Thư Hồ Chí Minh gửi Stalin về chương trình cải cách ruộng đất tại VN

Thư Hồ Chí Minh gửi Stalin về chương trình cải cách ruộng đất tại VN

Nhà văn Nguyễn Tường Thụy, viết từ Hà Nội
2015-06-05

ccrd-4-305

Hình ảnh Cải cách ruộng đất và Tòa án Nhân Dân của ĐCS Việt Nam.

File photo

Một người bạn thân của tôi nói rằng hiện nay tư liệu về Hồ Chí Minh rất nhiều nên việc giải thiêng không còn cần thiết nữa. Theo tôi, người bạn này sống chủ yếu ở Mỹ nên mới nói như vậy. Bởi vì, một người bạn khác, là giảng viên đại học ở Việt Nam, cho biết rằng sinh viên đang hào hứng tham gia cuộc thi tìm hiểu chủ nghĩa Mác-Lê nin. Dĩ nhiên là tìm hiểu theo định hướng của đảng. Đồng thời, cá nhân tôi, khi tìm thông tin trên mạng thì thấy phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hiện đang được thực hiện một cách rầm rộ ở các trường đại học khắp cả nước, từ Bắc chí Nam.

Tư liệu về Hồ Chí Minh nhiều, nhưng ở Việt Nam,  sách lịch sử chính thống và báo chí chính thống chỉ cho phép công bố và truyền bá những tư liệu được phép của Ban Tuyên giáo. Hãy hình dung rằng cả thế giới biết việc Marx có con riêng, nhưng báo chính thống Việt Nam không thể đăng thông tin đó. Marx hay Hồ Chí Minh đều bị kiểm duyệt, nếu các thông tin làm ảnh hưởng tới cái gọi là “tư tưởng Marx-Lê nin” và “tư tưởng Hồ Chí Minh” mà đảng đã và đang tuyên truyền. Môn lịch sử, cũng như mọi môn khoa học xã hội khác, được dùng làm công cụ tuyên truyền trong các chế độ toàn trị cộng sản. Thậm chí, cách vận hành của hệ thống toàn trị khiến cho bản thân lịch sử cũng biến mất. Đến mức Václav Havel nói rằng trong chế độ toàn trị “không có lịch sử”.

Sẽ rất nhầm lẫn nếu cho rằng người dân Việt Nam hiện nay đã hiểu rõ chế độ của mình. Đáng tiếc, sự thật là, chỉ có một số rất ít người nhìn thấy bản chất của chế độ.

Đấy là lý do khiến những người đấu tranh cho dân chủ ở trong nước nghĩ rằng cần phải đi con đường khai minh, thông qua giáo dục. Tuy nhiên, bế tắc là ở chỗ, một khi trường học bị biến thành công cụ tuyên truyền của chính quyền, với sự hỗ trợ của các tổ chức đảng, của bộ máy an ninh mật, an ninh văn hóa và cảnh sát, thì việc khai minh qua con đường giáo dục trên thực tế sẽ bị cản trở, thậm chí không thể tiến hành được. Hoặc nếu thực hiện được thì cũng chỉ nửa vời, bởi bản thân sự hợp tác, trong xã hội toàn trị, đã bao hàm trong nó sự thỏa hiệp. Nan đề là ở chỗ : sự thỏa hiệp không cho phép thực hiện được mục đích giáo dục khai minh và giáo dục tự do. Liệu có thể giải quyết được nan đề, vừa thỏa hiệp với quyền lực toàn trị vừa thực hiện được một nền giáo dục đích thực ?

Một trong những con đường có thể có hiệu quả hiện nay là truyền thông tự do trên mạng  (trong đối lập với truyền thông tuyên truyền chính thống). Đại lộ thông tin internet là không gian mà những người muốn tiến hành các chương trình khai minh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí cần sử dụng. Ngoài ra, mọi con đường đều dẫn tới thành Rome. Câu hỏi có lẽ là: bao giờ những người hiện đang đi trên những con đường khác nhau có thể kết nối lại với nhau?

Những người muốn xây dựng Việt Nam thành một quốc gia độc lập, phát triển về kinh tế, khoa học, văn hóa, muốn xây dựng một xã hội dân chủ tại Việt Nam, cần đối diện với khó khăn to lớn này : việc bưng bít thông tin, truyền thông tuyên truyền một chiều, chính sách ngu dân… được thực hiện nhiều thập kỷ nay đã mang lại hậu quả ghê gớm đối với các thế hệ người Việt. Hậu quả đó chính là những bộ não bị đúc khuôn, bị tẩy trắng, mất khả năng tư duy, sẵn sàng tin vào những gì được tuyên truyền mà không hề hoài nghi, không hề đặt câu hỏi. Và mặt khác của vấn đề là ở chỗ những bộ óc như vậy lại tin rằng mình nắm giữ chân lý, rằng những ai khác mình đều là lạc hậu, phản động…

Trong bối cảnh đó, xin giới thiệu lại cùng quý độc giả hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin vào tháng 10  năm 1952 về vấn đề cải cách ruộng đất. Nội dung của chúng  xác nhận rằng Hồ Chí Minh là người thiết kế chương trình cải cách ruộng đất tại Việt Nam, dưới áp lực của Liên Xô và Trung Quốc.  Hai bức thư này đã được một số người dịch và phân tích trên một số website và blog. Ở đây tôi sử dụng bản dịch tiếng Pháp, được giới thiệu trong công trình khảo cứu lịch sử “Le communisme vietnamien (1919-1991)” của nhà nghiên cứu Céline Marangé, in năm 2012, tại Paris. Đồng thời tôi cũng dịch một đoạn phân tích  của Tiến sĩ Khoa học chính trị Céline Marangé về bối cảnh  lịch sử của hai bức thư này, và một đoạn ngắn khác bình luận về tính chất phức tạp của các nhân vật lịch sử và các sự kiện lịch sử Việt Nam. (Nguyễn Thị Từ Huy)

Phân tích của Céline Marangé về bối cảnh lịch sử của hai bức thư

Đầu những năm 1950, điện Kremlin vẫn còn rất thận trọng đối với cuộc chiến tranh Đông Dương và nhân vật Hồ Chí Minh. Kremlin chỉ ủng hộ đề nghị gia nhập Liên Hợp Quốc do nước Việt Nam Dân chủ  Cộng Hoà đệ trình ngày 29/12/1959, khi mà 9 tháng sau, Pháp cũng đưa ra một đề nghị tương tự cho “Nước Việt Nam của Bảo Đại” và cho các vương quốc Lào và Campuchia. Tương tự như vậy, khi mà tất cả các đại diện của các đảng cộng sản nước ngoài đã được mời đến dự đại hội lần thứ XIX của đảng cộng sản Liên Xô, Hồ Chí Minh buộc phải viết thư cho Stalin để được mời tham dự. Ngày 30 tháng 9 năm 1952, Hồ Chí Minh gửi cho Stalin một bức điện tín từ Bắc Kinh để xin ông ta cho phép được bí mật tới Moscou. Ngày 2 tháng 10 Stalin cho phép Hồ Chí Minh tới tham dự với hình thức “không chính thức”.

Joseph Stalin.
Joseph Stalin.

Trong thư trả lời Stalin, gửi ngày 17 tháng 10, Hồ Chí Minh đề nghị Stalin cho Liu Shao-qi tham dự vào những thảo luận về Việt Nam. Ba người đó gặp nhau tại Moscou ngày 28 tháng 10 năm 1952. Trước cuộc họp, Liu Shao-qi đã đề nghị Stalin phải nài Hồ Chí Minh để ông ta tiến hành cải cách ruộng đất tại Việt Nam. Hồ Chí Minh lúc đó muốn dừng lại ở việc giảm tiền lĩnh canh. Nhưng khi Stalin yêu cầu ông ta thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất theo mô hình cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã chịu thuận theo ý muốn của Stalin. Hai ngày sau, ông viết cho Stalin đề nghị gửi tới Việt Nam hai cố vấn Xô Viết, ưu tiên người nói tiếng Pháp, và đề nghị nhận các sinh viên Việt Nam đến đào tạo tại Moscou, và đặc biệt là cung cấp các vũ khí hiện đại. Hôm sau, ngày 31 tháng 10, Hồ Chí Minh chuẩn y một chương trình cải cách ruộng đất, đã được hiệu chỉnh với sự hỗ trợ của Liu Shao-qi và Wang Jiaxiang, đại sứ đầu tiên của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô (1949-1951).

Trước khi rời khỏi Moscou, Hồ Chí Minh viết một lá thư cảm ơn Stalin, trong đó một lần nữa ông hứa với Stalin sẽ dành tâm lực vào cuộc cải cách ruộng đất. Những bức thư này mang lại cảm giác rằng Hồ Chí Minh đã chấp nhận tiến hành cải cách ruộng đất để có được vũ khí với số lượng lớn và để tạ lỗi với Stalin, cho đến lúc đó vẫn tiếp tục dè chừng Hồ Chí Minh. Tháng 12, Stalin tuyên bố với Liu Shao-qi và đại sứ Trung Quốc rằng ông ta “về phần mình, đánh giá  Hồ Chí Minh là một người tốt, dù ban đầu thì không tốt”. Khi trở về Việt Nam, Hồ Chí Minh đề nghị Mao Trạch Đông cung cấp các chuyên gia về cải cách ruộng đất và cung cấp các ý tưởng. Ban bí thư trung ương của đảng cộng sản Trung Quốc gửi sang Wang Li, người đảm nhiệm chức vụ “cố vấn tinh thần và ý thức hệ”, đồng thời, về sau, đó là một trong những người chỉ huy Cách mạng văn hóa Trung Quốc, trước khi bị bắt vì tội “khuynh tả cực đoan”, vào năm 1967. Để đến phụ giúp cho Việt Nam, Wang Li có thêm Qiao Xiaoguang, một chuyên gia về cải cách ruộng đất, người đã lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc vùng Quảng Tây. Ngày 2 tháng 3 năm 1953, tức là ba ngày trước khi Stalin chết, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua một nghị định về việc phân loại bộ phận dân cư ở nông thôn, nghị định này được dùng làm cơ sở pháp lý cho cải cách ruộng đất và cho “tòa án giai cấp”.

(Trích từ cuốn “Le communisme vietnamien (1919-1991)”, Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 193-195)

Hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin

1.Thư thứ nhất

Đồng chí I.V. Stalin thân  mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam, và sẽ nhanh chóng trình bày với  đồng chí.

Tôi gửi tới  đồng chí cùng một số yêu cầu sau đây, và hy vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.

1.Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng tại chỗ. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp, họ có thể thể giao tiếp với một tầng lớp rộng rãi. Mất khoảng mười ngày để đi từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi.

2.Chúng tôi muốn gửi 50-100 học sinh sang Liên Xô học tập, họ đã có trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, một vài người trong số họ là đảng viên và những người khác chưa phải là đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí có nhất trí về vấn đề này không?

3.Chúng tôi muốn nhận từ các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh (thuốc chống sốt rét) cho quân đội và dân thường, có nghĩa là cứ nửa năm nhận 5 tấn.

4.Chúng tôi cần những loại vũ khí sau đây :

a) Pháo binh phòng không  37 li cho 4 trung đoàn, tổng số là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.

b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tổng số là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

c) Súng máy phòng không 12,7 li cho hai trung đoàn, tổng số là 200 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định sẽ rời khỏi Moscou vào ngày 8 hoặc ngày 9 tháng 11 [1952].

Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và những lời chúc tốt đẹp nhất !

Hồ Chí Minh

30-10-1952

2.Thư thứ hai

Đồng chí I.V. Stalin thân  mến

Tôi gửi đồng chí chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam. Dự án chương trình do tôi soạn thảo, với sự hỗ trợ của đồng chí Liu Shao-qi và [đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô từ 1949-1951 Wang Jiaxang].

Mong đồng chí xem xét và cho chỉ thị về vấn đề này.

Gửi đồng chí lời chào cộng sản.

Hồ Chí Minh

31/10/1952

(Phụ lục 4, Le communisme vietnamien (1919-1991), Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 534-535)

Bình luận của Céline Marangé

Bình luận của Céline Marangé về tính phức tạp của các nhân vật lịch sử và các vấn đề lịch sử của Việt Nam:

Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam vẫn còn là một chủ đề nhạy cảm và tương đối ít được khai thác. Kỷ niệm về cuộc chiến tranh Việt Nam, được khơi dậy bởi sự can thiệp của Mỹ tại Irak năm 2003, và đặc biệt là cái kỷ niệm, được người ta thi nhau lý tưởng hóa, về phong trào sinh viên phản đối chiến tranh, cuộc chiến được nhìn nhận như là “chiến tranh vệ quốc chống đế quốc Mỹ”, ở Pháp,  kỷ niệm ấy vẫn luôn đảm bảo cho những cảm tình nhất định đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Ở phía ngược lại, trong một bộ phận khác của dân chúng Pháp, ký ức về cuộc chiến tranh Đông Dương, thậm chí hoài niệm về Đông Dương thuộc Pháp, vẫn còn chưa tắt hẳn. Ở Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam tiếp tục kích động những thiên kiến tồn tại rất lâu sau khi xe tăng Bắc Việt tiến vào Sài Gòn và sau khi chế độ Miền Nam Việt Nam thất thủ vào ngày 30/4/1975. Đối với những người Việt lưu vong căm thù cộng sản, Hồ Chí Minh bị cố tình biến thành quỷ dữ. Người ta gán cho ông tính cách gian xảo, quỷ quyệt, hay thậm chí cả tính cách  bá quyền mà chắc hẳn ông không bao giờ có. Tương tự như thế, mặc dù tướng Giáp giành được sự khâm phục ở những vị tướng vốn là kẻ thù của ông, nhưng ông thường xuyên bị miêu tả như một kẻ tính toán lạnh lùng, thờ ơ với số phận của lính tráng, và bị xem như một lãnh đạo có quyền lực tuyệt đối. Tai tiếng của hai người này lớn đến mức che lấp hết những nhân tố hàng đầu khác ở họ. Thế nhưng, trong thực tế, không có gì đơn giản. Không ai đơn giản hết. Cả Hồ Chí Minh, cả tướng Giáp đều không đơn giản, và có thể còn phức tạp hơn đối với những lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô đã cố bẻ cong các sự kiện ở Việt Nam. Từ những năm 1960 trở đi, quyền lực phần lớn đã không còn nằm trong tay họ. Những người khác đã nắm giữ quyền lực.

(Trích từ cuốn “Le communisme vietnamien (1919-1991)”, Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 29)

Nhà văn Nguyễn Tường Thụy, viết từ Hà Nội

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

nguon
Tin Chiến Tranh

Quyền lực Mỹ suy giảm và mối đe dọa Trung Quốc nổi lên
Về Đối thoại Shangri-La – Quang trong biển đông
Diễn đàn Shangri-La : Việt Nam cs ‘nhu nhược’, Tàu ‘lươn lẹo’, Mỹ ‘chửi Tàu’
Đừng ảo tưởng vào yểm trợ của Mỹ – Quan Ngụy Saigon Hoàng Đức Nhã
Chiến Tranh Lạnh Mới – Quan Ngụy Saigon Nguyễn Xuân Nghĩa
Một tai nạn trên Biển Đông có thể khơi mào chiến tranh Mỹ-Trung
Nghĩ Ðến Thế chiến III Với Trung Quốc
Chảo Dầu Châu Á: Biển Đông Và Khu Vực Châu Á – Thái Bình Dương ổn Định
Trung Quốc ra Sách Trắng sặc mùi diều hâu, tuyên chiến với Mỹ trên Biển Đông
Trung Cộng – Mỹ đánh nhau không ?
Quốc Phòng Mỹ Tin Rằng Trung Quốc Sẽ Đánh Việt Nam
Trung Quốc sẽ bất chiến tự nhiên thành
Mỹ Việt ký tuyên bố chung phát triển quan hệ quân sự
Đối Phó Với Trung Quốc
Ước Lượng Rủi Ro Ngoài Đông Hải – NX Nghĩa ngụy saigon
Tranh chấp Biển Đông sẽ làm bùng nổ Thế chiến Thứ III

Bài Đọc Chú Ý :

Quan Điểm Ngô Đình – Hiểm Họa Xâm Lăng của Trung Cộng
Tuổi Trẻ – Sau 30 Năm Tị Nạn Cộng Sản VN
Hồ Chí Minh – tên Diệt Chủng thế kỷ 20
TT Phạm Văn Đồng – Trả lời việc Cải Tạo tại Paris năm 1977
Thanh Trừng Nội Bộ – Cộng Sản VN
Hòa bình của nấm mồ – TT Nguyễn Văn Thiệu
Kissinger bị dân Mỹ biểu tình Tại Thượng Viện Mỹ
CIA Giữ Bí Mật – Bắc Việt Đầu Hàng Vô Điều Kiện 1973
30.4.75 ngày giải phóng – kẻ xấu thắng
Hậu Quả – Kẻ Dốt Ôm Súng Dựng Nước
Chủ Nghĩa csVN – Sụp Đổ là Tất Yếu
Chủ Nghĩa Cộng Sản Trên Thế Giới – Hiện Tại & Tương Lai
Thuyền Nhân Vượt Biển – 30.4.75
16 Tấn Vàng VNCH – csVN Nộp Liên Xô
Trung Cộng Muốn Xóa Sổ Việt Nam Trên Thế Giới
40 năm, nhìn lại về ngôn từ – Nhà văn CS Bắc Việt Dương Thu Hương
Hitler và Stalin: “Liên minh ma quỷ”
Thư Hồ Chí Minh gửi Stalin – Cải cách ruộng đất VN

Advertisements
This entry was posted in Bí Mật Thâm Cung csVN, Hồ Chí Minh. Bookmark the permalink.

3 Responses to Thư Hồ Chí Minh gửi Stalin về chương trình cải cách ruộng đất tại VN

  1. haiz00 says:

    Chung Quanh Vài Luận Điểm Mới Về Hồ Chí Minh

    1 – Tìm đường cứu nước

    Hồ Chí Minh chết nay được 46 năm, mồ yên mả đẹp nhưng ông vẫn chưa được yên. Người ta đào bới lên đủ thứ chuyện về ông: bản thân, gia đình, con đường lập thân,… để xác định một Hồ Chí Minh thiệt trong lịch sử Việt Nam.

    Gác qua những phê phán, công kích hay đánh giá hoàn toàn tiêu cực về Hồ Chí Minh, chúng ta, hôm nay, chỉ ghi nhận, trong gần đây, xuất hiện vài nhận định (*) khá mới, ôn hòa, có vẻ như mang tính khách quan, phê phán tình trạng kinh tế tụt hậu, xã hội băng hoại, đạo đức bật gốc, tham nhũng tràn lang, đàn áp dã man mọi người khác chánh kiến,…và qui trách tất cả đều do “lỗi hệ thống”. Tức lỗi của chế độ. Và chế độ đó là chế độ ở Hà Nội hiện nay. Từ phê phán này, người ta mới đặt vấn đề “cần có nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào để đạt tới sự chính xác, công bằng, khách quan?”.

    Ai cũng biết Hồ Chí Minh là người cộng sản và khai sanh ra chế độ cộng sản ở Hà Nội năm 1945. Vậy ông có những liên đới trách nhiệm gì với tình trạng đất nước suy đồi hiện nay, với những tội ác “long trời lở đất” do đảng cộng sản của ông gây ra cho dân tộc liên tục từ trước tới nay hay không?

    Những luận điểm nhằm khôi phục giá trị lịch sữ Hồ Chí Minh, cho rằng ông không phải là người đầu tiên du nhập cộng sản vào Việt Nam, ông là người cộng sản theo Lê-nin chớ không phải theo Staline-Mao, ông là người yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc, dân chủ, theo Tôn Dật Tiên và Phan Chu Trinh, …

    Chúng tôi sẽ tuần tự đưa ra những luận điểm nhằm khôi phục lại giá trị lịch sử của Hồ Chí Minh và những nhận xét của chúng tôi.

    I – Công lao to lớn cứu nước, giải phóng dân tộc?

    Ngày 6 tháng 3/1946, Hồ Chí Minh ký thoả hiệp án với Pháp để rước Pháp trở lại Hà Nội với ý đồ mượn tay Pháp tiêu diệt lực lượng các đảng phái quốc gia vì lúc bấy giờ lực lượng việt minh hãy còn yếu. Có người trong hàng ngũ lãnh đạo Mặt Trận Việt Minh, lúc đó, hỏi Hồ Chí Minh: “Nhựt trao trả độc lập cho Việt nam. Tại sao ta không nhận mà còn đánh giặc?”. Hồ Chí Minh không ngần ngại giải thích: “Ta nhận độc lập đó là độc lập của các đảng phái quốc gia. Độc lập thật sự là độc lập do ta cướp được chánh quyền…”.

    Trong quá khứ có nhiều cơ hội độc lập, tránh chiến tranh đổ máu, cùng xây dựng đất nước dân chủ và phát triển. Nhưng Hồ Chí Minh đều bỏ qua và còn tuyên bố “Dù phải đánh giặc mười năm nữa để có độc lập cho ta, ta cũng phải làm”.

    Trong những cơ hội đó, độc lập đầu tiên và thật sự, cần ghi nhớ, là độc lập do Hoàng Đế bảo Đại tiếp thu ở Nhựt với đầy đủ giá trị pháp lý và cả tính chánh đáng. Nhưng biến cố này bị quên lảng do tuyên truyền của cộng sản chỉ nhắc nhở cách mạng tháng 8 và Tuyên ngôn Độc lập 2/9 của Hồ Chí Minh. Tiếp theo, chánh quyền quốc gia Đệ I Cộng Hòa vì chủ trương “bài phong đả thực” mà nhận chìm bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại thêm mấy độ sâu nữa trong quên lãng.

    Thật bất hạnh cho dân tộc! Sau khi thu hồi độc lập, ngày 17 tháng 3 năm 1945, Hoàng Đế bảo Đại ban hành Dụ số 1, long trọng xác nhận những điểm cụ thể về vận mệnh mới của Việt Nam:

    “1/ Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu “DÂN VI QUÍ”.

    2/ Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Đại-Đông-Á.

    3/ Trẫm sẽ tài định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân “.

    Nhận định về Đạo dụ này, Luật Sư Bùi Tường Chiểu (Thanh Nghị, số 107, ngày 5 tháng Năm 1945) nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của bản văn:

    “Đạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng Đạo dụ này đã nêu lên một cách tóm tắt những quả quyết rõ ràng về những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này”.

    Dựa trên “Dân Vi Quý”, ông phân tích:

    “Nay đạo Dụ số 1 đã nêu lên khẩu hiệu Dân vi quí có nghĩa là Hoàng Đế Bảo Đại đã hủy bỏ cái lý thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đã cho là không hợp thời. Đã lấy dân làm trọng, đã lấy quyền lợi dân để trên tất cả thì vua tất chỉ là một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng vụ quốc gia, tìm những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi hành. Như thế là trong nền chính trị Hoàng Đế Bảo Đại đã định đặt quốc dân ta đi vào một con đường mới” (**).

    Sau đó, Hoàng Đế Bảo Đại đã từng bước tiến hành tổ chức Chánh quyền, xây dựng đất nước bằng những nguyên tắc lấy dân chủ làm căn bản để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp của nhiều người thay vì của một thiểu số quan lại trong triều. Tức chánh sách Đại đoàn kết dân tộc. Cụ thể, Ngài cho thành lập 4 cơ quan tối cao gồm các nhơn sĩ đại diện đủ 3 Miền:

    Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp,

    Hội Đồng Cải Cách cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính,

    Hội Đồng Cải Cách Giáo dục,

    Hội Đồng Thanh Niên.

    Nhà Vua còn ban hành một số Dụ về các quyền căn bản như Tự do lập nhiệp đoàn, Tự do lập hội, Tự do hội họp, …

    Đây là những đạo luật ấn định những nguyên tắc qui định các quyền tự do căn bản của người dân của một chế độ dân chủ pháp trị thật sự.

    Chỉ trong vòng không quá 3 tháng, Chánh phủ Việt nam Độc lập đầu tiên Trần Trọng Kim, dưới sự lãnh đạo của Hoàng Đế Bảo Đại, đã thật sự chấm dứt chế độ quân chủ cả ngàn năm trong đó 400 năm triều đại Nhà Nguyễn, đã đặt được những nền móng cho một chế độ dân chủ thật sự theo nguyên tắc “do dân, vì dân” (Dân vi quí). Phải chăng đây là một cuộc cách mạng chánh trị đúng nghĩa của nó? Điều này thực hiện được tốt đẹp do lòng ái quốc và sự quyết tâm của nhà vua phối hợp với tâm huyết tha thiết đem lại nền độc lập cho Việt nam của Nội các Trần Trọng Kim.

    Nhưng nền độc lập này là của đất nước việt nam chớ không phải của cộng sản Đệ III Quốc tế nên ngày 19/8, Hồ Chí Minh đã phải ra tay “cướp chánh quyền” (sau khi chánh phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm) và dẹp bỏ tất cả các cơ chế dân chủ vừa thành lập, điển hình, ngày 22/9/1945, sau khi tuyên bố độc lập lần nữa, Hồ Chí Minh ban hành lệnh “bãi bỏ các nghiệp đoàn trên toàn cỏi Vìệt nam” và Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký Nghị định ngày 14/9/1945 giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức, đồng thời ký một Nghị định khác thành lập Hội Văn Hóa Cứu Quốc Việt nam.

    Sự hiệu lực xóa bỏ các cơ sở dân chủ của nước Việt nam độc lập do Nhà Vua Bảo Đại tuyên cáo ngày 11 tháng 3 năm 1945 là từ 1954, rồi 30/04/75, mọi quyền căn bản của người dân bị Hồ chí Minh và chế độ cộng sản do ông khai sanh tước đoạt sạch. Người dân bị chế độ độc tài khủng bố, đàn áp. Đất nước bị đảng cộng sản từng bước đưa vào vòng lệ thuộc Tàu theo cùng hệ xã hội chủ nghĩa.

    Đó là công lao to lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh chọn lựa con đường cộng sản để cứu nước và giải phóng dân tộc mà người dân, ai không cộng sản, cũng đều thấy rỏ ràng.

    II – Hồ Chí Minh phải chọn con đường cộng sản lê-nin

    Lập luận bênh vực Hồ Chí Minh giải thích rằng hồi thập niên 20 của thế kỷ trước Hồ đã phải chọn con đường Lê-nin vì “tư bản lúc đó đi chiếm thuộc địa, từ đầu đến chân nó đều thấm bùn và máu”, khác với ngày nay “đã lột xác trở thành văn minh. Cũng như vậy, Quốc tế III thời Lê-nin đầu thế kỷ XX cũng khác với cộng sản đã bị Staline và Mao hóa sau này. Nếu Quớc tế III không công khai ủng hộ các dân tộc thuộc địa – nếu cũng chỉ như Quốc tế II – chắc gì Hồ đã ngã theo chủ nghĩa cộng sản?

    Thứ hai, cũng cần phân biệt điều mà Hồ Chí Minh tự giác, chủ động lựa chọn với điều mà tình thế bắt buộc ông phải chấp nhận (khi không còn CON đường nào khác), lại càng khác xa với những điều người khác nhân danh Hồ Chí Minh đã làm! Vai trò của vĩ nhân là ở chỗ có biết nắm bắt thời cơ và tận dụng được thời cơ do thời cuộc mang lại để thành đạt mục tiêu độc lập, thống nhất hay không; còn cá nhân một lãnh tụ, dù lỗi lạc đến đâu – nhất là lãnh tụ của một nước thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu như nước ta – làm sao có thể vượt qua được vị thế yếu kém của mình, để tác động vào thời đại, nhằm thực hiện thắng lợi lý tưởng, hoài bão mà mình theo đuổi?”.

    Ngày nay, người cộng sản không thể bênh vực Staline và Mao vì 2 người này đã gìết hại hằng 100 triệu nhơn dân của họ khi họ cầm quyền. Và còn qui sự cai trị bạo ngược, dã man của cộng sản ở Tàu, Bắc hàn và Việt nam là do theo Staline và Mao. Vậy Lê-nin thế nào?

    Chúng tôi, để phơi bày lại bộ mặt thật, rất thật của Lê-nin mà Hồ Chí Minh đã chọn đi theo làm cách mạng vì không có con đường nào khác – và đó là một chọn lựa của một vĩ nhơn vì tự giác – không gì bằng mời bạn đọc xem qua bức điện của Lê –nin gởi đi ngày 11 tháng 8 năm 1918 kêu gọi giết:

    “Này các đồng chí, cuộc nổi dậy của phú nông trong năm vùng của các đồng chí phải được tiêu diệt không thương tiếc. Quyền lợi của cách mạng bắt buộc, bởi vì ở khắp nơi, sự tranh đấu với phú nông từ nay đi vào giai đoạn kết thúc.

    Các đồng chí phải:

    1/ Bắt (tôi nói bắt là làm cho mọi người trông thấy) không dưới một trăm phú nông hút máu nhơn dân.

    2/ Công bố tên tuổi của chúng nó.

    3/ Tịch thâu tầt cả mùa màng của chúng.

    4/ Nhận dìện những con tin như tôi đã chỉ thị trong bức điện hôm qua. Làm điều này bằng cách trong phạm vi hơn 100 km, nhơn dân chứng kiến được, thấu hiểu, rung sợ và thét lên: người cách mạng sìết cổ và tiếp tục sìết cổ những phú nông hút máu.

    Các đồng chí hảy đánh điện trả lời đã nhận được và đã thi hành chỉ thị này.

    Lê-nin của các đồng chí” (Nicolas Werth, Lénine, Paris, 2003).

    Bức điện này là một trong hằng ngàn văn kiện của vị sáng lập ra Liên-xô chưa bao giờ được phổ biến, cả trong “Lê-nin Toàn tập” qua suốt 5 lần ấn hành trong thời gian từ 1920 tới 1960.

    Nhờ Liên-xô sụp đổ, văn khố mở cửa mà những văn kiện “kiểm duyệt của Lê-nin” mới được các sử gia tham khảo.

    Cũng về đường lối chánh trị của Lê-nin, Simon Leys (Essais sur la Chine, Robert Laffont, Paris, 1998) trích dẩn một câu nói kinh điển của Lê-nin tưởng cũng cần ghi ra đây để thấy tại sao cộng sản phải cai trị độc tài triệt để: “Một chế độ sẳn sáng thực thi khủng bố không giới hạn thì không thể nào bị sụp đổ được”.

    Hơn nữa, nên nhớ Lê-nin rất tâm đắc “Hư vô chủ nghĩa” (nihilisme). Trong quyển “Le jeune Staline – Calmann-Lévy, Paris, 2010”, tác giả người Anh S.S Montefiore kể lại chuyện Staline thởi trai trẻ được Lê-nin tuyển dụng vì bản tánh du đảng, đã có thành tích ăn cướp, để đào tạo Staline ăn cướp ngân hàng lớn lấy tiền lập đảng cộng sản. Nhà Hư vô chủ nghĩa Serge Netchaiev, trong “Giáo lý Cách mạng” nổi tiếng, dạy rỏ để trở thành người cách mạng cộng sản “Mọi âu yếm, ủy mị trong tình ruột thịt, bằng hữu, tình ái, lòng biết ơn và ngay cả danh dự phải được thủ tiêu, nhường chổ cho một thứ đam mê duy nhứt và lạnh lùng là cách mạng”.

    Chính nhóm khủng bố “Ý Chí Nhơn Dân” lúc bấy giờ lấy tư tưởng của Serge Netchaiev làm kim chỉ nam mà “Giáo lý của Nhà Cách mạng” đã khai sanh ra Lê-nin và Staline. Giáo lý dạy phải bìến cái thế giới những người du đảng này thành một sức mạnh vô địch và bất diệt” (Le jeune Staline, các trang 180-183).

    Nay mọi người đã hiểu tại sao báo Anh, Daily Mail, 10/2014, trong bài “Từ Staline đến Hitler, những chế độ diệt chủng ác nhứt thế giới” ghi tên Hồ Chí Minh vào danh sách cùng với những tên đồ tể như Staline, Mao Trạch-đông, Hitler, Kim Nhựt-thành, Pol Pot và nói rỏ thêm “Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản ở Hà nội là thủ phạm gây ra cái chết của ít nhứt 200 000 người dân Mìền nam Việt nam”.

    Vậy ai có thể nói khác hơn được Hồ Chí Minh và cái đảng cộng sản của ông vì học theo Lê-nin mà cho tới ngày nay không luôn luôn “ngập trong bùn và máu của nhơn dân việt nam từ đầu tới chơn”?

    Và Hồ chí Minh không ai khác hơn là tên tội phạm chống nhơn loại, một thứ tội bất khả thời tiêu!

    (*) Lê Kỳ Sơn, “Chung quanh vấn đề nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh hiện nay”, Việt-Studies, 17/05/2015

    Từ Quốc Hoài, “Tháo bỏ ách tắc để giử lấy độc lập và chấn hưng đất nước – Thư ngỏ gời Ban Chấp Hành tW và đảng viên đảng cộng sản việt nam”, internnet, 31/07/2014.

    (**) Phạm Cao Dương, “Lẽ ra ngay từ năm 1945, dân tộc ta đã có độc lập, tự do rồi”, trên «dhsps.org.

    Nguyễn văn Trần
    nguon

  2. haiz00 says:

    PHẢI PHÁ VỠ NHỮNG NGỤY BIỆN VỀ HỒ CHÍ MINH

    Phạm Khánh Chương
    6-6-2015
    Hồ Chí Minh là tên diệt chủng thế kỷ 20

    Vậy, hoàn cảnh lịch sử phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh và Việt Minh bắt buộc phải thủ tiêu đối lập? Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh chỉ có thể làm “cuộc cách mạng Đông Dương…..bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” , phát động cuộc “trường kỳ kháng chiến” kéo dài 9 năm làm chết hàng vạn người?

    Tất cả lý luận để bênh vực Hồ Chí Minh chỉ là hình thức đánh lừa vị giác, hay nói cách khác, là tự đánh lừa mình. Biết là sai nhưng vẫn tự đánh lừa mình thì là ngu, nhưng dùng nó để đánh lừa cả người khác là bất lương, là tội ác.

    Những kẻ biện hộ cho Hồ Chí Minh lý luận rằng ông ta ảnh hưởng tư tưởng Khổng Giáo nhiều hơn tư tưởng CS, rằng những việc làm của ông ta lúc trước là do biện pháp tình thế, ngoài ý muốn, do người khác làm, rằng nhận xết về Hồ Chí Minh phải khách quan về hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, v,v….Tất cả những lý luận biện hộ đó đều là ngụy biện.

    Hồ Chí Minh xuất thân bần nông, có khuynh hướng dùng bạo lực để giải quyết vấn đề hơn dùng trí óc để tìm giải pháp. Chính vì thế, năm 1920, khi ông ta đọc được “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lenin, ông ta hoàn toàn bị CS mê hoặc vì CS chủ trương đấu tranh bạo lực để giải phóng con người, giải phóng XH.

    Nếu Cụ Phan Chu Trinh chủ trương nâng cao dân trí, hội nhập thế giới văn minh, rồi từ đó đấu tranh giành độc lập mà không cần dùng bạo lực hay cầu viện ngoại bang thì Hồ Chí Minh đã chọn con đường hoàn toàn trái ngược. Và ông ta đã đi theo, và chỉ theo con đường trái ngược đó cho tới khi chết.

    Tuy bị mê hoặc bởi chủ nghĩa CS và đi theo CS, Hồ Chí Minh khi ấy cũng không hiểu rõ CS. Chính vì không hiểu CS là gì nên tại Hội Nghị Quốc Tế Nông Dân năm 1923, Hồ Chí Minh chỉ nêu ra vấn đề thuộc địa (thực chất là nêu ra vấn đề đàn áp nông dân tại thuộc địa) mà không quan tâm (hay không biết đến) những vấn đề khác của phong trào CS trên thế giới lúc bấy giờ  như phong trào công nhân, phong trào đấu tranh ở thành thị, v.v… Điều này làm Stalin không hài lòng, gây khốn khổ cho Hồ Chí Minh đến mãi sau này, cho tới khi ông ta hiểu biết hơn về CS và “sửa sai tư tưởng” bằng phong trào Cải Cách Ruộng Đất tại VN.

    Sự mơ hồ về chủ nghĩa CS của Hồ Chí Minh còn kéo dài cho tới khi Trần Phú về triệu tập Hội Nghị Trung Ương tháng 10-1930, đổi tên đảng CSVN thành đảng CS Đông Dương, nhấn mạnh phải lấy “giai cấp chống giai cấp làm trọng tâm cho mọi đường lối đấu tranh chính trị của đảng.

    Những tay lý luận biện hộ cho Hồ Chí Minh chụp lấy cơ hội trên cho rằng khuynh hướng “tả”“những hành động bạo lực” sau đó là “ngoài ý muốn” của Hồ Chí Minh vì lúc đó Hồ Chí Minh đang ở nước ngoài. Đây chỉ là ngụy biện vì đường lối CS Quốc Tế là đường lối chung, có Hồ Chí Minh khi ấy hay không cũng vậy, Trần Phú chỉ là người làm sáng tỏ đường lối đấu tranh theo ý thức hệ CS mà những đảng viên CS, kể cả Hồ Chí Minh, phải tuân theo.

    Những kẻ ngụy biện còn cố gán cho Hồ Chí Minh ảnh hưởng Khổng Giáo để làm giảm bản chất CS của ông ta, nhưng ai học sách Nho ngày xưa mà không ảnh hưởng Khổng Giáo? Thật ra, Hồ Chí Minh cũng có ảnh hưởng bởi Khổng Giáo và một số tư tưởng dân chủ Âu Tây, ông ta từng viết “Khổng tử, Jésus, Marx, Tôn Dật Tiên,…đều có những điểm chung giống nhau, đó là cùng mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Tôi cố gắng là người học trò nhỏ của các vị ấy”, nhưng những bài viết, văn kiện của Hồ Chí Minh cho thấy ông ta chịu ảnh hưởng rất nặng tư tưởng CS của Lenin. Điều này chứng tỏ Hồ Chí Minh tuy mơ hồ về lý thuyết CS nhưng ông ta không mơ hồ về con đường mình đi và quyết tâm chọn con đường đó vì nó phù hợp với bản chất của ông ta.

    Chính vì ảnh hưởng rất nặng tư tưởng của Lenin và quyết tâm theo con đường CS, Hồ Chí Minh đã dể dàng chấp nhận lấy quan điểm “giai cấp đấu tranh giai cấp” bạo lực của Stalin và Mao làm con đường đấu tranh duy nhất để “lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế đxã hi ch nghĩa, thiết lập chuyên chính vô sản” (cương lĩnh của Đệ Tam Quốc Tế do Lenin lãnh đạo).

    Việc Hồ Chí Minh có phải là người đem CNCS hay thành lập đảng CS tại VN hay không không thành vấn đề, ông ta vẫn là một trong những đảng viên tiên phong của phong trào CS tại VN. Đảng CS do ông ta lãnh đạo và kế thừa đã tích cực áp dụng phương pháp đấu tranh bạo lực, “giai cấp chống giai cấp” của Stalin và Mao để giải quyết vấn đề đất nước.

    Ngoài ra, nếu nói sự chọn lựa đó “ngoài ý muốn” thì tại sao năm 1941, khi ban Trung Ương cũ do Trần Phú dựng lên và những người theo ông ta bị bắt và hy sinh gần hết, Hồ Chí Minh về làm lãnh tụ tối cao của đảng, ông ta không thay đổi quan điểm đấu tranh của đảng?

    Hồ Chí Minh và đảng CS có rất nhiều cơ hội để thay đổi đường lối đấu tranh hòa bình hơn, nhân bản hơn theo hướng những đàn anh đi trước và trí thức hơn ông ta như Cụ Phan Chu Trinh, nhưng ông ta và đảng CS đã không làm, vì đó không phải chủ trương của đảng CS nói chung. Nói tới  Cộng sản, Việt Minh hay sau này là Việt Cộng, là nói tới thanh trừng, khủng bố và dối trá. Bạo lực và dối trá nối tiếp bạo lực và dối trá.

    Hồ Chí Minh đã khéo léo dùng chiêu bài “dân tộc”, “yêu nước” để che dấu bộ mặt thật Việt Minh-Cộng Sản với nhân dân VN, nhưng không thể qua mắt được người Mỹ. Người Mỹ và các nước Tây phương biết rõ Hồ Chí Minh không phải là “nhà ái quốc” hay người theo “chủ nghĩa dân tộc” (dù có vài người tin như vậy!), Hồ Chí Minh chỉ là một đảng viên đảng CS Quốc Tế dưới sự lãnh đạo của CS Xô-viết.

    Tình hình VN lúc bấy giờ rất phức tạp (Pháp, Nhật, Tàu, phe phái, v.v…), nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh của đảng CS do Hồ Chí Minh lãnh đạo có thay đổi nhưng quan điểm đấu tranh hoàn toàn không thay đổi. Kết quả, tháng 8-1945, thay vì kết hợp với chính phủ Trần Trọng Kim để xây dựng một nhà nước dân chủ, đa đảng, Hồ Chí Minh chọn việc cướp chính quyền, loại bỏ chính phủ đầu tiên của VN, một chính phủ hợp hiến của một quốc gia độc lập, độc lập không đổ máu.

    Tháng 5-1946, Hồ Chí Minh qua Pháp dự Hội Nghị Fontainebleau, thực chất là tránh mặt cho Võ Nguyên Giáp thủ tiêu các đảng phái khác như Quốc Dân Đảng, Việt Cách, Việt Quốc, Đại Việt và những người Trotskist, tức là thủ tiêu những người không cùng đường lối, không cùng ý thức hệ CS.

    Thật ra, dù Hiệp Ước 1946 thành công hay thất bại, dù Pháp có phá vỡ Hiệp Ước hay không, Hồ Chí Minh và đảng CS cũng sẽ sử dụng vũ lực vì tư tưởng sử dụng bạo lực để cướp chính quyền đã có từ trước. Ngày 19-5-1941, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII, Hồ Chí Minh đã khẳng định, trích:

    cuộc cách mạng Đông Dương sẽ kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”.

    Tư tưởng bạo lực của QTCS luôn chi phối mọi suy nghĩ và hành động của ông ta.

    Tháng 3-1947, lấy lý do Pháp phá vỡ Hiệp Ước, Hồ Chí Minh kêu gọi tiêu thổ, trường ký kháng chiến. Năm 1951, tình hình thuận lợi cho phép Hồ Chí Minh lộ mặt, đưa đảng CS ra hoạt động công khai trở lại, lấy tên là đảng Lao Động VN.

    Lê Diễn Đức viết trong “Hồ Chí Minh và di sản của ông”, trích:

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Geneva năm 1954…. Ngay lập tức Hồ Chí Minh đã phản bội lại chính mình, phản bội lại tất cả những điều mà ông ta sử dụng nó để đưa người dân vào 9 năm kháng chiến trường kỳ”.

    Không! Hồ Chí Minh không phản bội lại ông ta, ông ta chỉ không cần phải dấu mặt thật nữa thôi!

    Không thể nào nói một người như Hồ Chí Minh không hiểu rằng nếu sử dụng bạo lực là sẽ có đổ máu. Kéo cả dân tộc vào đấu tranh bạo lực thì máu sẽ thành sông, xương thành núi, nhưng ông ta vẫn bất chấp, không những thế, còn tìm mọi cách để thực hiện (đấu tranh bạo lực). Rất nhiều nước thuộc địa đã dành được độc lập, tự do mà không cần phải mất nhiều xương máu như vậy.

    Một người ái quốc hay theo chủ nghĩa dân tộc, lấy dân làm gốc, không bao giờ lấy xương máu nhân dân để làm phương tiện cho mục đích chính trị của đảng phái mình, trừ khi người đó bị lôi cuốn bởi một quyền lực u mê vô hình nào đó. Quyền lực u mê vô hình ở đây là chủ nghĩa CS mà Hồ Chí Minh suốt đời “không chỉ là một người cộng sản Việt Nam mẫu mực, Người còn là chiến sĩ cộng sản quốc tế trong sáng, thuỷ chung, luôn quan tâm đến sự phát triển chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế”.

    Một số người bênh vực Hồ Chi Minh cho rằng, trong giai đoạn phức tạp của lịch sử lúc đó,do tình thế bắt buộc,  Hồ Chí Minh không thể chủ động lựa chọn mà phải chấp nhận (khi không còn con đường nào khác). Đây là cách ngụy biện nguy hiểm nhằm mục đích đổ lỗi cho người khác. Những tay ngụy biện còn đi xa hơn cho rằng, xét công-tội của Hồ Chí Minh phải xét tới hoàn cảnh lịch sử phức tạp lúc ấy.

    Hoàn cảnh lịch sử phức tạp lúc ấy đã cho phép Cụ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ VN đầu tiên mà không cần phải đổ máu (dù vẫn chịu sự bảo hộ của quân dội Nhật – lúc đó đã thất trận, giải giáp và chuẩn bị rút về nước).

    Vậy, hoàn cảnh lịch sử phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh và Việt Minh bắt buộc phải thủ tiêu đối lập? Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh chỉ có thể làm “cuộc cách mạng Đông Dương…..bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” , phát động cuộc “trường kỳ kháng chiến” kéo dài 9 năm làm chết hàng vạn người?

    Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy, bắt buộc Hồ Chí Minh viết thư nặc danh vu cáo bà Nguyễn Thị Năm, một người địa chủ có công với đất nước? Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy bắt buộc Hồ Chí Minh phải tiến hành Cải Cách Ruộng Đất làm chết cả trăm ngàn người, trong đó hơn 70% là vô tội?

    Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy, ép Hồ Chí Minh và đảng CS do ông ta lãnh đạo phải tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam kéo dài hơn 20 năm với hàng triệu người chết mà ruốt cuộc, sau 40 năm thống nhất, đất nước càng ngày tụt hậu, nghèo nàn và lệ thuộc vào Tàu?

    Tất cả chỉ vì Hồ Chí Minh là đảng viên trung kiên của đảng CSQT, suốt đời sống là làm việc theo chỉ thị của đảng CSQT (nay là đảng CS Tàu). Những kẽ kế thừa ông ta hiện nay vẫn đang “tiếp tục kế thừa tư tưởng và phát huy sự nghiệp” của ông ta.

    Một người tự trọng sẽ không cho phép mình đổ thừa hoàn cảnh để chạy tội. Không có dân tộc nào trên thế giới muốn có một lãnh đạo như Hồ Chí Minh để bị dẫn dắt đi hết chổ chết này tới chổ chết khác.

    Người VN nào vẫn xem ông ta là “cứu tinh dân tộc“, hãy nhìn lại chặng đường hơn 80 năm qua của dân tộc, của đất nước từ khi có đảng CS dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đề suy nghĩ lại. Những trí thức VN hãy có đủ bản lĩnh trí thức để thoát khỏi sự nô lệ của cái bóng ma quái Hồ Chí Minh, trí thức bị nô lệ tư tưởng không phải là trí thức.

    Lịch sử VN đời đời lên án Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc là những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà“,“rước voi về giày mả tổ“, bất chấp hoàn cảnh lịch sử lúc ấy như thế nào. VN này nay bị mất đất, mất biển, đất nước bị lệ thuộc Tàu cộng, tất cả chỉ vì Hồ Chí Minh là “chiến sĩ cộng sản quốc tế thuỷ chung“. Hồ Chí Minh rổi đây cũng sẽ bị lịch sử phê phán như vậy

    Hồ Chí Minh là “nhân vật lịch sử”, Hồ Chí Minh  không phải là “thánh” để mà tôn thờ và Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải là “cha già dân tộc”. Những kẻ gọi Hồ Chí Minh là “cha già dân tộc” là những kẻ đang sĩ nhục tổ tiên và phỉ báng dân tộc.

    Ngày sau dù chế độ nào cầm quyền đi nữa thì người ta cũng sẽ học về Hồ Chí Minh, nhưng học về Hồ Chí Minh không phải để làm theo mà để tránh vết xe đổ của lịch sử, tránh những nguy cơ gây tổn thất, mất mát, đau khổ cho dân tộc và cả nguy cơ mất nước mà Hồ Chí Minh và những kẻ CS kế thừa của ông ta đã và đang làm hiện nay.

    ____________________

    Tham Khảo:

    – Lê Kỳ Sơn, “Chung Quanh Vấn Đề Nhận Thức và Đánh Giá Hồ Chí Minh Hiện Nay”
    – Từ Quốc Hoài, “Tháo Bỏ Ách Tắc Để Giữ Lấy Độc Lập và Chấn Hưng Đất Nước (kỳ 2)
    – Nguyễn Văn Trần, “Chung Quanh Vài Luận Điểm Mới Bênh Vực Hồ Chí Minh”
    – Lê Diễn Đức, “Hồ Chí Minh và Di Sản Của Ông”
    – Phạm Cao Dương, “Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945, Dân Tộc Ta Đã Có Độc Lập, Tự Do Rồi”
    – TS Lê Mạnh Hùng, “Chính Phủ Trần Trọng Kim Năm 1945”
    – Bút Sử, “Những Chuyện Bên Lề Hội Nghị Fontainebleau 1946”
    – Lịch Sử Đảng CSVN, “10 đến 19-5-1941 :Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII. Mặt trận Việt Minh”
    – “Lời Dặn Khiêm Nhường Của Người Cộng Sản”

    Phạm Khánh Chương
    nguon

  3. haiz00 says:

    CHUNG QUANH VÀI LUẬN ĐIỂM MỚI BÊNH VỰC HỒ CHÍ MINH

    Hình bên: Hồ Chí Minh là một trong “13 tên độc tài khát máu
    (13 Deadliest Dictator) theo tờ The Dailybeast

    Nguyễn Văn Trần
    5-06- 2015

    Hồ Chí Minh chết nay được 46 năm, mồ yên mả đẹp nhưng ông vẫn chưa được yên. Người ta đào bới lên đủ thứ chuyện về ông :  bản thân, gia đình, con đường lập thân, … để xác định một Hồ Chí Minh  thật trong lịch sử  Vìệt Nam .

    Gác qua những phê phán, công kích hay đánh giá hoàn toàn tiêu cực về Hồ Chí Minh, chúng ta, hôm nay, chỉ ghi nhận, trong gần đây, xuất hiện vài nhận định (*) khá mới, ôn hòa, có vẻ như mang tính khách quan, phê phán tình trạng kinh tế tụt hậu, xã hội băng hoại, đạo đức bật gốc, tham nhũng tràn lang, đàn áp dã man mọi người khác chánh kiến, …và qui trách tất cả đều do ” lỗi hệ thống ” . Tức lỗi của chế độ . Và chế độ đó là chế độ ở Hà nội hiện nay .Từ phê phán này, người ta mới đặt vấn đề « cần có nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào để đạt tới sự chính xác, công bằng, khách quan ? » .

    Ai cũng biết Hồ Chí Minh là người cộng sản và khai sanh ra chế độ cộng sản ở Hà nội năm 1945. Vậy ông có những liên đới trách nhiệm gì với tình trạng đất nước suy đồi hiện nay, với những tội ác “long trời lở đất ” do đảng cộng sản của ông gây ra cho dân tộc liên tục từ trước tới nay hay không ?

    Những luận điểm nhằm khôi phục giá trị lịch sử Hồ Chí Minh, cho rằng ông không phải là người đầu tiên du nhập cộng sản vào Việt nam, ông là người cộng sản theo Lê-nin chớ không phải theo Staline-Mao, ông là người yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc, dân chủ, theo Tôn Dật Tiên và Phan Chu Trinh, …

    Chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với những luận điểm nhằm khôi phục, vớt vát lại giá trị lịch sử của Hồ Chí Minh. Tại sao ?

    I – Công lao to lớn cứu nước, giải phóng dân tộc ?

    Ngày 6 tháng 3/1946, Hồ Chí Minh ký thoả hiệp án với Pháp để rước Pháp trở lại Hà nội với ý đồ mượn tay Pháp tiêu diệt lực lượng các đảng phái quốc gia vì lúc bấy giờ lực lượng Việt minh hãy còn yếu. Có người trong hàng ngũ lãnh đạo Mặt Trận Việt Minh, lúc đó, hỏi Hồ Chí Minh : « Nhựt trao trả độc lập cho Việt nam. Tại sao ta không nhận mà còn đánh giặc ? » . Hồ Chí Minh không ngần ngại giải thích : “Ta nhận độc lập đó là độc lập của các đảng phái quốc gia . Độc lập thật sự là độc lập do ta cướp được chánh quyền ...” .

    Trong quá khứ có nhiều cơ hội độc lập, tránh chiến tranh đổ máu, cùng xây dựng đất nước dân chủ và phát triển . Nhưng Hồ Chí Minh đều bỏ qua và còn tuyên bố « Dù phải đánh giặc mười năm nữa để có độc lập cho ta, ta cũng phải làm » .

    Trong những cơ hội đó, độc lập đầu tiên và thật sự, cần ghi nhớ, là độc lập do Hoàng Đế bảo Đại tiếp thu ở Nhựt với đầy đủ giá trị pháp lý và cả tính chánh đáng . Nhưng biến cố này bị quên lãng do tuyên truyền của cộng sản chỉ nhắc nhở cách mạng tháng 8 và Tuyên ngôn Độc lập 2/9 của Hồ Chí Minh . Tiếp theo, chánh quyền quốc gia Đệ I Cộng Hòa vì chủ trương « bài phong đả thực » mà nhận chìm bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại thêm mấy độ sâu nữa trong quên lãng .

    Thật bất hạnh cho dân tộc ! Sau khi thu hồi độc lập, ngày 17 tháng 3 năm 1945, Hoàng Đế bảo Đại ban hành Dụ số 1, long trọng xác nhận những điểm cụ thể về vận mệnh mới của Việt nam :

    «  1. Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu « DÂN VI QUÍ » .

    1. Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Đại-Đông-Á.
    2. Trẫm sẽ tài định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân “.

    Nhận định về Đạo dụ này, Luật Sư Bùi Tường Chiểu (Thanh Nghị, số 107, ngày 5 tháng Năm 1945) nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của bản văn :

    Đạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng Đạo dụ này đã nêu lên một cách tóm tắt những quả quyết rõ ràng về những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này ” .

    Dựa trên « Dân Vi Quý », ông phân tích :

    “ Nay đạo Dụ số 1 đã nêu lên khẩu hiệu Dân vi quí có nghĩa là Hoàng Đế Bảo Đại đã hủy bỏ cái lý thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đã cho là không hợp thời. Đã lấy dân làm trọng, đã lấy quyền lợi dân để trên tất cả thì vua tất chỉ là một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng vụ quốc gia, tìm những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi hành. Như thế là trong nền chính trị Hoàng Đế Bảo Đại đã định đặt quốc dân ta đi vào một con đường mới ” (**).

    Sau đó, Hoàng Đế Bảo Đại đã từng bước tiến hành tổ chức Chánh quyền, xây dựng đất nước bằng những nguyên tắc lấy dân chủ làm căn bản để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp của nhiều người thay vì của một thiểu số quan lại trong triều . Tức chánh sách Đại đoàn kết dân tộc . Cụ thể, Ngài cho thành lập 4 cơ quan tối cao gồm các nhơn sĩ đại diện đủ 3 Miền :

    Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp,

    Hội Đồng Cải Cách cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính,

    Hội Đồng Cải Cách Giáo dục,

    Hội Đồng Thanh Niên .

    Nhà Vua còn ban hành một số Dụ về các quyền căn bản như tự do lập nhiệp đoàn, tự do lập hội, tự do hội họp, …

    Đây là những đạo luật ấn định những nguyên tắc qui định các quyền tự do căn bản của người dân của một chế độ dân chủ pháp trị thật sự .

    Chỉ trong vòng không quá 3 tháng, Chánh phủ Việt nam Độc lập đầu tiên Trần Trọng Kim, dưới sự lãnh đạo của Hoàng Đế Bảo Đại, đã thật sự chấm dứt chế độ quân chủ cả ngàn năm trong đó 400 năm triều đại Nhà Nguyễn, đã đặt được những nền móng cho một chế độ dân chủ thật sự theo nguyên tắc « do dân, vì dân  » (Dân vi quí). Phải chăng đây là một cuộc cách mạng chánh trị đúng nghĩa của nó ? Điều này thực hiện được tốt đẹp do lòng ái quốc và sự quyết tâm của nhà vua phối hợp với tâm huyết tha thiết đem lại nền độc lập cho Việt nam của Nội các Trần Trọng Kim .

    Nhưng nền độc lập này là của đất nước Việt Nam chớ không phải của cộng sản Đệ III Quốc tế nên ngày 19/8, Hồ Chí Minh đã  phải ra tay « cướp chánh quyền » (sau khi chánh phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm) và dẹp bỏ tất cả các cơ chế dân chủ vừa thành lập, điển hình, ngày 22/9/1945, sau khi tuyên bố độc lập lần nữa, Hồ Chí Minh ban hành lệnh « bãi bỏ các nghiệp đoàn trên toàn cõi Vìệt nam » và Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký Nghị định ngày 14/9/1945 giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức, đồng thời ký một Nghị định khác thành lập Hội Văn Hóa Cứu Quốc Việt nam .

    Sự hiệu lực xóa bỏ các cơ sở dân chủ của nước Việt nam độc lập do Nhà Vua Bảo Đại tuyên cáo ngày 11 tháng 3 năm 1945 là từ 1954, rồi 30/04/75,mọi quyền căn bản của người dân bị Hồ chí Minh và chế độ cộng sản do ông khai sanh tước đoạt sạch . Người dân bị chế độ độc tài khủng bố, đàn áp . Đất nước bị đảng cộng sản từng bước đưa vào vòng lệ thuộc Tàu theo cùng hệ xã hội chủ nghĩa .

    Đó là công lao to lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh chọn lựa con đường cộng sản để cứu nước và giải phóng dân tộc mà người dân, ai không cộng sản, cũng đều thấy rỏ ràng .

    II – Hồ Chí Minh phải chọn con đường cộng sản Lê-nin

    Lập luận bênh vực Hồ Chí Minh giải thích rằng hồi thập niên 20 của thế kỷ trước Hồ đã phải chọn con đường Lê-nin vì

    « tư bản lúc đó đi chiếm thuộc địa, từ đầu đến chân nó đều thấm bùn và máu », khác với ngày nay « đã lột xác trở thành văn minh . Cũng như vậy, Quốc tế III thời Lê-nin đầu thế kỷ XX cũng khác với cộng sản đã bị Staline và Mao hóa sau này . Nếu Quốc tế III không công khai ủng hộ các dân tộc thuộc địa – nếu cũng chỉ như Quốc tế II – chắc gì Hồ đã ngã  theo chủ nghĩa cộng sản ?

     Thứ hai, cũng cần phân biệt điều mà Hồ Chí Minh tự giác, chủ động lựa chọn với điều mà tình thế bắt buộc ông phải chấp nhận (khi không còn con đường nào khác), lại càng khác xa với những điều người khác nhân danh Hồ Chí Minh đã làm ! Vai trò của vĩ nhân là ở chỗ có biết nắm bắt thời cơ và tận dụng được thời cơ do thời cuộc mang lại để thành đạt mục tiêu độc lập, thống nhất hay không; còn cá nhân một lãnh tụ, dù lỗi lạc đến đâu – nhất là lãnh tụ của một nước thuộc địa  nghèo nàn, lạc hậu như nước ta – làm sao có thể vượt qua được vị thế yếu kém của mình, để tác động vào thời đại, nhằm thực hiện thắng lợi lý tưởng, hoài bão mà mình theo đuổi ? » .

    Ngày nay, người cộng sản không thể bênh vực Staline và Mao vì 2 người này đã gìết hại hằng 100 triệu nhơn dân của họ khi họ cầm quyền . Và còn qui sự cai trị bạo ngược, dã man của cộng sản ở Tàu, Bắc Hàn và Việt Nam là do theo Staline và Mao . Vậy Lê-nin thế nào ?

    Chúng tôi, để phơi bày lại bộ mặt thật, rất thật của Lê-nin mà “Hồ Chí Minh đã chọn đi theo làm cách mạng vì không có con đường nào khác – và đó là một chọn lựa của một vĩ nhơn vì tự giác – không gì bằng mời bạn đọc xem qua bức điện của Lê –nin gởi đi ngày 11 tháng 8 năm 1918 kêu gọi giết :

    « Này các đồng chí, cuộc nổi dậy của phú nông  trong trong năm vùng của các đồng chí phải được tiêu diệt không thương tiếc . Quyền lợi của cách mạng bắt buộc, bởi vì ở khắp nơi, sự tranh đấu với phú nông từ nay đi vào giai đoạn kết thúc .

    Các đồng chí phải :

    1/ bắt (tôi nói bắt là làm cho mọi người trông thấy) không dưới một trăm phú nông hút máu nhân dân.

    2/ Công bố tên tuổi của chúng nó.

    3/ Tịch thâu tất cả mùa màng của chúng .

    4/ Nhận dìện những con tin như tôi đã chỉ thị trong bức điện hôm qua . Làm điều này bằng cách trong phạm vi hơn 100 km, nhơn dân chứng kiến được, thấu hiểu, rung sợ và thét lên : người cách mạng sìết cổ và tiếp tục sìết cổ những phú nông hút máu .

    Các đồng chí hãy đánh điện trả lời đã nhận được và đã thi hành chỉ thị này .

    Lê-nin của các đồng chí » 

                                                           (Nicolas Werth, Lénine, Paris, 2003)

    Bức điện này là một trong hằng ngàn văn kiện của vị sáng lập ra Liên-xô chưa bao giờ được phổ biến, cả trong « Lê-nin Toàn tập » qua suốt 5 lần ấn hành trong thời gian từ 1920 tới 1960 .

    Nhờ Liên-xô sụp đổ, văn khố mở cửa mà những văn kiện « kiểm duyệt của Lê-nin » mới được các sử gia tham khảo .

    Cũng về đường lối chánh trị của Lê-nin, Simon Leys (Essais sur la Chine, Robert Laffont, Paris, 1998) trích dẫn một câu nói kinh điển của Lê-nin tưởng cũng cần ghi ra đây để thấy tại sao cộng sản phải cai trị độc tài triệt để : « Một chế độ sẵn sàng thực thi khủng bố không giới hạn thì không thể nào bị sụp đổ được » .

    Hơn nữa, nên nhớ Lê-nin rất tâm đắc « Hư vô chủ nghĩa » (nihilisme) . Trong quyển « Le jeune Staline – Calmann-Lévy, Paris, 2010 », tác giả người Anh S.S Montefiore kể lại chuyện Staline thởi trai trẻ được Lê-nin tuyển dụng vì bản tánh du đảng, đã có thành tích ăn cướp, để đào tạo Staline ăn cướp ngân hàng lớn lấy tiền lập đảng cộng sản . Nhà Hư vô chủ nghĩa Serge Netchaiev, trong « Giáo lý Cách mạng » nổi tiếng, dạy rỏ để trở thành người cách mạng cộng sản « Mọi âu yếm, ủy mị trong tình ruột thịt, bằng hữu, tình ái, lòng biết ơn và ngay cả danh dự phải được thủ tiêu, nhường chổ cho một thứ đam mê duy nhứt và lạnh lùng là cách mạng » .

    Chính nhóm khủng bố « Ý Chí Nhơn Dân » lúc bấy giờ lấy tư tưởng của Serge Netchaiev làm kim chỉ nam mà  « Giáo lý của Nhà Cách mạng » đã khai sanh ra Lê-nin và Staline . Giáo lý dạy phải bìến cái thế giới những người du đảng này thành một sức mạnh vô địch và bất diệt » (Le jeune Staline, các trang 180-183) .

    Nay mọi người đã hiểu tại sao báo Anh, Daily Mail, 10/2014, trong bài “ Từ Staline đến Hitler, những chế độ diệt chủng ác nhứt thế giới » ghi tên Hồ Chí Minh vào danh sách cùng với những tên đồ tể như Staline, Mao Trạch-đông, Hitler, Kim Nhựt-thành, Pol Pot và nói rõ thêm « Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản ở Hà nội là thủ phạm gây ra cái chết của ít nhứt 200 000 người dân Mìền nam Việt nam » .

    Vậy ai có thể nói khác hơn được Hồ Chí Minh và cái đảng cộng sản của ông vì học theo Lê-nin mà cho tới ngày nay không luôn luôn « ngập trong bùn và máu của nhơn dân việt nam từ đầu tới chơn » ?

    Và Hồ chí Minh không ai khác hơn là tên tội phạm chống nhơn loại, một thứ tội bất khả thời tiêu !

    _____________

    Chú thích:

    (*) Lê Kỳ Sơn, « Chung quanh vấn đề nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh hiện nay », Việt-Studies, 17/05/2015

          Từ Quốc Hoài, « Tháo bỏ ách tắc để giữ lấy độc lập và chấn hưng đất nước – Thư ngỏ gời Ban Chấp Hành TƯ và đảng viên đảng cộng sản Việt nam », internnet, 31/07/2014 .

    (**) Phạm Cao Dương, « Lẽ ra ngay từ năm 1945, dân tộc ta đã có độc lập, tự do rồi », trên «dhsps.org .

    Nguyễn văn Trần
    Trí Nhân Media
    nguon

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s