Lịch sử sẽ đánh giá, tổ quốc sẽ ghi công họ một cách công bằng.
Phục hưng VNCH không có nghĩa là tái thực thi hiệp định Paris. Dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất và tất cả các hòa ước Patenôtre, hiệp định Geneva hay hiệp định Paris đều là những chiếc còng của thực dân và đế quốc áp đặt lên đầu lên cổ dân tộc Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam yếu kém và phân hóa. Trước 1975, trong đáy lòng của bất cứ một người Việt yêu nước nào cũng mong một ngày dân tộc Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau sẽ được đoàn viên trong tự do, dân chủ và thịnh vượng. Tuy nhiên, ngoài trừ lãnh đạo CSVN chủ trương CS hóa toàn cõi Việt Nam bằng súng đạn của Nga, Tàu, không ai muốn đoàn viên phải trả bằng giá của nhiều triệu sinh mạng người dân vô tội, đốt cháy một phần đất nước, để lại một gia tài nghèo nàn lạc hậu cho con cháu. Hôm nay, dù không tự mình chọn lựa, dân tộc Việt Nam cũng đã là một và không có một thế lực nào làm Việt Nam phân ly lần nữa.
Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy. Đó là sự thật. Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên. Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới trong đó người dân gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào thân thương và trìu mến. Đối mặt với một kẻ thù đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay. Đảng CS có 3 triệu đảng viên nhưng đa số trong số 3 triệu người này trong thực tế cũng chỉ là nạn nhân của một tập đoàn lãnh đạo đảng tham quyền và bán nước. Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được.
Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn.
Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 39 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên. Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người lãnh đạo được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước. Như người viết đã trình bày trong bài trước, rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN.
Sau hải chiến Hoàng Sa đầy hy sinh xương máu, VNCH lần nữa lại được lịch sử giao trọng trách đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa trong tay Trung Cộng. Cuộc tranh đấu mới sẽ khó khăn nhưng là con đường đúng nhất của dân tộc trong cùng hướng phát triển của nhân loại. Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát. Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS. Dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua những khó khăn để phát triển thành một quốc gia hiện đại về cả kinh tế lẫn quốc phòng. Các nhà lãnh đạo VNCH trong cuộc đấu tranh mới trên mặt trận ngoại giao sẽ hành xử xứng đáng với tư cách của một cấp lãnh đạo chính danh, thay mặt cho một nước VNCH thống nhất, dân chủ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của đại đa số con người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới. Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.
*
Trích đoạn từ bài viết “Việt Nam Cộng Hòa, lối thoát của Hoàng Sa và dân tộc”của tác giả Trần Trung Đạo.
Advertisements
This entry was posted in Chiến Tranh. Bookmark the permalink.

3 Responses to Giá trị của Việt Nam Cộng Hòa

  1. haiz00 says:

    Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
    2015-06-17

    Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang cúi chào tại buổi lễ chào đón khi ông đến thăm Trung Quốc tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 19 tháng 6 2013

    Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang cúi chào tại buổi lễ chào đón khi ông đến thăm Trung Quốc tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 19 tháng 6 2013

    AFP

    Từ hôm nay 17 tháng 6 đến ngày 19 tháng 6, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành phiên họp lần thứ 8 Ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương tại Bắc Kinh.

    Hợp tác đôi bên lâu nay có thực sự mang lại lợi ích như mong mỏi của nhiều người Việt Nam hay không?

    Diễn tiến mới

    Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh của chính quyền Hà Nội dẫn đầu phái đoàn sang thủ đô Trung Quốc dự phiên họp. Lần họp này diễn ra chỉ một hôm sau khi Trung Quốc tuyên bố sắp sửa cải tạo xong các bãi đá ở khu vực quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp tại Biển Đông.

    Trung Quốc lặp lại rằng những đảo nhân tạo được hình thành sau khi bồi đắp cải tạo mà nên sẽ giúp cho công tác tìm kiếm- cứu nạn hàng hải, cứu trợ thiên tai, bảo vệ môi trường, hổ trợ tàu thuyền cũng như có những mục tiêu quân sự.

    Dù Trung Quốc trấn an những công tác như vừa nêu sẽ không ảnh hưởng đến hoạt động hàng hải cũng như hàng không trong khu vực; nhưng Hoa Kỳ, nước từng có kêu gọi Trung Quốc ngưng hoạt động xây dựng đảo nhân tạo tại Trường Sa, tiếp tục bày tỏ quan ngại về kế hoạch xây dựng thêm nữa của Bắc Kinh, trong đó có việc xây dựng cho quốc phòng.

    Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói thẳng rằng kế hoạch được công bố của Trung Quốc không góp phần giúp giảm căng thẳng, không hổ trợ đưa ra những giải pháp hòa bình và ngoại giao, cũng như không giúp tăng thêm gì cho những tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi của Bắc Kinh cả.

    Lợi thế bị bỏ mất

    Những tuyên bố mới nhất của Hoa Kỳ, cũng như các quốc gia khác trong khu vực mà gần đây là của Malaysia, rồi Australia, ngay cả một số nước Châu Âu về hoạt động bồi đắp xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc tại khu vực Trường Sa được cho là tiếng nói đồng thuận của thế giới trước hành động sai trái của Bắc Kinh.

    Tôi thấy những nhà lãnh đạo của Việt Nam đúng ra thì phải coi đây là cơ hội (Philippines đưa TQ ra Tòa Trọng tài Quốc tế tại La Haye) để cùng với họ mà kiện Bắc Kinh; nhưng chỉ tiếc những người lãnh đạo Việt Nam đến bây giờ vẫn còn ‘u mê’

    Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

    Tuy nhiên theo những người quan tâm đến mối quan hệ Việt- Trung thì chính quyền Hà Nội không tận dụng được lợi thế đó.

    Tin tức cho biết vào đầu tháng 7 tới đây, Philippines sẽ đến Tòa Trọng tài Quốc tế tại La Haye để trình bày lập luận của họ khi đưa đường đứt khúc chín đoạn mà Trung Quốc vạch ra tại Biển Đông để tuyên bố chủ quyền.

    Cho đến lúc này Hà Nội vẫn không làm được như Manila. Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc trước đây nói về điều đó:

    “ Tôi thấy những nhà lãnh đạo của Việt Nam đúng ra thì phải coi đây là cơ hội để cùng với họ mà kiện Bắc Kinh; nhưng chỉ tiếc những người lãnh đạo Việt Nam đến bây giờ vẫn còn ‘u mê’.”

    Cảnh một vụ tàu TQ đâm tàu cá ngư dân Việt Nam
    Cảnh nhiều tàu Trung Quốc vây ép tàu cá ngư dân Việt Nam ngay trên vùng biển Việt Nam vào những ngày đầu tháng 5.2014.(ảnh VOV)


    Nhiều người Việt Nam trong cũng như ngoài nước hiện nay đều nói rằng họ thấy rõ ý đồ của Trung Quốc muốn chiếm nốt những đảo của Việt Nam tại Trường Sa như họ từng làm ở Hoàng Sa trước đây. Nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra để nói lên ý chí đó nhưng rồi bị chính quyền dẹp mất.

    Ông Nguyễn Khắc Mai, giám đốc Trung tâm Minh Triết Làm chủ Biển Đông, từ Hà Nội đưa ra đòi hỏi chính quyền Việt Nam hiện nay phải công khai cho dân chúng về chính sách, kế hoạch  trong vấn đề đấu tranh bảo vệ lãnh hải cũng như toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam:

    “ Quốc hội cũng họp kín, ai biết nó là thế nào? Thái độ đối với vấn đề đó như thế nào, ( hãy) nói cho quốc dân rõ đi mà không dám nói. Tôi nói rằng đối sách với Tàu phải cao cường, và có khi phải bí mật về thủ đoạn; nhưng không có nghĩa bí mật thủ đoạn với giặc là bí mật chiến lược với dân. Phải nói cho rõ với dân về vấn đề này, chứ còn thủ đoạn với giặc thì phải giữ. Có thể đó là quyền của anh và tôi giao cho anh nhiệm vụ phải giữ thủ đoạn cho kín để làm việc, để tránh cái hại cho dân, cho nước. Nhưng phải công khai về chiến lược, đối sách với họ. Nói chung phải thế nào? Họ chiếm xong đảo rồi, họ lấp đảo rồi, họ xây căn cứ quân sự trên đó rồi mà chúng ta vẫn cứ ‘lui tới’ chỉ là mấy anh ở Bộ Ngoại giao gọi là phát ngôn thế thôi! Chưa có một hình thức mang tính chất pháp lý, pháp quyền nghiêm chỉnh của dân tộc, của chính phủ, của quốc hội để nói về vấn đề này!”

    Vấn đế song phương là phía bên Trung Quốc lâu nay họ muốn ‘lùa mình vào rọ’. Lâu lâu họp nhưng không có ích lợi gì cả! Có vẻ hai bên làm việc với nhau, quan hệ đàng hoàng tử tế để nói với thế giới như thế

    ông Nguyễn Khắc Mai

    Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cũng chỉ trích mạnh mẽ việc không để cho người dân biểu tỏ thái độ trước việc Trung Quốc có hành động xâm phạm lãnh hải, lãnh thổ của Việt Nam:

    “ Có thể nói nhân dân Việt Nam biết rất rõ sự bành trướng của Đại Hán và cũng căm ghét bọn bành trướng đó. Nhưng thứ nhất họ bị bưng bít; thứ hai họ bị ép xuống, không cho biểu tình! Những người lãnh đạo của mình không cho chứ mà để cho biểu tình thì cả dân Việt Nam biểu tình chống Đại Hán.”

    Thực tế ‘hợp tác’

    Những người trí thức tại Việt Nam như ông Nguyễn Khắc Mai cho rằng Hà Nội đang ở thế quá yếu so với Bắc Kinh:

    “ Vấn đế song phương là phía bên Trung Quốc lâu nay họ muốn ‘lùa mình vào rọ’. Lâu lâu họp nhưng không có ích lợi gì cả! Có vẻ hai bên làm việc với nhau, quan hệ đàng hoàng tử tế để nói với thế giới như thế. Nhưng thực ra họ làm gì: lấp xong đảo ‘ăn cướp’ của Việt Nam rồi!”

    Hợp tác gì giữa con hổ với con hươu! Trung quốc thì họ ‘trăm mưu, ngàn kế’, hết đưa ra hữu nghị rồi 16 chữ …chỉ để lừa phỉnh người ta chứ họ có thực hiện bao giờ đâu!

    Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

    Trong khi đó thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, người từng đảm nhận chức vụ đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh  từ năm 1974 đến năm 1987, nói rõ về mối quan hệ giữa hai phía như sau:

    “ Hợp tác gì giữa con hổ với con hươu! Trung quốc thì họ ‘trăm mưu, ngàn kế’, hết đưa ra hữu nghị rồi 16 chữ …chỉ để lừa phỉnh người ta chứ họ có thực hiện bao giờ đâu! Bao giờ họ cũng có máu Đại Hán bành trướng thôi! Ăn được của người ta cái gì thì họ ăn cái đó chứ hợp tác gì đâu! Chẳng có thực chất gì đâu. Chẳng qua nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam có thể nói chả tỉnh táo gì, cứ bị họ lừa, thua thiệt thôi chứ được gì!”

    Sau lần Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào hoạt động sâu trong vùng kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam hồi giữa năm ngoái, ủy viên quốc vụ viện Trung Quốc sang Hà Nội gặp các cấp lãnh đạo chính quyền Hà Nội. Khi ông này về, truyền thông Trung Quốc loan tin nói ông Dương Khiết Trì sang để khuyến dụ ‘đứa con hoang’ trở về. Thông tin như thế về những vòng họp song phương Việt- Trung thường ít khi được truyền thông Việt Nam đưa một cách đầy đủ.

    Trong khi đó, hiện nay theo những người thường xuyên theo dõi báo chí Trung Quốc như ông Nguyễn Khắc Mai thì có rất nhiều bài ‘mắng nhiếc’ Việt Nam mà không được cơ quan chức năng Hà Nội chuyển đến cho người dân.

    Cả hai người như Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và ông Nguyễn Khắc Mai đều nói rõ không tin tưởng vào sự hợp tác như lâu nay giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

    nguon

  2. haiz00 says:

    ‘Trung Quốc đặt các nước vào sự đã rồi’

    • 17 tháng 6 2015

    Hai bộ trưởng ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc trong phiên họp hồi năm ngoái

    Ngoại trưởng Việt Nam đang có chuyến thăm làm việc ở Bắc Kinh trong khi có ý kiến nói Trung Quốc đặt quốc tế vào ‘sự đã rồi’ về biển đảo.

    Ông Phạm Bình Minh, người cũng giữ chức vụ Phó Thủ tướng, đang dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự Phiên họp Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc từ 17/6-19/6.

    Tuy đây là cuộc họp thường niên, giới quan sát cho rằng quan chức hai bên không thể không đề cập tới những vấn đề “nóng” đang nảy sinh, nhất là thông báo mới nhất của Trung Quốc về việc hoàn tất cải tạo cơi nới các đảo và bãi đá ở Biển Đông “trong những ngày tới”.

    Hôm thứ Ba 16/6, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra thông cáo nói việc xây đảo nhân tạo sắp kết thúc và nước này sẽ chuyển sang phát triển hạ tầng để phục vụ các mục đích dân sự và quân sự.

    Sau khi Trung Quốc ra thông cáo, các nhà phân tích đã đưa ra nhiều bình luận về động thái này.

    Có ý kiến cho rằng Trung Quốc muốn xoa dịu dư luận, trước hết là trong khu vực và sau là ở Hoa Kỳ trước chuyến thăm của Chủ tịch Tập Cận Bình tới Washington vào tháng Chín tới.

    Tuy nhiên có ý kiến khác, như của nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn tại Pháp, thông báo của Trung Quốc “có ý nghĩa là Trung Quốc sẽ tiếp tục đặt dư luận thế giới trước những sự việc đã rồi”.

    Ông Tuấn nói với BBC: “Theo tôi, điều này không hề do ‘áp lực của quốc tế’ mà do tình thế áp đặt”.

    “Đầu năm 2013, Philippines đã đâm đơn kiện Trung Quốc trước Tòa Trọng tài Quốc tế về một số vấn đề ở Biển Đông, như sự hiện hữu phi lý của đường chữ U và tình trạng pháp lý không rõ rệt ở một số bãi đá chìm nổi mà Trung Quốc đã chiếm trước kia của Việt Nam.”

    Theo nhà nghiên cứu, Trung Quốc vừa qua đã “gấp rút xây dựng và mở rộng các bãi đá chìm nổi kia, biến chúng thành những đảo nhân tạo”.

    null
    Ý kiến nói Trung Quốc đang đặt thế giới vào tình trạng bị động qua các dự án cải tạo đảo

    “Bề ngoài, hành vi của TQ là một phương cách ‘trả đũa’ Philippines trong vụ kiện. Nhưng bề trong, Trung Quốc nắm lấy cơ hội để xây dựng cho mình một số căn cứ ở Biển Đông để làm bàn đạp củng cố cho những yêu sách sắp tới (trên không và trên biển) của họ.”

    Không còn bằng chứng

    Ông Trương Nhân Tuấn nhận định Trung Quốc chấm dứt công việc xây dựng, mở rộng các bãi đá trước tháng 7/2015, là khi có phiên đầu tiên xem xét vụ kiện của Philippines tại Tòa Trọng tài Quốc tế.

    “Về mặt công pháp quốc tế, Tòa sẽ không còn bằng chứng để xếp các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã xây dựng vào hạng mục nào? Chúng có lãnh hải và hải phận kinh tế độc quyền hay không? Dĩ nhiên mọi sự mập mờ về pháp lý sẽ khiến Tòa không thể phán quyết và việc này sẽ có lợi cho phía Trung Quốc.”

    Việc xây dựng cơ sở hạ tầng, theo ông Tuấn, cũng là để đặt các bên vào việc đã rồi bởi công việc này Trung Quốc đã và đang làm song song với cải tạo đảo.

    “Trong vụ Philippines kiện Trung Quốc, Tòa không thể yêu cầu Trung Quốc ngưng việc xây dựng cơ sở hạ tầng trên đây. Thứ nhất là các cơ sở hạ tầng đã xây xong, hoặc gần xong. Thứ hai, Trung Quốc không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa, vì vậy các yêu cầu của Tòa sẽ không được tôn trọng.”

    Theo nhà nghiên cứu, tiếp đó Trung Quốc sẽ xây dựng những kiến trúc nhằm phục vụ cho những ý đồ của TQ về vùng nhận diện phòng không – ADIZ và vùng độc quyền kinh tế (EEZ), “ưu tiên cho mục tiêu quân sự hơn là cho dân sự”.

    Ông Trương Nhân Tuấn cho rằng Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đang ở trong thế khó trong việc bảo vệ quyền lợi của Việt Nam tại Biển Đông.

    “Quan điểm cũng như quyền lợi của Trung Quốc và Việt Nam về Biển Đông hoàn toàn đối nghịch mà tương quan lực lượng, quân sự cũng như kinh tế, quá chênh lệch.”

    Hành động của Trung Quốc thời gian qua như cấm đánh bắt cá, đặt giàn khoan 981, cho đấu thầu các lô dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam việc cắt cáp tàu khoa học của Việt nam … “đã đe dọa an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia Việt Nam”.

    Ông Tuấn cho rằng Việt Nam đang và đã tỏ ra bất lực.

    “Trung Quốc có thể đồng ý với ông Minh một vài điều, như không sử dụng vũ lực để giải quyết những tranh chấp, hoặc hứa hẹn ngừng việc mở rộng các đảo.”

    “Thực ra đó là cách Trung Quốc mua thời gian. Các đảo đã xây dựng xong, hạ tầng cơ sở cũng đã xong. Tất cả đều là việc đã rồi.”

    Thực tế nguy hiểm là “Trung Quốc không cần phải xây dựng thêm nữa mà cần thời gian để các nước quen với hiện trạng này. Đó cũng là thời gian để họ củng cố và phát triển lực lượng trên các đảo”.

    null

    nguon

  3. haiz00 says:

    Có gì để tự hào về bức ảnh “Em bé Napalm”?

    • 17 tháng 6 2015

    Bức ảnh ‘Em bé Napalm’ được báo chí dùng nhiều trong Cuộc chiến Việt Nam.

    Vài tháng trước, tôi có tình cờ biết được Phan Thị Kim Phúc – cô gái trong bức ảnh “Em bé Napalm” hiện đang sống tại Canada.

    Một chút thắc mắc hiện ra trong đầu: tại sao một người là nạn nhân của “Chủ nghĩa tư bản” lại sống dưới vòm trời của một trong những trùm tư bản quốc tế, lại đi sang đất nước mà Quốc hội thông qua luật 30/4 – tức coi ngày 30 tháng 4 là ngày quốc lễ Canada để tưởng niệm những nạn nhân cộng sản Việt Nam đã liều chết vượt biên ra đi tìm tự do?

    Không có lý gì như thế cả, cô ấy phải là một người yêu Chủ nghĩa Cộng sản, căm thù đế quốc Mỹ và những đồng lõa của nó vì đã gây ra vết thương không bao giờ có thể xóa mờ trên cơ thể và tâm trí mới phải.

    Thế mà Kim Phúc không chỉ sống tại Canada một cách đơn thuần, cô đã phải bỏ trốn, xin tị nạn chính trị tại quốc gia láng giềng của “đế quốc Mỹ” này.

    Nguồn gốc của bức ảnh

    Youtube còn một đoạn video ghi lại gần như toàn bộ diễn biến sự việc từ lúc máy bay ném bom cho đến khi các em nhỏ trong đó có Kim Phúc chạy ra. Bức ảnh của Nick Út chỉ là một trong những khoảnh khắc ấy.

    Cái lạ ở đây là các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó?

    Ngay từ đầu người dân đã biết lính Việt Nam Cộng hòa đến không phải để giết hại họ. Nếu muốn thế, lính Mỹ đã bắn hết những ai chạy ra và chẳng sơ cứu rồi mang Kim Phúc đi chữa trị làm gì.

    Tại sao Kim Phúc phải chạy trốn khỏi Việt Nam?

    null

    Năm 1982, một nhiếp ảnh gia người Đức đến Việt Nam muốn tìm lại cô bé trong bức hình và Kim Phúc trở thành công cụ hoàn hảo cho bộ máy tuyên truyền. Nếu những gì trong ảnh đúng theo những gì người ta tưởng tượng (về tội ác của đế quốc Mỹ) thì mọi việc chẳng có gì đáng nói và Kim Phúc chẳng bị nhà cầm quyền kiểm soát gắt gao như thế.

    Cô bị bắt nói ra những điều chính quyền muốn. Sau đó, cô bỏ trốn, bị truy lùng, bắt lại, bị buộc thôi học, quản thúc tại gia nghiêm ngặt, giám sát 24/24h “chỉ trừ lúc đi vệ sinh”.

    Và cuối cùng, khi có cơ hội Kim Phúc đã chạy trốn và xin tị nạn chính trị ở Canada.

    Chiến tranh có phải thứ khủng khiếp nhất?

    Chiến tranh luôn đại diện cho điều đáng sợ nhất. Đối với cá nhân Kim Phúc, đó là vết sẹo trên cơ thể và trong tâm chí cô, nhưng những nỗi đau ấy còn có thể xoa dịu bằng niềm tin ở Chúa (cô đã cải đạo sang Tin Lành), còn sự khủng bố tinh thần ngay trong thời bình mới chính là thứ làm cho cô không thể chịu đựng được.

    Trong trường hợp này, chiến tranh liệu có còn là điều khủng khiếp nhất? Sẽ nhiều người phản đối, nhưng khoan đã, hãy nhớ lại có bao nhiêu người vô tội phải chết trong Cải cách ruộng đất khi chính quyền đã về tay nhân dân, đó chỉ là một trong rất nhiều tội ác của nhà cầm quyền mang danh nghĩa “do dân vì dân”.

    Người ta không chết trong thời chiến mà lại chết trong thời bình, cái chết nào ít đáng sợ hơn, và tội ác nào đỡ ghê sợ hơn?

    Nhưng một nhiếp ảnh gia như Nick Út không bao giờ có cơ hội ghi lại những khoảnh khắc ấy, vì chính quyền Cộng sản không bao giờ cho phép. Ông chỉ được hoạt động ở một nơi tôn trọng nhân quyền, tôn trọng báo chí mà thôi.

    Ý nghĩa thực sự của “Em bé Napalm”?

    null
    Nhiếp ảnh gia Nick Út tại cuộc triễn lãm ảnh Chiến tranh Việt Nam ở Hà Nội vào tuần trước.

    Nhìn vào bức ảnh ấy, người ta không biết rằng lỗi một phần không nhỏ là do lính Bắc Việt đã chạy vào nơi có dân đang trú ngụ không phải để bảo vệ mà gián tiếp đe dọa tính mạng của họ. Người dân nơi Kim Phúc đang sống lúc đó không hề “rên xiết dưới gót giày quân xâm lược” nên chẳng cần ai đến để cứu giúp họ. Nếu không có sự xuất hiện của người lính Cộng sản ở một nơi không đúng chỗ như thế, sự việc đáng tiếc đã không xảy ra với Kim Phúc.

    Còn ai nghi ngờ về điều trên có thể tìm hiểu về cuộc tháo chạy của những người miền Nam khỏi thứ “độc lập, tự do” mà chính quyền Cộng sản đã trao cho họ. Trong số đó có rất nhiều người phải bỏ quê cha đất tổ, bất chấp tính mạng để lênh đênh trên biển tìm nơi ở khác.

    Khi nhìn vào một bức ảnh mà người ta chỉ thấy một phần rất nhỏ sự thật, bức ảnh ấy có thực sự còn nguyên giá trị?

    Bức hình ấy khiến nhân dân Mỹ có một cái nhìn khác về Cuộc chiến Việt Nam, góp phần đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ và đòi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Đến ngày hôm nay, có khi nào Nick Út nghĩ rằng việc tồn tại của Mỹ ở miền Nam hoặc thậm chí chiến thắng toàn diện ở Việt Nam lại là tốt cho người dân Việt?

    Mỹ đã rời đi, nay được vời lại để chống lại người anh em Cộng sản lúc đó giúp cách mạng Việt Nam đánh Mỹ.

    Jane Fonda – biểu tượng của phong trào phản chiến Mỹ, người từng đến miền Bắc Việt Nam năm 1972 (năm mà bức ảnh “Em bé Nepalm” ra đời) mới đây cũng đã phải thừa nhận sai lầm và xin lỗi các cựu chiến binh Mỹ.

    Thử hình dung rằng tôi chớp được khoảnh khắc người cha phạt con mình. Thực tế ngoài đời đứa con đáng bị phạt nhưng bức ảnh lại trở thành biểu tượng của nạn bạo hành trẻ em, thì thà bức ảnh ấy đừng bao giờ xuất hiện. Bản thân bức ảnh ấy không có lỗi gì cả, khoảnh khắc ấy với người xem ảnh có thể đúng, nhưng bản chất của sự việc thì không.

    Vậy bức ảnh “Em bé Napalm” có ý nghĩa gì? Nó làm người ta nghĩ đến sự độc ác của Mỹ trong khi họ không hoàn toàn có lỗi. Nó khiến Mỹ rút quân rồi giờ đây Việt Nam muốn Mỹ trở lại.

    Nick Út được nhà cầm quyền phe “đế quốc” cho tác nghiệp, được đi cùng với lính Mỹ để chụp ảnh, nhưng sản phẩm của ông sau này chống lại chính những người tôn trọng, bảo vệ cho nghề nghiệp và tính mạng của ông.

    Nhà cầm quyền Việt Nam – phía đáng lẽ ra được hưởng lợi nhiều nhất từ tấm ảnh này lại không hề chào đón nó. Người ta đã từng từ chối triển lãm ảnh của Nick Út năm 2007 và nếu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không chuẩn bị thăm Mỹ thì chắc cũng khó có chuyện bức hình “Em bé Napalm” được xuất hiện chính thức ở Hà Nội. Cũng dễ hiểu vì không lãnh đạo nào muốn nhắc đến cái tên Phan Thị Kim Phúc – người lẽ ra cũng nên có mặt tại buổi triển lãm với tư cách chứng nhân lịch sử.

    Không biết lòng thành của Việt Nam được bao nhiêu, vì họ vẫn còn sợ sự thật lắm. Nhưng nếu tôi có bức ảnh hay một bài báo không được mọi người hiểu đúng ý hoặc không thể toát ra những cái mà tôi muốn truyền đạt để rồi làm công cụ cho một sự tuyên truyền lệch lạc, tôi không thể tự hào và thà đừng nhắc đến nó còn hơn.

    nguon

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s