Hội nghị Thành Đô hay là Mật hội Bán Nước Thành Đô

22-maho

Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.

Lê Duy San

Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam, bọn “lãnh đạo” Hà Nội cảm thấy Trung Cộng quá lấn áp Việt Nam; nếu không sớm thoát khỏi sự kìm kẹp này thì sớm muộn gì, Việt Nam, nếu không trở thành một tỉnh của Tầu thì cũng trở thành một nước nô lệ Tầu như hai lần Bắc thuộc trước. Do đó bọn lãnh đạo Hà Nội đã thi hành chính sách đánh tư sản mại bản để không những cướp đoạt tài sản của người miền Nam mà cả của người Hoa và trục xuất người Hoa ra khỏi Việt Nam bằng cách cho vượt biên bán chính thức. Điều này đã làm cho Trung Cộng nổi giận. Không những thế, bọn lãnh đạo Hà Nội còn xua quân sang Cao Miên để đánh nhau với bọn Khmer Đỏ là bọn đang cầm quyền và được Trung Quốc ủng hộ và trợ giúp lúc bấy giờ. Trung Cộng cho rằng bọn lãnh đạo Hà Nội là một bọn “ăn cháo đá bát” và cần phải dậy cho chúng một bài học. Đó là nguyên nhân của cuộc chiến Việt Trung vào năm 1979.

Tuy nhiên cuộc chiến Việt Trung 1979 vẫn không làm bọn lãnh đạo Hà Nội khiếp sợ, vì chính Trung Quốc cũng thiệt hại và đã phải rút lui, chỉ chiếm giữ một số đất vùng biên giới, Ải Nam Quan và thác Bản Giốc. Hơn nữa, bọn lãnh đạo Hà Nội vẵn còn chỗ dựa vũng chắc, đó là Liên Sô, một cường quốc vẫn còn đang ở vị thế vững mạnh nhất nhì thế giới về quân sự. Do đó chúng vẫn tiếp tục đánh nhau với Khmer Đỏ và dựng lên một chính phủ thân Việt Nam do Heng Samrin làm chủ tịch.

I/ Nguyên nhân đưa đến Hội Nghị Thành Đô.

Sau 10 năm chiến tranh với Khmer Đỏ (1979-1989), Việt Nam tổn phí cũng nhiều. Hơn nữa, Liên Sô, lúc bấy giờ do Gorbachev nắm quyền, chủ trương xét lại, nên bọn lãnh đạo Hà Nội không còn trông mong gì ở Liên Sô nữa. Năm 1989, bức tường Bá Linh xụp đổ. Cộng Sản Hà Nội càng cảm thấy rất nguy hiểm nếu vẫn cứng dắn với Trung Quốc nên đã quyết định rút quân toàn bộ khỏi Campuchia để làm hài lòng Trung Cộng và ngỏ ý muốn sang thăm Trung Quốc để hàn gắn lại tình hữu nghị hai nước. Trung Cộng cũng biệt vậy, nhưng thấy Mỹ đã thay đổi chính sách đối với Cộng Sản Việt Nam, nên cũng cảm thấy nếu qúa cứng dắn với Cộng Sản Việt Nam có thể bất lợi. Do đó mà Hội Nghị Thành Đô đã được manh nha hình thành. Theo các tư liệu được Trung Quốc tiết lộ thì vào chiều ngày 28/8/1990, Đại Sứ Trung Cộng Trương Đức Duy ở Việt Nam đã nhận được chỉ thị từ trong nước để chuyển tới Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh một thông điệp như sau: “Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười thăm nội bộ Trung Quốc từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9 năm 1990, cũng hoan nghênh Cố Vấn Phạm Văn Đồng cùng đi.” (Xem thêm tại http://nghiencuuquocte.net/forums/topic/hoi-nghi-thanh/).

Hội Nghị Thành Đô, đúng ra là một Mật Hội bán nước, được diễn ra vào ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại tỉnh Tứ Xuyên bên Tầu. Cả hai “chính phủ” Trung Cộng và Việt Cộng đều không chính thức loan báo về bất cứ một tin tức gì về Hội Nghị này. Người ta chỉ mới biết được trong 2 năm gần đây nhờ Wikileaks và một vài tài liệu khác như Nhật Ký của Lý Bằng, Hồi Ký của Trần Quang Cơ, bài viết của Lý Gia Trung (Tham Tán Chính Trị ĐSQ Trung Cộng), bài viết của Trương Thanh (Vụ Phó Vụ Á Châu Bộ Ngoại Giao Trung Cộng) v.v…mà phiá Trung Cộng đã tiết lộ.

II/ Nội dung Hội Nghị Thành Đô.

Lý Bằng, Giang Trạch Dân, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng.

Hội nghị thành Đô không hề nói gì tới những thiệt hại mà Trung Cộng đã gây cho Việt Nam trong chiến tranh Việt Trung năm 1979 và cũng không đề cập gì tới những phần đất của Việt Nam ở biên giới, đến Ải Nam Quan, đến thác Bản Giốc mà Trung Cộng đã chiếm. Trái lại, đảng Cộng Sản Việt Nam lại xin được làm một khu tự trị trực thuộc Bắc Kinh. Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Biên bản buổi họp kín giữa Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư đảng CSVN, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện phía Việt Nam, và Giang Trạch Dân, TBT/CSTQ, Lý Bằng, Thủ tướng Trung Cộng, đã họp 2 ngày từ 3 và 4-9-1990, tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Tài liệu chi tiết như sau:

“Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.

“Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN “giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”

Tháng 11 năm 1991, sau hội nghị Thành Đô, lãnh đạo cao cấp hai đảng, hai nước liên tiếp thăm viếng lẫn nhau. Sự giao lưu, hợp tác giữa hai bên về các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá v.v… được mở rộng, nâng lên tầm cao là bước đầu của việc hội nhập.

Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành “đại cuộc” đó. Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.

Ngày thứ bảy, 31 tháng 5, 2014 đài BBC đưa tin như sau: “Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh

GS Carl Thayer cho biết: “Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể”, do đó ta có thể nhận ra ‘mâu thuẫn gia đình’ nằm trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc. Còn Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch của Việt Cộng thì than thở: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.” Chính vì lời nói này mà ông đã bị mất chức Ngoại Trưởng.

Cho dù Wikileaks không tiết lộ, thì xuyên qua những hành động hèn nhát và bất động mà đảng CSVN đã thể hiện và nhiều người đã xác nhận đó là hành động bán nước và Hội Nghị Thành Đô là Hội Nghị Bán Nước..

Do kinh nghiệm ở hai khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã kiềm chế CSVN bằng cách đặt chiếc vòng kim cô lên đầu CSVN cho nên những tên Hán gian hiện nay như cá nằm trên thớt, không dám cựa quậy hay phản đối gì.

HBSơn, PVĐồng, NVLinh, Giang Trạch Dân, (áo xám đứng giữa), LBằng, ĐMười, và HHà.

Theo Huỳnh Tâm tác giả bài “Tiến Trình Đàm Phán Bí Mật Thành Đô 1990” thì “Kỷ yếu hội nghị bí mật Thành Đô 1990”, mà Nguyễn Văn Linh đã ký kết gồm có 5 qui ước Việt Cộng phải tuân thủ thực hiện:

1 – Xác định chủ quyền vùng đảo Bạch Long Vĩ và Vịnh Bắc Bộ.
2 – Laoshan thuộc về lãnh thổ Trung Cộng.
3 – Xác định chủ quyền biên giới Trung-Việt từ đất liền đến Biển Đông.
4 – Áp đặt luật pháp Trung Quốc vào Việt Nam.
5 – Kế hoạch đưa quân đội Trung Quốc vào Việt Nam.

Kết quả của Hội Nghị Thành Đô là Giang Trạch Dân đã cho CSVN thời gian 30 năm để tiến hành “sự nghiệp vĩ đại” đối với Việt Nam cho nên gọi đó là “đại cuộc” và việc thực hiện chương trình 30 năm nằm trong khuôn khổ “4 tốt và 16 chữ vàng”. Vì thế cứ mỗi lần có tranh chấp gì thì Bắc Kinh khuyên nhũ Việt Cộng hãy vì “đại cuộc”, và CSVN luôn luôn cam kết thực hiện 4 tốt là: “Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt” và 16 chữ vàng là: “Láng giềng hữu nghi, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai”. Và tất cả những Tổng bí thư, chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và thủ tướng của Việt Nam đều phải qua diện kiến lãnh đạo Trung Cộng. Tổng bí thư, chủ tịch nước của Việt Nam đều phải ký những bản Tuyên bố chung xác định quyết tâm thúc đẩy, hợp tác toàn diện trên phương châm 4 tốt và 16 chữ vàng mà thực chất là hoàn tất lộ trình 30 năm (1990-2020), để sát nhập vào “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.

Tóm lại, hội nghị Thành Đô không những để tái lập bang giao giữa hai nước được tổ chức công khai vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, mà còn là để cho CSVN xin được sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc tức sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc. Vì thế gọi Hội Nghị Thành Đô là Hội Nghị Bán Nước của Việt Cộng cũng không sai.

Cho mãi đến khi Wikileaks phổ biến tài liệu mật đó thì người Việt ở nước ngoài mới biết đến, nhưng đối với đa số người trong nước thì nó vẫn còn là một bí mật. Vì thế, để lừa bịp nhân dân Việt Nam, chương trình 30 năm mà hai đảng Cộng Sản nầy thực hiện được ngụy trang dưới những từ ngữ mỹ miều như “đại cuộc”, “phương châm 16 chữ vàng”, “hợp tác chiến lược toàn diện”, “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác toàn diện” v.v…

Bọn Tàu được vào Việt Nam không cần Visa nhập cảnh, nên tự do đi lại như chúng đã từng đi vào Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông. Bọn chúng đã có mặt trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của đất nước Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng bọn Tầu.

Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, từ việc thuê đất 306,000 hecta trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc, từ Bauxite Tây Nguyên đến Cà Mau, chúng di dân tới ở và có thể thành lập nhiều sư đoàn của đạo quân thứ năm với những công nhân người Hoa, mà thực chất là binh sĩ, tình báo, đặc công. Họ nắm trong tay những bản đồ vị trí các nhà máy điện, nhà máy nước, các cơ quan quốc phòng, cơ xưởng sản xuất v.v…

Chúng thuê dài hạn những đất đai mầu mỡ của Việt Nam và cho di dân tới tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà công an Việt Nam không được vào đó để kiểm soát.

“Trung tâm thương mại Đông Đô Đại Phố “ở Bình Dương

”Sau Casino của người Hoa ở Đà Nẵng chỉ dành cho người nước ngoài, lại đến khu phố dành riêng cho người Hoa ở Bình Dương, Hà Tĩnh v.v… nơi mà người Việt cũng không được bén mảng tới. Vậy trong tương lai, người Việt còn được sử dụng một phạm vi đất đai là bao nhiêu bởi vì biển, rừng, đô thị đều tràn ngập người Hoa ?

Phố Tàu là khu vực riêng biệt của cộng đồng người Hoa, người Việt khó len chân vào. Phố Tàu ở Bình Dương mang tên “Trung Tâm Thương Mại Đông Đô Đại Phố”, trong đó có một trường Đại học quốc tế Miền Đông, một bịnh viện có cả 1,000 giường cho bệnh nhân, một khu vực ăn chơi, giải trí gồm: các sân vận động thể thao, sân golf, các cửa hiệu thương mại, các nhà hàng sang trọng v.v…

Bọn Tàu sinh hoạt theo phong tục tập quán của họ và luật pháp Việt Nam Cs bị bỏ ra ngoài. Nhân viên công lực CSVN không được vào để kiểm tra cần thiết hay để kiểm soát an ninh khu vực. Ngay cả nghĩa địa người Hoa ở Việt Nam cũng là một khu vực riêng biệt bất khả xâm phạm. Vậy thử hỏi chủ quyền quốc gia của Việt Nam còn hay đã mất?

Lê Duy San 10/ 6/2015
nguon

Advertisements
This entry was posted in Bí Mật Thâm Cung csVN, Hồ Chí Minh. Bookmark the permalink.

2 Responses to Hội nghị Thành Đô hay là Mật hội Bán Nước Thành Đô

  1. haiz00 says:

    Hoa Hồng Đỏ Hải Ngoại và NQ36
    Lê Bá Vận

    Hoa hồng đỏ hải ngoại Việt Kiều Yêu Bác (VKYB)
    “Chấp nhất thực dĩ ngự bách hư”
    “Bà dứ của kia: ‘Hoa hồng đỏ hải ngoại’.
    Ông chìa của nọ: ‘Cỗ chuông vàng qui hương”.

    Lời Mở Đầu – Nghị Quyết số 36 năm 2004 của “Bộ Chính Trị ĐCSVN” nhằm chiêu dụ các Hoa hồng đỏ hải ngoại “Việt Kiều Yêu Bác”(VKYB) “đội tiền phong của giới Việt Kiều Yêu Nước (VKYN) trở về quê hương xây dựng Đảng và nước nhà vững mạnh trong chính sách xóa bỏ thù hận hòa hợp dân tộc của Đảng và Nhà Nước”.

    Báo Vietnam ngày 23/1/2015 đăng tải “Sự thành công của Nghị quyết 36/NQ/TW tại hải ngoại sau 10 năm hoạt động.”

    Ngày 7/6/2015 QĐND Online – đưa tin: Sáng 7-6, tại Nhà khách Chính phủ Tp HCM đã diễn ra Diễn đàn chuyên gia tri thức người Việt Nam ở nước ngoài với phát triển kinh tế và hội nhập của Việt Nam giai đoạn 2016-2020 …tiếp tục thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới và đẩy mạnh công tác vận động trí thức kiều bào tham gia tham gia đóng góp xây dựng đất nước.

    Dự kiến, tham gia diễn đàn là 100 đại biểu trong và ngoài nước, trong đó có 30 đại biểu là các chuyên gia kinh tế, luật pháp và hành chính công người Việt đang công tác tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Pháp, Đức, Nhật… đặc biệt là sự tham gia của nhóm “Sáng kiến Việt Nam” (Hoa Kỳ).

    Nhớ lại năm sáu năm trước 2009-2010 song song với NQ36 là chiến dịch HOA HỒNG ĐỎ Hải Ngoại tổ chức tại Hà Nội qui mô rầm rộ như bài viết dưới đây đã ghi lại.

    * * *

    Meet 2009 (6). Đại Hội Việt Kiều kỳ 1, Hà Nội:

    “Như có bác Chồn trong ngày vui đại thắng”.

    Cuộc chiến tranh 30 năm phức tạp, bao nhiêu oan khiên. Thời hậu chiến đáng nhẽ tiếng hoan hô vui mừng lại là tiếng hò la đả đảo, hành hạ phá nhau.

    Tất cả có nguyên nhân.

    Sau tháng 4/1975 Cọng Sản tràn vào giải phóng, cả miền Nam hùa nhau chạy trốn nạn CS. Các người bỏ trốn, CS kết tội phản quốc và chê họ vừa ngu vừa ô hợp, không làm nên trò trống gì. Mười lăm năm sau, bằng thời gian cô Kiều luân lạc giang hồ, gió đã đổi chiều: Việt Kiều tị nạn trở thành mối tâm họa, luôn thọc gậy bánh xe phát ngôn bất lợi, xoi tì xỉ tướng khiến CS nhức nhối nhục nhã, song lại không thể dùng võ lực dập tắt. CS chỉ muốn được để yên, ‘múa gậy vườn hoang’ tại quốc nội song ‘cây muốn lặng, gió chẳng ngừng’, luôn bị oan gia khuấy động.

    1- CS chủ động.

    Nhớ lại thời kháng chiến CS luôn nắm thượng phong, hoàn toàn chủ động về Chính Trị. Họ rêu rao “chính nghĩa kháng chiến giành Độc Lập, họ chửi rủa đối phương là Việt Gian, Ngụy Quyền bán nước cho Mỹ”; họ khủng bố, ám sát, ném lựu đạn vào các tòa báo, gánh cải lương nào có hơi hướng chống Cộng, tất cả im re; họ tạo ra các thế lực phản chiến hữu hiệu: “Mặt trận Hòa Bình, Phong trào Hòa bình đấu tranh đòi hòa giải dân tộc…”Phe Quốc Gia bị động, cãi không lại, vừa thua đấm vừa thua đạp, là nạn nhân Chính trị của CS.

    2- CS bị động.

    Hiện tại Cọng Sản ngược lại bị động, là nạn nhân Chính trị của phe Quốc Gia mà các Việt Kiều bỏ trốn đại diện. CS phạm quá nhiều sai lầm và tội ác chất đống không còn mạnh mẽ lập luận được như xưa, mà chỉ luận điệu chống đỡ bâng quơ chung chung: “đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá Cách mạng của các thế lực thù địch và quan điểm sai trái đòi hỏi dân chủ, tự do!!…chống âm mưu hành động diễn biến hòa bình??. Đó cũng là điều họ sai bảo Quân đội (mà không do tiền Đảng trả lương) trong khi nhiệm vụ Quân đội là chống ngoại xâm, không có nhiệm vụ giết dân tay không vũ khí.

    3- Sai lầm căn bản.

    Nguyên do CS có 2 sai lầm căn bản, có tính quyết định mà họ không lường đoán trước được:

    a) Yếu tố nhân sự: CS lý luận chặt chẽ xây dựng chế độ đặt nền móng trên ảo đề: con người XHCN, CSCN ‘mọi người vì mình, mình vì mọi người’ là tuyệt đối trong sạch, thánh thiện. Sai 1 ly đi một dặm, con người vẫn là con người: tham nhũng tất yếu do thiếu dân chủ kiềm chế đã làm CS thất bại xây dựng bất cứ Chế độ nào và kéo theo phá hủy luân thường đạo lý, suy nhược nước nhà.

    “Tham” đứng đầu và đầu mối các Tật Xấu, Tội Ác cũng như Khoa học/Triết học Mác Lê vô địch của CS đứng đầu và đầu mối mọi loại Khoa Học/Triết Học (?)

    b)Yếu tố Khoa Học, Kỹ thuật. CS thiết kế xây dựng XHCN v.v… mức thành công dựa trên và tùy thuộc chặt chẽ kiểm soát bưng bít thông tin; CS thật không ngờ ngày nay, từ thế kỷ 21, mạng lưới ‘internet, websites, bloggers, điện thoại ‘…khắp nơi người dân tự học biết nhiều, vượt xa trình độ CS.

    Một sinh viên trong nước đã viết: “ Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, giới trẻ chúng tôi đã biết nhiều hơn trước. (Đặng X Khánh, ‘Đâu là sự thực’). hoặc “Còn cờ đỏ sao vàng thì không bao giờ có ĐL-TD-HPhúc” (Lê trung Thành, Sinh viên du học ngành kiến trúc). Đọc bài này mới thấy các em bây giờ đã hiểu biết. Đây là một đòn nặng thấm dần khiến chiến dịch ‘hoa hồng đỏ’ trở thành ‘hoa hồng héo hải ngoại’ và nói chung là một đòn chí tử cho Chế độ của CSVN.

    4- Đại hội Việt Kiều.

    Được biết Đại hội Việt Kiều Yêu Bác – Hoa Hồng Đỏ Hải Ngoại kỳ 1 tổ chức bài bản theo đúng kế hoạch Trung Ương chỉ đạo, cuối tháng 11 năm ngoái 2009 tại Hà nội. Gần 1/10 đại biểu là các nhà trí thức rất lớn… thuộc hạng những bậc “Thần Long kiến thủ bất kiến vĩ , vô sở bất tri vô sở bất hiểu, hữu tài vô hạnh,” chiên ghẻ gắn đuôi chồn, biết ngoan ngoản CS gọi dạ bảo vâng vinh hạnh.

    Nghe kể lại xuống phi cảng họ được đón vào cổng dành riêng cho Việt Kiều đại biểu, không qua Hải Quan, có Đại Tá Công An ra đón thăm o bế, được đoàn xe Cảnh sát hộ tống đúng nghi lễ về Nhà Khách và Hội Trường.

    Sau đó phát biểu, liên hoan, trình diễu đầy đủ trọn gói. Xem đài Truyền hình chiếu lại đẹp và thích thú như khi ta đi xem xiếc có những chú khỉ, chú chó, con rối… được mặc áo sặc sỡ diễn trò khỉ, chó, múa rối .

    Các doanh nhân đại biểu thì tuy cũng có óc thực tế nhưng tôi nghe kể nhiều người về đầu tư, kinh doanh ở VN rút cục thâm vốn nặng, thậm chí bỏ của chạy người.

    Nghĩ cũng có lý. “Bắt kẻ có tóc, ai bắt kẻ trọc đầu?”,

    Việt Kiều là thịt Tam Tạng, các cán bộ CS đỉa đói địa phương hau háu chờ vỗ béo, rồi kiếm chuyện này cớ khác chụp mũ, kêu nộp phạt, đòi hối lộ, dọa giam tù, tịch thu tài sản để chia chác. Các doanh nhân gộc thì lại ưa thích tham nhũng, cùng với CS ‘Miêu thử đồng miên’, mèo chuột ngủ chung, tà gian cùng mưu chia lợi, sống chết mặc bây (dân).

    * Đoàn 200 kiều bào VKYN tham dự Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long

    5- Hoa Hồng đỏ.

    Những kế hoạch, chiến dịch ‘Hoa hồng đỏ hải ngoại’ để nhuộm đỏ người Việt nước ngoài: Mít, Đại hội Việt Kiều… hiện nay là rất tinh xảo vì lần này CS có quyền thế và có lắm tiền của (lấy của dân) để dùng bả danh lợi. Đâu ngờ ‘Thiên bất dung gian’, đây là một đất nước Tự do, vấn đề đã khui ra càng gây chú ý, tự do mổ xẻ tranh luận hai chiều: bênh / chống, càng gây thiệt hại cho CS, xấu xa tội ác bị phơi bày trong khi VK tị nạn không có gì phải che đậy. “Cường Long nan địch địa đâù Xà”, Rồng dữ khó thắng Rắn nơi sở tại, CS chỉ có thể dữ tợn ở nước nhà, kém vế trong môi trường dân chủ không thích hợp.

    “Hoa hồng đỏ hải ngoại” CS chủ mưu chỉ thấy hại nhiều. Cũng như sau biến cố Tết Mậu Thân, 1968, cháy nhà ra mặt chuột, các Việt Kiều chim khôn (đậu nóc nhà quan) sau Đại hội của họ, bị vạch mặt chỉ tên, nguyền rủa. Tinh thần yêu nước âm ỉ, bùng lên mạnh mẽ khi hữu sự. Cũng nhờ ‘Hoa hồng đỏ’ khích động, tôi mới lấy ý viết loạt bài “Meet 2009 (1) đến (6) đóng góp phần nhỏ mọn chia sẻ cảm nghĩ với đồng bào trong ngoài nước. Rất nhiều người khác cũng vậy.

    Cũng cám ơn những cánh hoa hồng thối hải ngoại. Thật đúng ‘tiến thủ lưỡng nan‘ :giá như CS cứ im ắng đừng khuấy động có lẽ lại là khôn ngoan.

    Hiện tại các bài viết trên Website, blog…tại quốc nội và hải ngọai nhan nhản mô tả tình trạng bi đát của nhân dân lao động, sự hiếp đáp, ăn chơi sa đọa, hèn nhát, bán nước của Đảng… Chỉ lấy vài ví dụ: “Chị cả Bống (PLVũ), Con chó vện và người tù cải tạo (NVLHồ), Nói với các con tôi (Nhạc sĩ Lê Dinh), Hồi ký của một thằng hèn (Nhạc sĩ Tô Hải), Hoàng Sa Trường Sa, các vụ tham nhũng nhục nhã: PMU 18, Cầu Văn thánh, PCI Nhật Bản, mỏ Bô xít… Chúng khẩu đồng từ lật tẩy CS, bút sắc hơn gươm, đấy là những mũi tên, viên đạn không phương chống đỡ, bắn vào CS, sẽ chết kiệt sức vì loạn tiễn.

    6- Sách lược đối phó.

    Dĩ bất bíên ứng vạn bíến
    Chấp nhất thực dĩ ngự bách hư .

    Đấy phải là sách lược, chiến thuật của chúng ta, tương thông với đồng bào trong nước, tận dụng phương tiện truyền thông kỹ thuật hiện đại đem tiếng chuông vàng thức tỉnh khua vang chánh nghĩa quốc gia tầm hương hướng nội, tứ phương. Chúng ta bất biến trước sau như một quyết lột mặt nạ của CS và “cầm tặc tiên cầm vương” của Hồ chí Minh:

    Cọng Sản từ 65 năm nay đã gây ra bao nhiêu tai họa tầy trời cho người dân và đất nước. ‘Lấy bất biến đối phó vạn biến, nắm một điều thực chống trăm hư (dối)’ , dù CS có biến hình hoán dạng hư chiêu đến mấy, dùng kính chiếu yêu, dân ta luôn nhận thức rõ: CS vẫn là CS, Hồ ly vẫn là Hồ ly:

    “Giết người chôn sống thời quốc loạn,
    Đầu trộm đuôi cướp giữa thái bình.
    Quang vinh (CS) danh xứng tài thổ phỉ,
    Tiểu nhân đắc chí tị Anh hùng.
    Ghế trên ngồi tót sỗ sàng. Chúng,
    Lũ chồn hôi hám hủy luân thường.
    Việt Nam yêu dấu đâu còn dấu,
    Chỉ thấy bầy hồ giỡn đống xương. (1)

    Cọng Sản vẫn là CS, tình huynh đệ keo sơn, sông liền sông núi liền núi, tuy hai mà một, tương trợ, đồng hóa. Đó là tâm nguyện hai Đảng CS Ta, Tàu. Riêng số phận Việt Nam thật hẩm hiu: Lúc hữu sự không nhờ vả ai lại nhờ vả ông bạn láng giềng Trung quốc khổng lồ vốn có dã tâm và truyền thống xâm lăng đô hộ, đồng hóa em út Việt Nam và luôn nắm cơ hội.

    7- Công lao CS và HCM.

    Uổng công Ông Cha ta giữ nước: Lý Thường Kiệt phạt Tống, Trần Hưng Đạo bình Nguyên, Lê Lợi trục Minh, Quang Trung phá Thanh để rồi ngày nay dưới chế độ CSVN hiểm họa bị Tàu đô hộ, ngay cả mất nước đang lù lù tiến đến trước mắt mà dân ta bất lực, bị Đảng buộc tay trói chân, bịt mắt khóa miệng .

    Ai là đầu dây mối dợ cho tất cả các thảm họa đó? Ai đã có sáng kiến cải tiến vĩ đại rước Tàu giày mả?

    Đó chính là Hồ Chí Minh. Y chạy qua Tàu lạy lục cầu viện gây một cuộc nội chiến tương tàn, thảm khốc vô bổ giành Độc Lập trong khi trên toàn thế giới chế độ thực dân, thuộc địa lỗi thời đã cáo chung.

    Lý Thường Kiệt, Trần hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung đánh đuổi giặc Tàu, anh hùng dân tộc chính đáng được toàn dân thành kính tôn thờ.

    Hồ Chí Minh, kẻ thù dân tộc, làm ngược, mời giặc Tàu về và còn tự vinh danh là con chồn già của dân tộc, ý nói con “chồn chí minh”, chồn dòng hang Pắc Bó chí xảo. Tuy nhiên ‘chí minh’ của loài chồn cũng chỉ là thiển cận:

    “Rước voi giày mả, dắt cọp về nhà. Đến khi giặc hết, chủ nhà cọp xơi”.

    “Hồ Chí Minh là một đại họa cho dân tộc Việt Nam”

    Hồ Chí Minh lại còn là tên “Hồ 54” đồ tể khát máu đồng bào. Thủ đoạn hiểm trá tàn nhẫn của y gấp trăm ngàn lần Pháp cai tri ta 100 năm trước mà đã là rất ác ôn. Dưới bàn tay sắt của y, trị dân phải hiểu là cho roi cho vọt, giết; năm 1954 sơ khởi y đã giết hàng chục vạn đồng bào miền Bắc . Dân ta thù hận y, càng so sánh càng thấm thía nhớ ơn đời đời các tiền nhân đã bảo vệ nước, oanh liệt đánh lui quân xâm lăng Tàu phương Bắc.

    Hồ Chí Minh là tên tội đồ lớn nhất trong 4000 năm lịch sử con Hồng cháu Lạc.

    Tội ác và hậu quả việc làm y gây ra đời đời kiếp kiếp dân ta gánh chịu, tủi nhục làm thân trâu ngưa, nô tỳ nô tài cho CSVN và QTế, không được phép làm một con người tự do như mọi nơi trên thế giới.

    Hiện tại Đảng CS Việt Nam đã chuẩn bị môi trường tốt dắt dân ta trở về vòng nô lệ cổ truyền: ‘Lãnh đạo đi đêm với quan thầy Trung Cọng ‘mèo chuột ngủ chung’, chính sách hà khắc, độc tài tham nhũng làm suy yếu nước nhà, phá hoại đoàn kết, hủy diệt tinh thần quốc gia, đạo đức với lối sống ăn xài vương giả của Cán bộ Ông lớn mang danh XHCN và con cháu.

    Truy nguyên thì sự dâm ô xa xỉ này đã manh nha và bộc phát từ trong căn nhà sàn gỗ quí hai tầng lồng kính, lợp ngói trong một công viên rộng lớn, có hồ sen trước nhà, hoa lá khắp nơi. Trong ngôi nhà sàn sang trọng đầy đủ tiện nghi đó, Hồ chí Minh đã hưởng thụ đầy đủ, và treo gương cho đám thủ hạ. Chuyện này không là lạ, điều không bình thường là nó được che dấu kỹ lúc đó.

    8- Thăm hỏi VKYB.

    Các bạn Việt Kiều Yêu Bác nghĩ sao? Chúng ta không thể nhầm lẫn: CS là chủ, không là bạn của ta. Họ ở thế thượng phong, dang tay trước, ta đón nhận tức là ta đã mặc nhiên hợp thức quan hệ chủ tớ trên và vô hình chung làm mẫu mực, chim mồi.

    Ở vị thế ‘Thiên thượng địa hạ Duy Cọng độc tôn’ CS dang tay chiêu hòa, phải hiểu là dang chân chiêu hàng, ta lòn qua. CS không mâu thuẫn khi vừa kêu gọi hòa giải ‘Dĩ hòa vi quí’, vừa không chấp nhận đối thoại với ai chống đối. Họ chấp nhận dĩ hòa để chiêu hàng.

    CS rất sành tâm lý, hiểu người, biết lúc; họ đặc biệt nhằm mục tiêu những người sống ở đất nước tự do, sống theo ý mình bất cần đời, không ý thức tình cảm, nghĩa vụ trách nhiệm chung cộng đồng là đúng ý muốn của họ. Họ đang cần những mẫu người như thế trong bước đầu .” Rồng đến nhà tôm ; vạn tải nhất thì”.

    Tuy nhiên: “Đừng thấy hùm ngủ vuốt râu, đến khi hùm dậy đầu lâu chẳng còn”.

    Kêu gọi hòa giải, đoàn kết, góp sức xây dựngTổ quốc hàm ý có nhiều ý kiến, phe phái khác nhau trong nước. Chỉ có một mình một đảng như con một trong gia đình thì còn ai đâu để kêu gọi! Để tránh mâu thuẩn chỉ có thể kêu gọi đoàn kết trong nôi bộ khi nội bộ phe phái. Tuy nhiên với CS thì bao giờ cũng không hòa giải đoàn kết mà là thanh trừng, chiếu theo lịch sử Đảng.

    Liệu CS có thực tâm từ bỏ độc quyền độc đảng để lời kêu gọi đoàn kết hòa giải dân tộc có nghĩa lý?

    Có đi có lại mới toại lòng nhau: “Bà rút lui của nọ: độc tài độc đảng. Ông từ bỏ của kia: chống cọng đấu tranh”. Hãy chờ xem.
    Điều chắc chắn là Bác Hồ mà còn sống, tình trạng đàn áp nhân quyền, chụp mũ, bỏ tù, nhốt trại tâm thần, thủ tiêu… còn tinh vi gấp bội vì đó là nghề của chàng, chân truyền Sư tổ Mác lê, Staline.

    Bác của chúng ta thật số dách, đáng yêu. ‘Ai yêu bác Hồ chí Minh hơn chúng em nhi đồng’?. Coi chừng khai thác tình dục trẻ con. Nhưng hiện tại đã là thực trạng. Theo gương Bác. Các bạn Việt Kiều hoa hồng đỏ đã nhớ gài cánh hoa máu lên áo gấm về làng chưa, các bạn có ít nhiều nghe tiếng chuông vàng cảnh tỉnh vang dội hướng về các bạn chưa?

    Chúng ta thử đánh đu với tinh, cùng nắm tay ca: “Như có chú chồn trong ngày vui đồng hóa”…

    Ngày 9/ 6/2015
    Lê Bá Vận.

    Có bài thơ họa vần:

    “Việt Kiều đại biểu tài xuất chúng.
    Cánh Hoa Hồng đỏ quỷ vô thường.
    Gài lên cúc áo không che dấu.
    Họp rồi vớ được một ít xương”.
    nguon

  2. haiz00 says:

    Huyền Thoại Đu Dây
    Đào Hiếu

    Khi người ta nói Việt Nam đang đu dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ thì sự ví von ấy hàm ý liều lĩnh, bắt cá hai tay, muốn chơi với cả hai bên mà lại không thật lòng với bên nào. Có nghĩa là cà chớn. Và như thế thì rốt cuộc chẳng được gì. Sẽ trơ trọi, sẽ đơn độc. Và trò “đu dây” ấy sẽ rất nguy hiểm.
    Nhưng trên thực tế Việt Nam có đu dây không?

    Người đu dây là một người tự tin, dũng cảm, mạnh mẽ và tài năng. Nhưng đứng trước Trung Quốc và Mỹ thì chính quyền Việt Nam không hề có các tố chất ấy.
    -Không tự tin vì mặc cảm nước nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu. Trước đây Việt Nam huênh hoang là “đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ”. Nay thì tự ti đến nỗi một ông bộ trưởng Tàu sang Việt Nam để “kêu gọi đứa con hoang trở về” mà chính quyền cứ im thin thít.
    -Không dũng cảm vì nó giết ngư dân mình mà mình còn sợ phạm huý, chỉ dám gọi nó là “tàu lạ”. Nó đổ quân chiếm đảo của mình mà mình lại ra lệnh không được kháng cự để đến nỗi bị nó bắn tan xác 65 chiến sĩ hải quân ở Gạc Ma chỉ trong vòng mấy phút.
    -Không mạnh mẽ vì vũ khí thời chiến tranh để lại thì đã rỉ sét, vũ khí mới mua thì lèo tèo vài ba cái làm kiểng, và nạn tham nhũng tràn lan, quanh năm lo vơ vét ăn chặn, cắt xén, rút rỉa ngân sách, còn chí khí đâu mà đánh giặc?
    Thử hỏi một kẻ nhu nhược, tự ti mặc cảm và nghèo rớt mồng tơi như Việt Nam thì nhìn thẳng vào mặt người ta còn không dám, nói chi tới chuyện đu dây. Vì đu dây là “giỡn mặt tử thần”. Việt Nam có bản lãnh gì mà dám đu dây?
    Và điều quan trọng nhất là từ khi ông Hồ tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp đã khẳng định chỗ đứng của mình là trong vòng tay Trung Quốc rồi. Thắng trận Điện Biên Phủ cũng là nhờ vũ khí Trung Quốc, thắng Mỹ cũng nhờ vũ khí Trung Quốc.
    Cho nên miệng thì nói “không có gì quý hơn độc lập tự do” nhưng trong lòng thì đã quyết “đổi độc lập tự do đề nắm cho được chính quyền”.
    Từ chọn lựa đó mới đẻ ra “Cải Cách Ruộng Đất”. Trong chiến dịch này nhà cầm quyền Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc đến nỗi vì muốn lấy lòng họ mà phải bắn bỏ nhiều nhân sĩ yêu nước từng đem cả tài sản mình ra giúp đỡ kháng chiến.
    Năm 1990 ông Linh cùng các đồng chí của ông tại hội nghị Thành Đô đã làm một việc mà bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gọi là: “Bắt đầu một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm”.
    Năm 2010 liên tiếp nhiều phái đoàn quân sự cấp cao của Việt Nam sang học tập ở Trung Quốc, dấn thêm những bước quan trọng vào sự lệ thuộc quân sự.
    Rõ ràng là ngay từ những ngày đầu thành lập chế độ, thì Việt Nam đã hành xử như một tỉnh lẻ của Trung Quốc -trừ một giai đoạn ngắn từ năm 1975 đến 1979 có ý muốn thoát Trung và lập tức bị TQ “cho một bài học” bằng cuộc chiến tranh biên giới 1979 – còn lại, từ trước 1945 đến nay, chính quyền Việt Nam đã một lòng theo Trung Quốc, đã chọn Trung Quốc làm ông chủ, đã nguyện nâng khăn sửa túi cho Trung Quốc, đã khép nép làm “con nuôi” của các vị cha già dân tộc: Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và ngày nay là Tập Cận Bình.

    Với một “thân phận” như vậy, liệu Việt Nam có tư cách để “đu dây” qua phía Mỹ không?
    *
    Chuyện Việt Nam đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ xem ra chỉ là bịa đặt.
    Nhưng sao lại có chuyện các vị lãnh đạo cao cấp Việt Nam thăm viếng Hoa Kỳ?
    Tôi cho rằng các cuộc thăm viếng ấy cũng nằm trong kịch bản của Trung Quốc. Việt Nam muốn vào TPP, muốn mua vũ khí của Mỹ. Cả hai việc ấy cũng chỉ có lợi cho Trung Quốc.
    Xưa nay phần lớn các hàng xuất khẩu của “Việt Nam” sang Mỹ chỉ là trên giấy tờ, chỉ là nói cho oai, thực ra đó là hàng của Trung Quốc sản xuất tại Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu – tiếng là của Việt Nam – thực ra cũng là kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc.
    Việt Nam mua của Nga 2 tàu ngầm Kilo, nhưng Trung Quốc đã mua 20 tàu ngầm kilo giống như vậy. Liệu 2 chiếc có gãi ngứa được 20 chiếc nếu xảy ra chiến tranh không? Nếu câu trả lới là KHÔNG thì mua tàu ngầm để làm gì?
    Đối với một kẻ nhu nhược, mặc cảm và run rẩy thì có con dao trên tay hay không, cũng giống hệt nhau. Bởi vì vấn đề là anh có dám đâm hay không. Nếu anh không dám đâm thì cầm dao để làm gì? Mua dao để làm gì?
    *
    Vậy thì những dư luận cho rằng:
    -Việt Nam đang đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ.
    -Mỹ bỏ cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam vì vấn đề nhân quyền
    -Việt Nam mua vũ khi của Nga và Mỹ để đương đầu với Trung Quốc…tất cả đều xạo, vì:
    1/ Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Việt Nam luôn khẳng định mối quan hệ trước sau như một với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội và nhân dân Trung Quốc; thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển theo phương châm “16 chữ vàng” và tinh thần “4 tốt”.

    2/ Mớ vũ khí Việt Nam mua được quá ít ỏi (tiền đâu mua nhiều?), đối với Trung Quốc chỉ là những đồ chơi. Chưa kể việc Trung Quốc đã xây xong một sân bay quân sự trên đảo Hoàng Sa rồi. Cái sân bay ấy còn lợi hại hơn cả một hàng không mẫu hạm vì nó “đậu” sát bờ biển Việt Nam (chỉ cách Đà Nẵng hơn 300 km) và không thể bị đánh chìm!

    3/ Mỹ cũng rất muốn bán vũ khí cho Việt Nam (chế tạo vũ khí là một trong những nền công nghiệp quan trọng của Mỹ). Mỹ đưa vấn đề “nhân quyền” ra để mặc cả với Việt Nam cũng chỉ là màu mè, ra vẻ ta đây quan tâm tới nhân quyền, còn phía Việt Nam thì giữ thể diện cho Mỹ bằng cách thả tượng trưng vài người nổi tiếng. Trên thực tế nếu Việt Nam “đếch” thả người nào thì Mỹ vẫn bán vũ khí như thường (ngu sao không bán?)

    4/ Việt Nam mua vũ khí của Nga, của Mỹ nhưng không xài (vì có dám đánh nhau với Trung Quốc đâu mà xài?). Vậy mua để làm gì?
    Câu hỏi này làm người ta nghĩ ngay tới vụ Vinashin mua cái “ụ nổi”. Và vô số vụ “mua về đắp mền” khác nữa.
    *
    Chúng ta đang sống trong một thời đại XẠO HẾT CHỖ NÓI. Nga cũng xạo, Mỹ cũng xạo, Trung Cộng cũng xạo và Việt Nam cũng… rứa.
    “Mười Sáu Chữ Vàng”, “Bốn Tốt” cũng xạo, Mỹ “quan ngại sâu sắc” cũng xạo, Mỹ “bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí” cũng xạo, mà “đu dây” cũng xạo nốt.

    ĐÀO HIẾU
    nguon

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s