HÒA GIẢI BẰNG HIỆP ĐỊNH

Trần Gia Phụng – HÒA GIẢI BẰNG HIỆP ĐỊNH
Thứ Ba, ngày 26 tháng 5 năm 2015

zzxxzz

Sau kinh nghiệm hòa giải năm 1945, những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, quy tụ trở lại chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, ở thế chẳng đặng đừng liên kết với Pháp năm 1949, thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam, chống Việt Minh cộng sản.  Chiến tranh kéo dài đến năm 1954, và kết thúc bằng Hiệp định Genève ngày 20-4-1954, chia hai Việt Nam tại vĩ tuyến 17.  Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở phía bắc, thường được gọi là Bắc Việt Nam (BVN); Quốc Gia Việt Nam (QGVN), đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10- 1955, ở phía nam, thường được gọi là Nam Việt Nam (NVN).

HÒA GIẢI BẰNG HIỆP ĐỊNH GENÈVE    

Danh xưng chính thức của hiệp định GenèveHiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, nghĩa là hiệp định Genève chỉ là một hiệp định có tính cách thuần túy quân sự, hai bên ngưng chiến đấu, tập trung ở hai vùng khác nhau và hiệp định nầy không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.

Sau khi Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam cùng các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào và Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954 và cùng nhau bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”.

Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhất là điều 7, ghi rằng:  “Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự.  Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.”  (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53.)

Điểm đặc biệt là sau khi soạn thảo xong bản tuyên bố nầy, chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge (Cambodia) trả lời miệng rằng “đồng ý”.  Bảy phái đoàn nầy tuy đồng ý, nhưng không ký vào bản tuyên bố, và chỉ trả lời miệng mà thôi.  (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nam Á 2002, tr. 2642.  Có thể tìm trong Google bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp.)  Một văn kiện quốc tế không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành.

Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954.  Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của mình.  Tuy nhiên, chính phủ QGVN vẫn tôn trọng Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và thi hành việc chia hai nước Việt Nam theo đúng thỏa thuận quốc tế.

Nếu để cho Nam Việt Nam (NVN) yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn NVN với nền kinh tế tự do sẽ phát triển và vượt xa VNDCCH hay Bắc Việt Nam (BVN) với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản.  Đó chính là điều mà BVN thực sự lo lắng.

Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho NVN chẳng những khiến BVN rất quan ngại, mà sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại NVN còn khiến cho cả Trung Cộng chẳng yên tâm.  Không kể cuộc tranh chấp ở Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ đã từng giúp chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Hoa tiễu trừ đảng CS ở lục địa, và nay đang giúp Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ Đài Loan (Taiwan), chống  Trung Cộng.  Trung Cộng mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ.  Nay người Hoa Kỳ lại có mặt ở NVN, gần sát với Trung Cộng, nên Trung Cộng rất quan ngại cho an ninh của chính Trung Cộng.

Vì Liên Xô và Trung Cộng đều chống Hoa Kỳ, nên cả hai hậu thuẫn cho BVN mở cuộc chiến xâm lăng NVN.  Bắc Việt Nam đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”, vừa để khích động lòng yêu nước của dân chúng BVN chống lại NVN, vừa để phù hợp với chủ trương chống Hoa Kỳ của Trung Cộng và Liên Xô.

Như thế, rõ ràng các lý do “thống nhất đất nước” và “chống Mỹ cứu nước” chỉ có tính cách  biểu kiến bên ngoài, dùng làm chiêu bài động binh, trong khi lý do thật sự được nhà nước BVN che đậy là tham vọng lớn lao của đảng Lao Động (LĐ) tức đảng Cộng Sản, muốn đánh chiếm toàn bộ Việt Nam, bành trướng chủ nghĩa CS đồng thời thi hành nghĩa vụ quốc tế, như lời Lê Duẫn nói, đánh NVN là “đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”.  Kế hoạch tấn công NVN đã được đảng LĐ chuẩn bị trước khi ký hiệp định Genève ngày 20-7-1954, thấy rõ trong kế hoạch Liễu Châu đầu tháng 7-1954.

Trước khi hiệp định Genève được ký kết, tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa), từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng, bí mật gặp gỡ Hồ Chí Minh, chủ tịch VNDCCH, đưa ra kế hoạch là trước khi rút người ra BVN theo quyết định của Hiệp định Genève, đảng LĐ gài cán bộ ở lại NVN, đồng thời phân tán và chôn giấu võ khí ở lại NVN để chuẩn bị chiến đấu về sau.  (Về hội nghị Liễu Châu, mời đọc Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề tiếng Việt là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27, “Hội nghị Liễu Châu then chốt”.)

Như thế, ngay trước khi ký hiệp định Genève vào ngày 20-7-1954, phía cộng sản đã chủ tâm sắp đặt trước kế hoạch trường kỳ mai phục ở NVN, chuẩn bị lực lượng tiếp tục chiến tranh.  Ngoài chuyện gài cán bộ đảng viên lẩn trốn trong dân, đảng LĐ còn có cách cài người rất thâm hiểm là cho cán bộ đảng viên đảng LĐ vội vàng cưới vợ trước khi tập kết ra Bắc.  Những người vợ ở lại NVN và con cái từ các cuộc hôn nhân nầy sinh ra, sẽ tiếp tay cho cán bộ CS khi họ trở về hoạt động.

Trong khi đó, để kiếm cớ gây chiến, đảng LĐ tức đảng cộng sản BVN lại đổ lỗi cho phía NVN không tôn trọng hiệp định Genève, trong khi chính hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến mà thôi và không đưa ra giải pháp chính trị.  Còn giải pháp chính trị được dự tính trong bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”, thì không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, không có giá trị pháp lý.  Lý do có thể là phía CS (Trung Cộng, CSVN) tại Liễu Châu đã quyết định tiếp tục cuộc chiến, nên vận động không ký vào bản tuyên bố cho dễ hành động về sau nầy.

Đó là cách hòa giải bằng hiệp định Genève của CSVN.  Tạm dừng để lấy sức, rồi tiếp tục chiến tranh.  Cách hòa giải nầy đưa đến việc BVN tái phát động cuộc chiến năm 1960, và dùng viện trợ của khối CS quốc tế, nhất là Liên Xô và Trung Cộng, tấn công NVN.

HÒA GIẢI BẰNG HIỆP ĐỊNH PARIS 

Chiến tranh Việt Nam lọt vào cao điểm chiến tranh lạnh toàn cầu.  Liên Xô, Trung Cộng giúp đỡ, viện trợ cho BVN.  Ở thế yếu, NVN phải nhờ Hoa Kỳ giúp đỡ, viện trợ.  Điểm khác nhau quan trọng là Liên Xô và Trung Cộng gởi quân viện cho BVN, và BVN sử dụng quân đội BVN và du kích NVN để chiến đấu ở NVN.  Liên Xô chỉ gởi chuyên viên ở hậu phương chứ không ra chiến trường.  Ngoaøi quaân vieän, töø  thaùng 6-1965 ñeán thaùng 3-1968, TQ gôûi sang BVN 320,000 quaân, truù ñoùng ôû caùc tænh vaø thaønh phoá phía baéc Haø Noäi, ñieàu khieån caùc suùng phoøng khoâng, söûa chöõa ñöôøng saù, caàu coáng, ñöôøng xe löûa, baûo veä caùc tænh phía baéc, nhaèm giuùp BVN keùo heát löïc löôïng xuoáng taán coâng NVN.  (Qiang Zhai,China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Carolina Press, 2000, tr. 135.)  Về phía Hoa Kỳ, Hoa Kỳ gởi Bộ binh và Không quân trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam từ năm 1965.

Điểm quan trọng là Hoa Kỳ áp dụng chiến lược phòng thủ ở NVN chứ không đánh ra BVN bằng bộ binh như chiến tranh Triều Tiên.  Hoa Kỳ chỉ gởi Không quân tấn công những hậu cứ của CS ở BVN.  Cứ thủ mãi và chờ địch quân đến tấn công, đưa đến kết quả là tuy quân đội Hoa Kỳ không thua trận nào, nhưng tử trận mỗi ngày một ít; cộng nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm thành số nhiều.  Mỗi ngày vài phi công thuộc Không quân Hoa Kỳ bị bắn rơi ở BVN và bị bắt làm tù binh; cộng nhiều ngày thành số đông.

Các số liệu tử vong và tù binh tăng cao làm cho dân chúng Hoa Kỳ sốt ruột, lo sợ cho sinh mệnh của thân nhân mình, đòi rút quân về nước.  Phong trào phản chiến trong nước Hoa Kỳ hoạt động mạnh mẽ, dân chúng, sinh viên biểu tình rầm rộ, làm cho đất nước Hoa Kỳ xáo trộn, khiến chính phủ Hoa Kỳ phải kiếm cách ổn định tình hình nội bộ.  (Chú ý: lúc đó quân đội Hoa Kỳ còn gồm thành phần động viên. Luật động viên Hoa Kỳ bị bãi bỏ năm 1973, sau Hiệp định Paris.  Ngày nay, quân đội Hoa Kỳ gồm toàn quân nhân chuyên nghiệp.) Hơn nữa, thông qua chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ bắt tay với Trung Cộng và đang muốn tách Trung Cộng ra khỏi khối CS do Liên Xô lãnh đạo.  Chính phủ Hoa Kỳ liền thay đổi chiến lược, rút quân khỏi Việt Nam và kiếm cách ký hiệp định hòa bình để lấy lại tù binh.

Từ đó, Hoa Kỳ mở đường hòa đàm với BVN và đi đến hội nghị Paris.  Chính phủ NVN với kinh nghiệm ê chề năm 1945 và 1954, không chịu nhượng bộ BVN, không chịu ngồi vào bàn Hội nghị Paris, nhưng Hoa Kỳ áp lực, rút quân, giảm viện trợ, nên NVN đành phải chấp nhận.  Sau những cuộc thảo luận gay go kéo dài từ năm 1968 đến cuối năm 1972, cuối cùng, ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris tức Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam), còn được gọi là Hiệp định Hòa bình Paris (Paris Peace Accords) được ký kết tại nơi bắt đầu, tức Trung Tâm Hội Thảo Quốc Tế (Centre de Conférences International), trong khách sạn Majestic, số 19 đường Kléber, Paris.

Hiệp định gồm 9 chương, 23 điều, có hai bản.  Bản thứ nhứt giữa bốn bên VNCH, Hoa Kỳ và CHMNVN, VNDCCH.  Bản thứ hai giữa hai bên Hoa Kỳ và VNDCCH.  Hai bản chỉ khác nhau ở phần mở đầu và điều 23, còn giống nhau từ điều 1 đến điều 22.  Vì có hai bản, nên hiệp định Paris được ký kết hai lần.  Lần bốn bên VNCH, Hoa Kỳ, VNDCCH và CHMNVN ký kết vào buổi sáng 27-1-1973.  Lần hai bên Hoa Kỳ và VNDCCH ký kết vào buổi chiều 27-1-1973.  Hiệp định có hiệu lực từ 0 G. giờ quốc tế GMT đêm 27 rạng 28-1-1973, tức 8 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 28-1-1973.

Những điểm chính của hiệp định Paris là: Ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam; Hoa Kỳ rút quân đội và cố vấn còn lại (khoảng 23,700) trong 60 ngày; Hoa Kỳ triệt phá tất cả các căn cứ trong 60 ngày; trao trả tù binh Hoa Kỳ và các tù binh khác trong 60 ngày; quân đội Bắc Việt tiếp tục đóng giữ tại chỗ ở Nam Việt Nam; rút tất cả các lực lượng ngoại nhập tại Lào và Cao Miên; cấm lập căn cứ và chuyển quân qua hai nước nầy; duy trì khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời cho đến khi nào thống nhất đất nước bằng một giải pháp hòa bình; thành lập Ủy ban Kiểm soát Quốc tế gồm có người các nước Canada, Hungary, Ba Lan và Indonesia với 1,160 thanh tra kiểm soát việc thi hành hiệp định; Nguyễn Văn Thiệu vẫn là tổng thống miền NVN cho đến khi có bầu cử; BVN tôn trọng quyền tự quyết của dân chúng NVN; không chuyển quân qua khu phi quân sự; không sử dụng võ lực để thống nhất đất nước. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: Maillard Press, 1989, tr. 210.)

Rõ ràng BVN chiếm lợi thế trong hiệp định Paris so với NVN.  Trong khi Hoa Kỳ rút quân, triệt phá hết các căn cứ Hoa Kỳ tại NVN, thì quân đội BVN tiếp tục đóng giữ tại chỗ ở NVN.  Trong khi đó, BVN bí mật tiếp nhận viện trợ của Liên Xô và Trung Cộng ở BVN, rồi bí mật chuyển vào NVN qua đường Trường Sơn và ngay cả đường vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17, trắng trợn vi phạm hiệp định Paris.  Số viện trợ do Liên Xô và Trung Cộng cho BVN trong thời gian nầy tăng gấp 4 lần so với trước đây. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tr. 481.)

Hiệp định Paris quy định việc thành lập một số cơ chế để thực hiện và theo dõi việc ngừng bắn.  Đầu tiên là HỘI ĐỒNG HÒA GIẢI HÒA HỢP DÂN TỘC (National Council of National Reconciliation and Concord).  Điều 12 chương IV Hiệp định Paris ghi rằng “hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau.  Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí.”  Danh xưng rõ ràng là “Hòa giải hòa hợp dân tộc”, nhưng thực chất là HGHH theo kiểu CS.

Ba thành phần nêu trên đây là VNCH, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng (MTDTGP) và lực lượng thứ ba.  Lực lượng thứ ba được gọi là trung lập, không theo VNCH cũng không theo MTDT. Trong thực tế, lực lượng thứ ba do CSVN ngấm ngầm tổ chức và điều động, gồm những nhà hoạt động chính trị đòi hỏi hòa bình, dân chủ mà không nhất thiết phải tán thành chủ nghĩa CS hay chủ nghĩa xã hội, nhằm cô lập chính phủ VNCH.  Cách quyết định theo nguyên tắc nhất trí, có nghĩa là cả ba bên phải cùng đồng ý mới thông qua một quyết định.  Nói cách khác, mỗi bên đều có quyền phủ quyết.  Vậy làm sao hòa giải hòa hợp, vì ai không bằng lòng thì phủ quyết, thế là đường ai nầy đi.

Cũng theo điều 12 nầy, HĐHGHHDT sẽ đứng ra tổ chức tổng tuyển cử nhằm bầu chọn cơ quan quyền lực cho NVN.  Tuy nhiên, vì chính phủ Hoa Kỳ nôn nóng rút quân, rút tù binh nên ký hiệp định Paris, chịu để cho BVN đóng quân ở lại NVN, nên BVN tiếp tục tấn công NVN, và chiến tranh vẫn tiếp diễn.  Cho đến ngày 30-4-1945, BVN cưỡng chiếm NVN,  HĐHGHHDT cũng chưa thành lập được.

Như thế, chuyện hòa giải hòa hợp theo điều 12 chương IV Hiệp định Paris chỉ là một cái bánh vẽ cho Hoa Kỳ rút quân, vì trong thực tế, sau HĐHGHHDT, Hiệp định Pariscòn thành lập, theo điều 18 chương VI, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát (International Commission for Control and Supervision), gồm đại diện bốn quốc gia Canada (Gia Nã Đại), Hungary (Hung Gia Lợi), Indonesia (Nam Dương), Poland (Ba Lan). Ủy ban nầy cũng chẳng làm được việc gì vì thiếu sự hợp tác về phía CSVN.

Trong khi Ủy ban QTKSGS tự do đi lại trong vùng do chính quyền NVN kiểm soát, thì  Ủy ban bị ngăn cản khi đi vào những vùng CS hoạt động.  Ngày 7-4-1973, hai trực thăng của Ủy ban chở nhân viên đến Khe Sanh và Lao Bảo để quan sát và kiểm soát sự xâm nhập của CS theo đường Trường Sơn, liền bị quân CS bắn rơi một chiếc, gây tử thương cho phi hành đoàn và 7 nhân viên.  Các chuyến bay ở Lộc Ninh cũng bị quân CS hăm dọa.  Sau khi một nhân viên Canada bị CSVN bắt giữ, phái đoàn Canada rút lui vào cuối tháng 7-1973, Iran (Ba Tư) được cử thay thế.  Tuy Ủy ban tiếp tục hoạt động cho đến năm 1975, nhưng hoàn toàn bất lực. (Webster’s New World Dictionary of the Vietnam War, tt.. 180-181.)

KẾT LUẬN

Sau cuộc hòa giải nội bộ năm 1945, người Việt theo chủ nghĩa dân tộc có được kinh nghiệm ê chề với CSVN.  Trong hai giai đoạn 1954 và 1973, người Pháp rồi người Hoa Kỳ, do chủ tâm rời bỏ Việt Nam, nên dễ dàng thỏa mãn những yêu sách của CSVN để CSVN nhanh chóng ký kết hiệp định giúp hai nước nầy ra đi cho rồi, trong khi đối với CSVN, ngưng chiến chỉ là những giờ giải lao và các hiệp định đó chẳng qua chỉ là những tờ giấy loại bị CSVN xé bỏ dễ dàng.  Năm 1954, CSVN ký Hiệp địnhGenève để dưỡng sức chuẩn bị tiếp chiến tranh.  Năm 1973, CSVN ký Hiệp định Parisđể Hoa Kỳ rút quân, bỏ rơi và ngưng viện trợ cho NVN, rồi CSVN nhận thêm quân viện của Liên Xô và Trung Cộng, tiếp tục tấn công và đánh chiếm NVN năm 1975.

Với những kinh nghiệm lịch sử như thế, bằng những hiệp định quốc tế, CSVN ký, nhiều nước ký và nhiều nước làm chứng, mà CSVN vẫn vi phạm trắng trợn, xé bỏ dễ dàng, thì còn ai dám tin CSVN và hòa giải hòa hợp với CSVN?

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto,24-05-2015)
nguồn

Advertisements
This entry was posted in 30.4.1975 - Hận Thù. Bookmark the permalink.

4 Responses to HÒA GIẢI BẰNG HIỆP ĐỊNH

  1. haiz00 says:

    HỘI NHÀ DZĂNG (Bằng Phong Đặng Văn Âu)

    “…Yêu cầu hội nhà văn tự kiếm tiền nuôi thân, đừng bắt dân vắt sữa và mồ hôi nuôi nữa. Các ông các bà vô tích sự với dân lắm rồi, lâu lắm rồi, nhiều lắm rồi. Tự làm thơ rồi đọc cho nhau nghe, đừng hành dân nữa…”

    Anh Nguyễn Khắc Phê thân mến,

    Nguyễn Khắc Viện

    Từ thế kỷ trước, anh Nguyễn Khắc Viện đã tuyên bố một câu rất đáng thương, sau gần suốt một đời nhắm mắt phục vụ cộng sản mới nhận ra: “Vô sản không đáng sợ bằng vô học”.

    Thiết tưởng câu nói khẳng quyết của ông anh đáng kính của mình, anh Phê phải lập tức bước ra khỏi đảng. Tại sao anh lại cứ ở lỳ trong đảng và lại khăn gói chỉnh tề để đi họp “Hội Nhà Dzăng”? Chẳng lẽ anh tiếp tục đóng góp công lao, trí tuệ cho cái bọn cầm quyền vừa ngu, vừa dốt để nước ta dần dà mất vào tay kẻ thù phương Bắc?

    Tôi vẫn nghĩ học giả Nguyễn Khắc Viện và những trí thức tầm cỡ lớn mù quáng đi theo cộng sản đã khiến cho tầng lớp thanh niên như Nguyễn Đắc Xuân, Tiêu Dao Bảo Cự, Mai Thái Lĩnh, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Hạ Đình Nguyên, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan … noi theo kẻ lầm đường lạc lối.

    Tôi xin chân thành hỏi anh Phê: Anh em chúng mình là dân Nghệ Tĩnh, là dân có truyền thống cách mạng. Tại sao anh lại chấp nhận làm con chim hót trong cái lồng để tô vẽ một chế độ mà nhân dân ta và thế giới khinh bỉ? Có phải vì lý do kinh tế mà anh phải uốn mình?

    Khi về Huế, tôi đến thăm anh, anh tặng tôi mấy cuốn sách. Tôi đã đọc và cảm thấy rất thương anh vì anh có ông anh rất lý tưởng, rất yêu nước, rất thông thái, nhưng không nhìn thấy chủ trương tiêu diệt “trí, phú, địa, hào” là mất nước. Chị Thiếu Anh, chị của anh và chị dâu của tôi, cũng bị ảnh hưởng của ông anh (anh Nguyễn Khắc Viện), rồi đâm ra sùng bái Hồ Chí Minh.

    Cho nên năm 1954 một bà bác tôi đến hỏi ông anh cả của tôi (bác sĩ Đặng văn Ấn, chồng chị Thiếu Anh) rằng theo ý anh thì bác có nên đưa các con bác vào Nam không. Anh tôi trả lời không suy nghĩ: “Bác hãy nhanh chóng đưa các anh chị vào trong đó đi”. Bác tôi hỏi anh tôi: “Còn anh thì sao, anh có đưa chị và các cháu đi không?” Anh tôi trả lời: “Nhà cháu tin vào anh Viện, tin vào Bác Hồ, nên quyết định ở lại Miền Bắc”.

    Anh Phê thấy không? Ông anh cả tôi đã thấy trước cái chế độ cộng sản là không thể sống được, nên anh tôi mới khuyên bà bác đưa các con vào Nam. Giá như chị Thiếu Anh không sùng bái ông Hồ, không tin vào anh Viện, thì gia đình anh Ấn đã được ở trong Nam với anh em chúng tôi (anh Đặng văn Châu và tôi). Ngay cả Miền Nam bị cộng sản xâm lăng, chí ít anh chị tôi và các cháu cũng được hít thở không khi tự do và có cuộc sống vật chất đầy đủ; chứ không đến nỗi anh em tôi ở trong Nam gửi quà tiếp tế phải đi đường vòng sang Pháp, rồi mới về tới Hà Nội.

    Cụ nhà ta – Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm – thân phụ anh, là một người thông minh xuất chúng (đỗ Hoàng Giáp năm 20 tuổi), là một ông quan cực kỳ thanh liêm, nhưng đã bị cộng sản đấu tố cho đến chết. Mà người đấu tố ông cụ một cách thô bạo nhất là chị Phương Thảo, người con gái út của cụ. Tôi không hiểu tại sao anh Nguyễn Khắc Viện lại không nhìn thấy sự tàn ác, bất nhân của cái chế độ man rợ.

    Miền Nam gửi những học sinh sang Pháp du học để về nước giúp dân mở mang trí tuệ đều bị cái Hội Việt Kiều Yêu Nước do anh Viện làm Chủ tịch khuyến dụ, đầu độc. Thế là khi trở về nước, thay vì dạy cho sinh viên hiểu hiểm họa cộng sản, lại trở thành những cán bộ tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản. Những Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Lê văn Hảo, Cao Huy Thuần … đều là những người phản bội lý tưởng tự do của Miền Nam.

    Tôi viết cho anh Phê bức thư này để anh suy nghĩ mà ứng xử cho đúng, hãy bước ra khỏi Hội Nhà Văn Cộng Sản để vong hồn cụ nhà ta dưới suối vàng được thanh thản.

    Tôi xin có lời hỏi thăm sức khỏe anh Nguyễn Khắc Dương. Có lẽ chị Phương Thảo giờ này cũng ân hận lắm?

    Tôi hoàn toàn không có ý làm phật lòng anh, anh Phê. Tôi chỉ mong anh bỏ chỗ tối, bước ra chỗ sáng để làm người đứng thẳng, để xứng đáng là người dân Nghệ Tĩnh và để rạng danh xuất thân con nhà thông thái Nguyễn Khắc Niêm.

    Tôi gửi anh Phê xem bài viết của nhà văn Nguyễn Thông.

    Thân ái,

    Bằng Phong Đặng văn Âu


    Than ôi, Hội nhà văn

    nguyenduytuyenbotuxoatenkhoicachoidoan09052015Theo BBC và nhiều trang mạng, việc chuẩn bị đại hội Hội nhà văn VN sắp diễn ra vào tháng 7 tới đang như vở bi-hài kịch. Đọc những bài tâm sự của các nhà văn Ngô Thị Kim Cúc, Dạ Ngân, Phạm Đình Trọng… thấy phần đông nhà văn VN giờ đây khác xa với hơn chục năm trước, chỉ đậm màu xôi thịt. Người tử tế, có lương tâm không muốn bị mang tiếng. Vừa mới nghe tin nhà văn nữ Võ Thị Hảo tuyên bố từ bỏ Hội nhà văn VN, sáng nay lại nghe bác bọ Lập cho biết bác Nguyễn Duy kính mến đã công khai chính thức ra khỏi hội, cả hội trung ương lẫn hội địa phương. Trước đó là bác Đỗ Trung Quân, bác Phạm Đình Trọng. Rồi chả biết sắp tới sẽ còn những ai nữa, nhưng chắc là nhiều. Hiệu ứng domino đã bắt đầu.

    Tôi chỉ muốn nói với chị Hảo, anh Duy, anh Quân, anh Trọng và những người như các anh chị, rằng: Hội nhà văn bây giờ không phải là thứ tổ chức hội đoàn xã hội dành cho các anh chị, nó chỉ dành cho những ai không có những điều tốt đẹp mà các anh chị có, kiểu như Hữu Thỉnh, Hữu Ước, Hoàng Quang Thuận, Lê Quang Trang… thôi.

    Với việc gạch tên 9 nhà văn tử tế đang ở Sài Gòn không cho dự đại hội nhà văn VN sắp tới, trong đó có những người mà tôi quen, tôi biết rõ khó làm người tốt hơn thế như chị Ngô Thị Kim Cúc, anh Nguyễn Duy, anh Nguyễn Quang Lập, chị Ý Nhi, anh Đỗ Trung Quân…(những người kia là các nhà văn Dạ Ngân, Phạm Đình Trọng, Hiền Phương, Nguyễn Quang Thân), hội nhà văn VN đã chính thức thừa nhận tổ chức này chỉ là cái lồng sơn son nhốt đám chim hót véo von theo cây đũa chỉ huy của nhà cai trị.

    Yêu cầu hội nhà văn tự kiếm tiền nuôi thân, đừng bắt dân vắt sữa và mồ hôi nuôi nữa. Các ông các bà vô tích sự với dân lắm rồi, lâu lắm rồi, nhiều lắm rồi. Tự làm thơ rồi đọc cho nhau nghe, đừng hành dân nữa.

    Ấy, nhà em xin lỗi các bác nhà văn đang là hội viên nhưng còn có lòng tự trọng.

    Nguyễn Thông
    (nguổn: blog Nguyễn Thông)

  2. haiz00 says:

    Di sản Hồ Chí Minh:
    Ông Hồ là một tên diệt chủng ở thế kỷ 20. (Hải)

    Kính Hòa, phóng viên RFA
    2015-05-25

    Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại chiến dịch Biên giới (1950).

    Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại chiến dịch Biên giới (1950).

    Vô Đây Nghe

    Theo giấy tờ chính thức của chính quyền Việt nam thì ngày 19/5 vừa qua là sinh nhật của ông Hồ Chí Minh, người thành lập đảng cộng sản Việt nam và đưa đảng này lên cầm quyền cho đến nay. Thời gian của Tạp chí điểm blog hôm nay dành cho việc điểm lại con người và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh

    Hồ Chí Minh

    Ông Hồ Chí Minh được nói là sinh vào ngày 19/5/1890.

    Đối với người Việt nam ông là một nhân vật gây nhiều tranh cãi trong mấy chục năm lịch sử vừa qua, và ngay cả ở thời điểm hiện nay.

    Một bên thì suy tôn ông lên bậc thánh thần, rước cả tượng ông vào đền chùa để thờ. Bên kia thì xem ông là người có tội với dân tộc Việt nam vì đã đem chủ nghĩa cộng sản áp đặt lên đất nước này, và đôi khi người ta mô tả ông bằng những từ ngữ nặng nề nhất.

    Đối với thế giới ông là một người Việt nam được biết đến nhiều nhất trong lịch sử hiện đại. Trước và sau ngày sinh lần thứ 125 trên giấy tờ của ông trong năm nay, một năm quan trọng vì là năm chẳn, nhiều blogger viết về ông.

    Tác giả Lê Kỳ Sơn viết một bài rất công phu được nhiều trang blog cho đăng lại, mang tựa đề Chung quanh vấn đề nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh hiện nay. Trong bài này tác giả dùng những đại từ nhân xưng ở những ngôi thứ trọng thị nhất dành cho ông Hồ Chí Minh. Kết thúc bài tác giả viết rằng sau này, khi hận thù không còn nữa chắc chắn ông Hồ Chí Minh sẽ được đánh giá là một nhà yêu nước, và là một người anh hùng.

    Nếu chỉ với một nội dung và cách tu từ như vậy thì đáng ra bài viết này của Lê Kỳ Sơn ắt hẳn sẽ được báo chí chính thống đăng tải. Không rõ tác giả có gửi cho mấy trăm tờ báo do đảng cộng sản Việt nam kiểm soát hay không, nhưng chỉ thấy bài viết này xuất hiện trên các trang blog độc lập.

    Trong bài viết, Lê Kỳ Sơn dành ra phần cuối để nói về những khiếm khuyết của ông Hồ Chí Minh trong tư cách một nhà chính trị, một nhà cai trị. Theo tác giả thì ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm trong việc không tạo được một tập quán pháp luật cho người dân Việt nam trong thời gian ông cầm quyền. Theo ghi nhận của tác giả, thì từ lúc lên cầm quyền ở nửa nước ở miền Bắc cho đến lúc mất, trong thời gian 15 năm, ông Hồ Chí Minh chỉ thông qua được 16 bộ luật.

    Cái cơ chế chính quyền ở Việt Nam, một mặt, loại trừ khả năng sáng tạo, mặt khác, lại tạo cơ hội cho cái Ác, cái Tham và cái Ngu tha hồ nảy nở. Trong cái cơ chế ấy, không ai có thể làm điều đúng hay điều tốt được, nhưng mọi đứa ác, mọi đứa tham và mọi đứa ngu đều có thể dễ dàng tác oai tác quái

    Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc

    Khiếm khuyết thứ hai mà Lê Kỳ Sơn nói về Hồ Chí Minh là những kiến thức hạn hẹp của ông về kinh tế. Tác giả nói rằng ngay cả Tư bản luận là quyển sách nói về kinh tế của chủ nghĩa cộng sản, ông Hồ Chí Minh cũng không có điều kiện tìm hiểu sâu, và ông chưa bao giờ nhắc đến kinh tế thị trường trong những trước tác của ông.

    Và điều cuối cùng là một viễn kiến về vai trò của khoa học kỹ thuật. Lê Kỳ Sơn viết rằng dù ông Hồ Chí Minh đã chứng kiến trong thời đại của ông sự phát triển của khoa học kỹ thuật nhưng ông ít nói về vai trò của nó.

    Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc đăng lại một bài viết của ông về nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh trên trang cá nhân của mình.

    Ông nhận xét:

    Với tư cách nhà cách mạng, ông Minh có thể vấp phải một số sai lầm, nhưng nói chung, các chính sách ông đưa ra nếu không đúng đắn thì ít nhất cũng có hiệu quả. Nhờ đó, ông trở thành nhà cách mạng thành công nhất ở Việt Nam trong thế kỷ 20: Ông đánh đuổi được thực dân Pháp và ông giành được chính quyền vào tay đảng của ông.

    Không đồng ý với ông, thậm chí, căm thù ông, người ta cũng không thể phủ nhận những thành công vang dội ấy. Ông đã thành công ở chỗ tất cả các nhà cách mạng khác, trước ông, từ các nhà Cần Vương đến các nhà Duy Tân, từ Phan Bội Châu đến Phan Châu Trinh và tất cả các nhà cách mạng quốc gia khác, đều thất bại.

    Ngoài ra Giáo sư Quốc cũng nói về quan điểm của ông thế nào là một nhà lãnh đạo tốt. Theo ông thì người Việt nam hay đánh giá một vị lãnh đạo bằng cách chăm chú vào những chi tiết cá nhân của người đó. Và cái đáng quan tâm là cái cơ chế chính trị của một vị lãnh đạo lớn để lại cho xã hội chứ không phải đời tư của họ. Giáo sư Quốc nói về cái mà ông Hồ Chí Minh để lại cho đời:

    Về phương diện ý thức hệ, ông Minh chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Đó là một lựa chọn có tính lịch sử; và vì có tính lịch sử, nó vừa là trách nhiệm của ông vừa không thuộc trách nhiệm của ông.

    Nhưng việc lựa chọn cơ chế tổ chức guồng máy nhà nước thì hoàn toàn nằm trong tay ông. Chính ông là người quyết định nó, xây dựng nó và điều hành nó một thời gian dài. Có thể nói cái cơ chế ấy hoàn toàn là sản phẩm của ông. Là đứa con của ông.

    Hồ chí Minh và Mao Trạch Đông (ảnh tư liệu)
    Hồ chí Minh và Mao Trạch Đông (ảnh tư liệu)

    Một tác giả khác là nhà báo Lê Diễn Đức cũng viết về ông Hồ Chí Minh.

    Trong bài viết Hồ Chí Minh và di sản của ông, tác giả Lê Diễn Đức trích lại phần tố cáo thực dân Pháp trong bản tuyên ngôn độc lập năm 1945:

    “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

    – “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”.

    – “Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân”.

    – “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”.

    – “Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu”.

    – “Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng”.

    – “Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”.

    Tôi nghĩ Cụ Hồ Chí Minh là giỏi, nhưng cái giỏi ấy có đem lại hạnh phúc cho nhân dân không thì tôi nghi ngờ, khi mà ngay sau khi đảng của ông lên cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam thì đã có hai triệu người bỏ vào Nam, và khi đảng ấy cầm quyền trên tòan bộ lãnh thổ quốc gia thì có thêm hàng triệu người nữa bỏ nước ra đi

    ông Phạm Nguyên Trường

    Ông Lê Diễn Đức viết rằng những lời tuyên án thực dân Pháp cách đây 70 năm chính là hình ảnh của xã hội Việt nam ngày nay.

    Xã hội ấy đang nằm dưới quyền cai trị của những hậu duệ tinh thần của ông Hồ Chí Minh.

    Xã hội ấy nằm trong một cơ chế do ông Hồ Chí Minh tạo ra, hay nó chính là đứa con của ông như Giáo sư Nguyễn Hưng quốc đề cập. Giáo sư Quốc mô tả cơ chế đó như sau:

    Cái cơ chế chính quyền ở Việt Nam, một mặt, loại trừ khả năng sáng tạo, mặt khác, lại tạo cơ hội cho cái Ác, cái Tham và cái Ngu tha hồ nảy nở. Trong cái cơ chế ấy, không ai có thể làm điều đúng hay điều tốt được, nhưng mọi đứa ác, mọi đứa tham và mọi đứa ngu đều có thể dễ dàng tác oai tác quái.

    Trong một lần rao đổi với chúng tôi ông Phạm Nguyên Trường, một dịch giả sống tại Việt nam nói về ông Hồ Chí Minh:

    Tôi nghĩ Cụ Hồ Chí Minh là giỏi, nhưng cái giỏi ấy có đem lại hạnh phúc cho nhân dân không thì tôi nghi ngờ, khi mà ngay sau khi đảng của ông lên cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam thì đã có hai triệu người bỏ vào Nam, và khi đảng ấy cầm quyền trên tòan bộ lãnh thổ quốc gia thì có thêm hàng triệu người nữa bỏ nước ra đi.

    Việt nam thế kỷ 21

    Nước Việt nam của thế kỷ 21 vẫn được những nhà lãnh đạo của nó cho rằng cần phải theo đuổi chủ nghĩa Mác Lê Nin. Chủ nghĩa này chính là nền tảng của cái cơ chế chính trị xã hội đang điều khiển nước Việt nam, mà nói như Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, là đứa con của ông Hồ Chí Minh.

    Blogger Kami đặt câu hỏi Còn kiên định Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa Mác Lê Nin để làm gì? Kami trả lời trong phần kết của bài viết rằng sở dĩ những người cầm quyền ở Việt nam còn áp đặt một chủ nghĩa phản động như vậy lên đất nước Việt nam chẳng qua vì tham quyền cố vị.

    Theo Kami thì sự kiên định đó của những người cộng sản tạo cho họ được sự độc quyền chính trị, và sự độc quyền chính trị này là vô cùng độc hại, dẫn tới trình trạng vô trách nhiệm và tham nhũng vô phương kiểm soát.

    Một người khác cũng viết về sự độc quyền chính trị là ông Lê Công Giàu, một đảng viên cộng sản và từng giữ những chức vụ quan trọng trước đây. Ông Giàu viết một bài gửi đến đảng của ông đăng trên trang blog Bauxite Việt Nam. Trong đó ông nói rằng sự độc quyền luôn cản trở sự phát triển của xã hội.

    Blogger Cánh Cò cũng viết về sự độc quyền chính trị đó:

    Quyền lực cao và tuyệt đối làm cho một con người dù thông minh tới đâu cũng có khi quẩn trí. Quyền lực làm cho một nhà nước, chính phủ dễ dàng trở nên độc tài nhất là khi không có một công cụ dân chủ nào kiểm soát và kềm giữ sự quá trớn từ một chính sách đưa ra, đặc biệt với chính sách nhằm đối phó với người chống lại sự độc tài của chính phủ hay nhà nước đó.

    Quyền lực cao và tuyệt đối làm cho một con người dù thông minh tới đâu cũng có khi quẩn trí. Quyền lực làm cho một nhà nước, chính phủ dễ dàng trở nên độc tài nhất là khi không có một công cụ dân chủ nào kiểm soát và kềm giữ sự quá trớn từ một chính sách đưa ra

    Blogger Cánh Cò

    Cũng trong tháng Năm này người ta thấy xuất hiện một bài báo trên báo chí chính thống ca ngợi một sinh viên ở Hà nội rằng thay vì nghe nhạc thì anh này nghe những bài giảng về chủ nghĩa Mác Lê Nin. Bài báo kết thúc bằng câu chuyện anh sinh viên nọ được kết nạp vào đảng cộng sản Việt nam.

    Nhà báo kỳ cựu Lê Thọ Bình nhận xét về cơ chế đảng trong bậc thang xã hội, chính trị tại Việt nam trong một bài viết ngắn trên Facebook:

    Trong các trường đại học không ít sinh viên đã nhìn thấy hoạt động đoàn là nơi dễ “thăng quan phát tài” hơn phấn đấu học giỏi. Ở các cơ quan nhà nước không ít người muốn lên trưởng phòng, bạn phải có cái thẻ đảng viên.

    Một điều thú vị là trong hơn 20 năm qua những người cộng sản Việt nam lại muốn kết hợp sự độc quyền chính trị của họ với Kinh tế thị trường, mà Kinh tế thị trường lại đòi hỏi sự cạnh tranh chứ không phải sự độc quyền.

    Và trong cuộc hôn nhân nhiều sóng gió đó người ta cũng thấy những nhà lãnh đạo cũng muốn họ có một hình ảnh khác. Người ta bàn tán nhiều đến việc ông Phó Thủ Tướng trẻ tuổi Vũ Đức Đam xuất hiện trên truyền hình Mỹ, có thể nói tiếng Anh thông thạo, và bình dân không quan cách. Blogger Viết từ Sài Gòn lại nhận xét là câu chuyện của ông Đam là một câu chuyện bình thưởng, nhưng nay nó xuất hiện ở Việt nam, lại được báo chí chính thống của Việt nam hết lời ca ngợi thì vô hình chung nó lại làm nổi bật lên hình ảnh mà tác giả gọi là ù ù cạc cạc của các vị lãnh đạo, hình ảnh tệ hại của nền giáo dục Việt nam đương đại.

    Và cuối cùng trong tháng Năm này nhạc sĩ blogger Tuấn Khanh lại nhớ về một người bạn văn nghệ của mình là nhạc sĩ Lê Hựu Hà ra đi vào tháng năm, năm 2003. Trong bài viết ấy Tuấn Khanh nhắc lại chuyện nhạc sĩ tài hoa Lê Hựu Hà bạn vong niên của ông và những văn nghệ sĩ khác tại miền Nam sau năm 1975 được khuyến cáo phải sáng tác theo cái gọi là… “Nền Văn Hóa Mới.” Tuấn Khanh viết rằng đó là một nền văn hóa mà không ít người vẫn tự hỏi là nó sinh ra từ đâu và để làm gì?

    Trong nền văn hóa ấy, nhạc sĩ Lê Hựu Hà chứng kiến việc người ta trưng thu những đĩa nhạc quí giá của âm nhạc thế giới như RollingStones, Beatles mà ông sở hữu. Và người nghệ sĩ chỉ còn cách bất lực nhìn người ta làm việc đó trong sự tuyệt vọng của men rượu, sự tuyệt vọng của kẻ chỉ uống rượu một lần duy nhất trong đời.

    Nền Văn hóa mới ấy có phải cũng là di sản của ông Hồ Chí Minh?

    Bài Đọc Chú Ý :

    Quan Điểm Ngô Đình – Hiểm Họa Xâm Lăng của Trung Cộng
    Tuổi Trẻ – Sau 30 Năm Tị Nạn Cộng Sản VN
    Hồ Chí Minh – tên Diệt Chủng thế kỷ 20
    TT Phạm Văn Đồng – Trả lời việc Cải Tạo tại Paris năm 1977
    Thanh Trừng Nội Bộ – Cộng Sản VN
    Hòa bình của nấm mồ – TT Nguyễn Văn Thiệu
    Kissinger bị dân Mỹ biểu tình Tại Thượng Viện Mỹ
    CIA Giữ Bí Mật – Bắc Việt Đầu Hàng Vô Điều Kiện 1973
    30.4.75 ngày giải phóng – kẻ xấu thắng
    Hậu Quả – Kẻ Dốt Ôm Súng Dựng Nước
    Chủ Nghĩa csVN – Sụp Đổ là Tất Yếu
    Chủ Nghĩa Cộng Sản Trên Thế Giới – Hiện Tại & Tương Lai
    Thuyền Nhân Vượt Biển – 30.4.75
    16 Tấn Vàng VNCH – csVN Nộp Liên Xô
    Trung Cộng Muốn Xóa Sổ Việt Nam Trên Thế Giới

  3. haiz00 says:

    Hồ Chí Minh và hội chứng ‘Một người làm quan, cả họ được nhờ’!

    Cập nhật lúc 24-05-2015 21:32:43 (GMT+1)
    Một khu thờ Hồ Chí Minh và dòng họ của Chủ tịch.

    Khắp nơi trên thế giới đang từ bỏ hiện tượng phụng thờ cá nhân như một số nhân vật độc tài. Tượng Lê Nin, Các Mác … bị đập phá ở nhiều nước. Tại Việt Nam, chiều hướng này lại đi ngược lại. Hình tượng Hồ Chí Minh và cả dòng tộc ngày càng được thần thánh hoá với chi phí “khủng”. Nó trái ngược với di chúc của Chủ tịch là cần tiết kiệm, tránh lãnh phí…

    Có đi cùng trời cuối đất trên thế giới này thì dù ai đó có là “super” Vĩ Nhân hay “siêu”Anh Hùng công trạng sự nghiệp của họ mang lại lợi ích lớn lao nhất cho cộng đồng nhân loại thì khi tôn vinh (ngay cả Unesco-LHQ) cũng xướng danh riêng cho cá nhân ấy mà thôi, không có ai bỏ công của xây dựng công trình Lăng mộ cha mẹ anh em họ hàng của nhân vật đó một cách vô lý rồi bắt mọi người cùng tôn vinh thờ tự”…

    Duy nhất trên thế giới, điều kỳ quặc này chỉ có ở VN.

    Ngày xưa tiền nhân Việt Nam mình có câu “Một người làm quan cả họ được nhờ” như để bêu riếu cái lề thói hèn mọn hoang dã của hệ thống quan lại phong kiến.

    Cứ ngỡ tệ nạn xấu xa ấy nó đã bị tiến trình văn minh của nhân loại chôn lấp vào quá khứ lâu rồi, nhưng không, nó sống lại rất “huy hoàng” dưới chế độ VN nơi đa phần người dân còn rất nghèo, hàng nữa triệu (500.000) thanh niên nam nữ tha phương cầu thực làm thuê cho thiên hạ khắp thế giới…

    Nhưng các sự kiện phí phạm mồ hôi nước mắt người dân rất là vô lý nó lại công khai trình tự nối tiếp nhau diễn ra như trên một sân khấu hài…

    Không biết có phải chốn trà dư tửu hậu các nhà thầu xây dựng rỉ tai với nhau rằng: Trong mọi gói thầu chỉ có thầu xây dựng các công trình liên quan đến Hồ Chí Minh là “ngon ăn” nhất vì 40 năm qua chưa có một công trình đền đài lăng tẩm nào thuộc “HCM và dòng họ” bị thanh tra hay bới móc cả, mấy ông UBND làm chủ đầu tư chỉ chổ nào mình ký chổ đó, đừng hỏi gì hết là xuôi chèo gác mái mọi chuyện êm ru.

    Xin phép, chỉ đề cập vài sự kiện mới nhất tương đối gần đây thôi… Toàn bộ phí tổn xây dựng đều từ ngân sách “nhà nước, đảng” trung ương và địa phương chi trả.

    Sáng 17-5, Thành ủy TP HCM tổ chức lễ khánh thành Tượng đài Hồ Chí Minh được đúc bằng đồng nguyên khối có chiều cao 4,5m trên bệ tượng 2,7 m bằng khối đá ranit đặc ruột đen tuyền, Thành phố còn đề nghị Công Ty Chiếu sáng Lyon (Pháp) thiết kế chiếu sáng nghệ thuật cho công trình này, đảm bảo hiệu quả chiếu sáng khu vực tượng ban đêm như ban ngày… Tổng chí phí hơn 10 tỷ đồng. (xin phép một lần nữa nhắc lại thông tin dưới đây):

    Hồ Chí Minh người có công…

    Theo lệnh Trung Quốc chỉ đạo lập kế hoạch đấu tố giết 172.000 đồng bào miền Bắc cho một cuộc đổi thay ruộng đất (CCRĐ) mà hiện nay số ruộng đất ấy đã quay trở lại đúng với nguyên trạng cũ trước khi CCRĐ – Nhờ vậy mà VN dư thừa lúa gạo!?.

    Chỉ một tuần sau, ngày 23/5 – Theo gương UBTP/HCM đúc tượng, tới phiên Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định khánh thành Khu tưởng niệm cha của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Sắc, được xây dựng trên diện tích hơn 2,6ha, khởi công ngày 6-8-2014, đến nay đã hoàn thành. Khu tưởng niệm có 26 công trình với các hạng mục kinh phí lên tới 67 tỷ đồng (3,5 triệu usd).

    Khu tưởng niệm cha của Hồ Chí Minh – Nguyễn Sinh Sắc,
     

    Tượng Hồ Sinh Sắc (đang ngồi) trong khi viên chức đảng ta vỗ tay
     

    Còn tại Cao Lãnh (Tỉnh Đồng Tháp) lăng mộ Nguyễn Sinh Sắc.

    Được biết, Nguyễn Sinh Sắc không phải cha ruột của Hồ Chí Minh. Cha đẻ của HCM là Nguyên Hồ Sĩ Tạo (vì vậy mới mang họ Hồ) (1)

    Lăng Mộ bà Hoàng Thị Loan – Mẹ của Hồ Chí Minh
     

    Lăng mộ Hà Thị Hy, bà nội của Hồ Chí Minh.
     

    Lăng mộ ông Nguyễn Sinh Xin (em trai Hồ Chí Minh).

    Và như thể ngồi trên đầu thiên hạ – Bắt toàn dân đến viếng thăm đốt hương cong lưng cuối đầu lạy một lúc toàn dòng họ “Hồ” thì ông Nguyễn Sinh Hùng (CT/QH) bèn gom về một mối…

    Ngày 10/6/2013, ông Nguyễn Sinh Hùng động thổ xây dựng khu đền “song hoàn-bìu trứng-nhất dương chỉ”, nơi thờ toàn bộ Tổ cha, anh em, dòng họ ông HCM – rộng hơn 100 ha (150 tỷ) tại Nghệ An. 

    Một nhà dân nghèo nhưng một lòng vẫn theo Đảng và Bác… (được bao lâu?)
     

     Tượng Lenin bị người dân Nga chặt đầu quăng xuống đất.
    Một ông già nghiêng đầu hỏi: “Mày đã giết chết bao nhiêu người dân Liên Xô hả? hả?

    Hồn thiêng sông núi Việt Nam ơi – Đảng CSVN quang vinh bao nhiêu năm nữa?

    Nguồn: Hoàng Thanh Trúc/DLB

  4. haiz00 says:

    Trần Trung Đạo: Trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam

    (Vài suy nghĩ sau khi đọc tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ và tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu)

    Tháng 2 năm 2007, trên diễn đàn talawas, tôi có viết một bài để góp ý với ông Võ Văn Kiệt về “hòa giải dân tộc và khép lại quá khứ”. Thời gian ngắn sau đó, tôi nhận một email từ Việt Nam chuyển lời của ông Võ Văn Kiệt, rằng nhiều điểm góp ý của tôi có thể tranh luận nhưng cũng rất nhiều điểm ông thừa nhận là rất có lý. Ông cũng dặn với người đưa tin nếu tôi có dịp về thì đưa tôi đến nhà chơi để trao đổi với ông. Tôi trả lời, cũng qua trung gian người đưa tin, cám ơn ông về việc mời đến nhà nhưng quan trọng hơn tôi mong ông đáp lại những điều tôi đã nêu ra trong bài viết, nhất là những điểm ông cho rằng có thể tranh luận được, và phổ biến rộng rãi cho mọi người cùng đọc. Chuyện đất nước là chuyện chung chứ không phải là chuyện giữa ông và tôi. Các thế hệ Việt Nam mai sau trưởng thành từ những bài học, những kinh nghiệm của các thế hệ đi trước để lại. Không có kinh nghiệm lịch sử nào là nên bỏ qua và không có bài học lịch sử nào mà không đáng học. Có lần tôi đọc đâu đó, ông Võ Văn Kiệt dự tính viết một cuốn sách, tôi rất mừng và âm thầm chờ đợi một tác phẩm hay một hồi ký của ông.

    Tôi không kỳ vọng ở hồi ký của ông Võ Văn Kiệt một con số đúng về bao nhiêu sĩ quan công chức chế độ Việt Nam Cộng hòa bị ông và Đảng của ông đày ra các vùng rừng sâu nước độc Tiên Lãnh, Hàm Tân, Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Thanh Hóa. Tôi không kỳ vọng ở hồi ký của ông một con số bao nhiêu người dân Sài Gòn bị ông và Đảng của ông đuổi đi khắp các vùng kinh tế mới miền Đông, miền Tây Nam Bộ. Tôi không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ công bố đầy đủ danh sách những người bị Ủy ban Quân quản, do ông làm bí thư Đảng ủy đặc biệt, xếp vào thành phần tư sản mại bản; của cải, nhà cửa bị tịch thu, cha mẹ phải vào tù, con cái phải sống lang thang đầu đường cuối chợ. Tôi không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ giải thích nguyên nhân nào khiến hàng triệu người Việt đã bất chấp sóng to gió lớn để vượt biển tìm một con đường sống trong muôn ngàn đường chết. Tôi cũng không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ chính thức xin lỗi cùng nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, những sai lầm của Đảng do ông trực tiếp lãnh đạo đã gây ra. Và như tôi đã đọc tiểu sử, quá trình đấu tranh của ông và những mất mát của riêng bản thân ông, tôi cũng không nghĩ ông Võ Văn Kiệt sẽ thành lập một đảng hay một cánh đối lập, công khai thách thức vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản để lót đường cho một cuộc vận động toàn dân, toàn diện nhằm tiến đến một xã hội mới, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng như một số người đã bàn tán trước đây.

    Ông Võ Văn Kiệt từ năm 1938 cho đến cuối đời vẫn là người cộng sản. Khác chăng so với những lãnh đạo cộng sản cùng thời, ông Võ Văn Kiệt sinh ra từ miền cây trái Vĩnh Long, phần lớn quãng đời đấu tranh của ông cũng từ ruộng đồng, sông nước miền Nam, gần gũi với nhân dân miền Nam và trong những ngày cuối đời nhìn lại đã có lúc chạnh lòng buông những câu nói như những lời an ủi muộn màng, rải rác đó đây trên vài cơ quan ngôn luận, trong những buổi nhậu, dành cho những người đã chịu đựng dưới bàn tay ông.

    Dù sao tôi cũng mong ông viết, bởi vì hơn ai hết, ông Võ Văn Kiệt là người có thẩm quyền để viết. Giá trị trong tác phẩm của ông Võ Văn Kiệt không hẳn ở chỗ là sự thật mà là sự kiện, dù được nêu ra để biện hộ cho những sai trái của chính ông. Những Giọt nước trong biển cả của Hoàng Văn Hoan và Hồi ký của một Việt cộng của Trương Như Tảng vẫn có giá trị sự kiện nhất định và là những tác phẩm tham khảo cần thiết cho các sử gia và thế hệ mai sau. Hôm nay, ông Võ Văn Kiệt đã qua đời. Ông ra đi mang theo nhiều chi tiết quan trọng của những năm khó khăn nhất trong lịch sử dân tộc thời cận đại. Phần lớn những lời phân ưu dành cho ông đều chấm dứt bằng câu cầu mong hương linh ông được yên nghỉ, nhưng làm sao hương linh ông có thể yên nghỉ được khi vẫn còn nợ thế gian này một món nợ mà ông chưa trả hết.

    Những chịu đựng của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân miền Nam nói riêng dưới bàn tay ông Võ Văn Kiệt và Đảng của ông trong những năm ngay sau 1975, sẽ mãi mãi sẽ là một vết thương hằn sâu trong lịch sử. Máu và nước mắt của nhân dân miền Nam đổ xuống trong các trại tù, trên các khu kinh tế mới, dọc các vỉa hè Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn đã đóng thành băng trong ký ức của giống nòi. Không ai trách ông Võ Văn Kiệt tại sao bảy mươi năm trước đã tham gia Đảng Cộng sản nhưng chắc chắn các thế hệ Việt Nam mai sau sẽ trách ông đã không có những câu trả lời cho những thảm trạng mà đất nước đã trải qua trong suốt 22 năm dài (1975 – 1997), thời gian ông đã đóng vai trò quan trọng trong chính trị Việt Nam.

    Ông Võ Văn Kiệt, giống như hầu hết những người cộng sản trong thế hệ Tân Trào, Pác Bó đã không làm được, đã không trả lời được những câu hỏi của phiên tòa lịch sử, nhưng tôi tin các thế hệ Viêt Nam tham gia Đảng Cộng sản sau ông, thế hệ “chống Mỹ cứu nước”, thế hệ “Tổng công kích Tết Mậu Thân” với một số khá đông vẫn còn đang sống, có thể trả lời và thậm chí phải trả lời trước khi các anh các chị xuôi tay nhắm mắt ra đi.

    Điều đáng mừng là trong thời gian qua, một số hồi ký như Tôi bị bắt của nhà thơ Trần Vàng Sao, Tôi bày tỏ của nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự mà tôi đã có dịp góp ý trước đây, tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, hay mới đây tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu đã nối tiếp nhau ra đời. Các anh viết vì bức xúc cá nhân hay từ nhận thức chính trị không phải là điều quan trọng, điều quan trọng nhất vẫn là viết ra. Tôi tin rằng với chiều hướng Việt Nam đang cố mở rộng các mối quan hệ với nước ngoài, những tấm màn sợ hãi sẽ được vén lên cao hơn, những biên giới cách ngăn sẽ dần dần thu hẹp, trong tương lai sẽ có nhiều tác phẩm như thế nữa.

    Tôi vừa đọc hết tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu. Là một người trong thế hệ trẻ hơn, tôi cảm ơn anh đã kể lại những chặng đường anh đã đi qua, ghi lại những thao thức và trăn trở của anh và thế hệ anh. Ngay cả những việc chúng ta mới làm hôm qua, hôm nay có thể đã không còn đúng nữa và những câu nói mới vừa thoát ra khỏi cửa miệng nhiều khi biết mình nói sai rồi, huống hồ những việc đã làm 40 năm trước. Ai cũng có một thuở hai mươi và ai cũng trải qua một thời tuổi trẻ. Sinh ra và lớn lên trên quê hương chiến tranh, nghèo khó, chịu đựng cái nhục của một nước nhược tiểu bị các nước lớn khinh khi, coi rẻ, câu hỏi làm gì cho đất nước luôn là mối ám ảnh hàng ngày, hàng đêm trong ý thức của những người trẻ biết đau cái đau của đất nước.

    Năm 1968, năm cao điểm của cuộc chiến Việt Nam, tôi lớn lên ở gần cửa biển Sơn Chà, quận 3, Đà Nẵng. Buổi chiều tôi thường ngồi trên cồn cát trắng ở xóm Cổ Mân nhìn những đoàn xe chở bom đạn nối đuôi nhau từ cảng Tiên Sa nhập vào các kho quân sự chung quanh thành phố để từ đó đi vào cuộc chiến. Tôi thầm nghĩ những bom đạn kia nay mai đây sẽ rơi xuống ở một nơi nào đó trên quê hương tôi. Đêm đêm trên đường Bạch Đằng dọc bờ sông Hàn những anh lính Mỹ đen, Mỹ trắng miệng sặc mùi bia rượu, tay ôm những cô gái Việt bằng tuổi chị tôi và cất tiếng cười khả ố. Niềm tự ái dân tộc trong lòng tôi dâng cao. Tôi cảm thấy bi xúc phạm. Họ xúc phạm không chỉ dân tộc Việt Nam, người con gái Việt Nam, mà dường như còn xúc phạm đến cả hàng phượng đỏ, hàng sao xanh trên con đường Bạch Đằng thơ mộng. Cách thành phố Đà Nẵng không xa là bãi rác Hòa Cầm rộng mênh mông. Nơi đó, mỗi buổi sáng, hàng trăm đứa bé mới ngoài mười tuổi như tôi bám theo những chiếc xe rác Mỹ để nhặt những miếng thịt thừa, những lon bơ bỏ dở và ngay cả từng chiếc bao nhựa dơ dáy. Ngày đó, tuy còn khá nhỏ tôi đã biết tủi thẹn cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành dây chùm gởi, đồng thời tôi cũng tự hỏi, những điêu tàn đổ nát, những bất công phi lý của xã hội Việt Nam, trong đó có sự hiện diện của những người Mỹ đen Mỹ trắng kia phải phát xuất từ một hay nhiều nguyên nhân nào đó.

    Hoàn cảnh đất nước và nhiệt tình tuổi trẻ đã buộc các anh chị chọn lựa cho mình một hướng đi, một lý tưởng sống, một dâng hiến dành cho quê hương mà các anh chị nghĩ là đúng nhất. Sự chọn lựa nào cũng kèm theo đó sự hy sinh, cũng mang tính lịch sử và lịch sử Việt Nam trước 1975 là một lịch sử đầy nhiễu nhương, đau thương và ngộ nhận. Nhìn lại tuổi hai mươi không phải để phê phán những việc làm thời đó đúng hay sai. Sai hay đúng là thái độ của hôm nay và về sau chứ không phải của quá khứ.

    Bốn mươi năm trước, nếu có người cho rằng xã hội miền Bắc tốt đẹp hơn xã hội miền Nam có thể đã không gây ra nhiều tranh cãi bởi vì các tệ nạn tham nhũng, quan chức lộng hành quá phổ biến ở miền Nam trong khi chưa ai thật sự sống một ngày dưới chủ nghĩa xã hội; thế nhưng, hơn 30 năm sau mà những người đó vẫn còn tiếp tục luận điệu giống như thế thì đó chỉ là một cách nói liều.

    Bốn mươi năm trước, vì giới hạn về tài liệu tham khảo, nếu có người nhận xét ông Hồ Chí Minh, ông Trường Chinh, ông Lê Duẩn về mặt đạo đức tốt hơn các ông Tổng thống miền Nam có thể còn thông cảm, nhưng sau 30 năm với tất cả tài liệu đã được tiết lộ, Cải cách Ruộng đất, Nhân văn – Giai phẩm, vụ án xét lại, Tổng công kích Mậu Thân, chuyên chính vô sản, độc tài đảng trị, mà có người sùng bái các lãnh tụ cộng sản trên thì thật là một niềm tin mù quáng.

    Tôi cũng cám ơn nhà văn Tô Nhuận Vỹ đã phổ biến tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập”, kết quả của đề tài nghiên cứu mà anh tham gia với William Joiner Center (WJC) thuộc Đại học Massachusetts trong hai năm 2005 đến 2007. Vài điểm trong tiểu luận của anh có thể thảo luận như tôi sẽ làm dưới đây, nhưng về tổng quát tiểu luận này đã giúp cho tôi thêm những kiến thức về sinh hoạt văn học trong nước mà tôi không biết đến nhiều.

    Nhắc đến WJC, tôi nhớ lại những chuyện xảy ra mười năm trước. Tôi sống ở Boston và không xa lạ gì các khóa hội thảo mùa hè của WJC. Trong hai năm 1998 và 1999, tôi đã cùng một số anh chị trong giới cầm bút đến nói chuyện tại các khóa hội thảo mùa hè của trung tâm này. Mặc dù không phải là nhà văn, nhà thơ có những tác phẩm văn chương đủ tầm vóc để đại diện cho văn nghệ sĩ hải ngoại, tôi vẫn được mời, đơn giản chỉ vì tôi sống ngay tại Boston, quen thuộc với sinh hoạt của cộng đồng người Việt và đã có thời học ở Đại học Massachusetts.

    Tôi ủng hộ quan điểm và thái độ tích cực tham gia vào các khóa hội thảo mùa hè tại Đại học Massachusetts của tổ chức cộng đồng Việt Nam. Thay vì tập trung các sinh hoạt trong nội bộ người Việt, sự có mặt trong những buổi thảo luận về văn học Việt Nam, chiến tranh và hậu quả xã hội Việt Nam tại các diễn đàn rộng hơn, liên quan đến nhiều quốc gia là những việc nên làm và ngay cả phải làm. Chúng ta đang đấu tranh cho quyền tự do phát biểu của đồng bào trong nước thì không có lý do gì tự giới hạn quyền phát biểu của chính mình trong một xã hội tự do.

    Trong chiến tranh, chế độ Việt Nam Cộng hòa không có nhiều cơ hội để nói lên tiếng nói chính nghĩa của mình. Miền Nam không phải của ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu hay Dương Văn Minh mà là miền Nam của hơn hai chục triệu người, trong đó có một triệu người lính đã phải chiến đấu trong những điều kiện hết sức khó khăn, vừa cô đơn và cũng vừa cô thế. Những vành khăn tang trắng của những người vợ lính, những đứa bé mồ côi vì cha vừa tử trận chỉ trắng trong các khu gia binh nghèo, trong những căn nhà tranh heo hắt chứ không trắng trên các màn ảnh truyền hình quốc tế. Và từ sau 1975, các nhà văn, nhà thơ từ các quốc gia khác cũng chỉ biết Việt Nam dưới chế độ cộng cản qua vở kịch do Đảng Cộng sản Việt Nam dàn dựng, qua các khẩu hiệu tuyên truyền của phe có quyền ăn nói, nhưng không biết đến một Việt Nam khác đang bị bịt miệng, đang bị đày ải trong tù ngục và bị tước đoạt những quyền căn bản của con người. Do đó, giống như việc thắp lên que diêm trong đêm tối trời, gióng lên được một tiếng nói của lương tâm dù ở đâu cũng là điều cần thiết.

    Ngoại trừ tôi, hầu hết các nhà văn miền Nam tham dự các khóa hội thảo mùa hè do WJC tổ chức đều đã nhiều năm phục vụ trong quân đội và thời gian ở tù sau 1975 cũng không ngắn hơn bao nhiêu so với quãng đời lính tráng của họ. Trong số anh em chúng tôi, nhà văn Hoàng Ngọc Liên lớn tuổi nhất. Vào tháng 9 năm 1999 ông đã ngoài 70 tuổi. Là một cựu sĩ quan cao cấp trong quân đội Việt Nam Cộng hòa và bị giam 13 năm trong các nhà tù khắp miền bắc, thế nhưng, ông không dùng diễn đàn WJC để tố cáo tội ác cộng sản, để đòi Đảng Cộng sản phải đền nợ máu trước nhân dân, đòi giới lãnh đạo Đảng phải ở tù ít nhất bằng số năm ông đã từng phải ở. Không. Nhà văn Hoàng Ngọc Liên xem buổi hội thảo chỉ là cơ hội để kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong năm tháng ông ở tù và quan trọng hơn, nhắn gởi những lời đầy hy vọng đến những người cầm bút Việt Nam thuộc thế hệ trẻ trong nước cũng như đang tham gia trong khóa hội thảo mùa hè năm đó. Trong bài viết “Những câu chuyện chưa kể” ông đọc ở hội thảo vào buổi chiều ngày 1 tháng 9 năm 1999 tại Đại học Massachusetts, Boston, nhà văn Hoàng Ngọc Liên kết luận: “Tôi nghĩ rằng lâu nay, nhất là từ năm 2000, tuổi trẻ Việt Nam là kỳ vọng của dân tộc Việt Nam, trong chiều hướng góp phần xây dựng đất nước chúng tôi, một đất nước bị chiến tranh tàn phá, sau 24 năm hòa bình, thống nhất, vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu mà dân chúng hầu như xa lạ với những quyền Tự do căn bản của con người. Tôi, và những người như tôi, tin tưởng vào thế hệ trẻ, ủng hộ các bạn trẻ cầm bút, với văn phong mới mẻ hơn, súc tích hơn.”

    Nếu câu nói trên do tôi nói ra thì chẳng có gì đáng để ý. Tôi trẻ hơn nhà văn Hoàng Ngọc Liên nhiều, chưa từng bị đánh đập, bị đày ải một ngày nào trong các trại tập trung Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Vĩnh Phú, phát biểu hay ca ngợi lòng nhân ái là chuyện thường tình, nhưng nhà văn Hoàng Ngọc Liên thì khác, ông vừa mới thoát ra khỏi địa ngục trần gian cộng sản, sức khỏe chưa kịp phục hồi, thân thể còn đau nhức nhưng vẫn dựa lên các giá trị thiêng liêng của tình dân tộc và mục đích Tự do, Nhân bản cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau để nói lên những lời tâm huyết của mình. Thật quý hóa và may mắn biết bao nhiêu. Không ai hòa giải với ông và ông cũng chẳng cần ai hòa giải. Ông đã tự hóa giải các xung đột bằng nhận thức và qua đó đã hòa giải được với chính mình. Dù bị tù 13 năm ông đã bước ra khỏi cổng trại như một người chiến thắng chứ không phải người thua trận. Ông trở về như sau một cuộc hành quân dài chứ không phải một người vừa được trao trả tự do, bởi vì lý tưởng Tự do Nhân bản vẫn còn là nguồn thôi thúc trong lòng nhà văn 70 tuổi và ông vững tin mục đích tốt đẹp đó một ngày sẽ đến với đất nước Việt Nam.

    Đọc tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập”, tôi cũng tìm thấy trong nhà văn Tô Nhuận Vỹ một ước vọng ngày mai tươi sáng như nhà văn Hoàng Ngọc Liên. Đất nước phải vượt qua những bế tắc, văn học phải vượt qua những bế tắc, mỗi nhà văn nhà thơ cũng phải tìm mọi cách vượt qua những bế tắc của chính mình để đi lên và đưa đất nước đi lên. Tuy nhiên, khác với nhà văn Hoàng Ngọc Liên ở điều kiện tự do, nhà văn Tô Nhuận Vỹ cho rằng bước đầu tiên và cần thiết nhất để hội nhập văn học Việt Nam trong cũng như ngoài nước là hòa hợp hòa giải trong giới văn nghệ sĩ: “đội ngũ nhà văn Việt Nam sẽ đóng vai trò đi đầu, là chiếc cầu nối cho việc hoà giải, hoà hợp dân tộc, đặc biệt giữa cộng đồng người Việt ở nước ngoài với đồng bào trong nước, do hoàn cảnh lịch sử, đã để lại một hố sâu ngăn cách, dị biệt chua xót sau chiến tranh.”

    Tôi không nghi ngờ thiện chí của nhà văn Tô Nhuận Vỹ nhưng thành thật mà nói, hòa giải hòa hợp chỉ là một chiếc bóng do Đảng vẽ ra mà những người Việt có lòng đang đuổi bắt như đã từng đuổi bắt con bồ câu hòa bình trước 1975.

    Hình ảnh con bồ câu trắng hiền hòa trên bầu trời quê hương thân yêu đã đẩy bao nhiêu tuổi trẻ Việt Nam tự nguyện lao vào chỗ chết, đơn giản bởi vì “nếu là chim tôi sẽ làm một bồ câu trắng và nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương”. Các thành phố lớn miền Nam như Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, đâu đâu cũng xuất hiện các phong trào đòi quyền sống, đòi hòa bình, đòi tự quyết. Các cuộc xuống đường diễn hành gần như mỗi ngày, mỗi tuần, nhiều đến nỗi làm cho dư luận quốc tế và cả những người hiểu biết giới hạn về chính trị có nhận xét trong các phe đang đánh nhau chỉ có chính quyền miền Nam mới là những kẻ hiếu chiến và đi ngược lại khát vọng hòa bình dân tộc.

    Kỹ thuật tuyên truyền tinh vi của Đảng đã biến những người lính miền Nam đang ngày đêm đổ máu trong cuộc chiến mà không có quyền chọn lựa thành những kẻ sát nhân, trong lúc những kẻ ném lựu đạn vào nhà hàng Mỹ Cảnh, pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, chôn sống đồng bào trên Bãi Dâu Huế, đặt mìn trên quốc lộ số một… lại trở thành những anh hùng dân tộc. Và sau 1975, mọi người đều biết tất cả các phong trào hòa bình giả tạo đó đều do Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo, những con chim bồ câu trắng xinh xinh kia là do bàn tay Đảng vẽ ra, và những kẻ ném bom ngày nào cũng không ai khác hơn chính là những đảng viên biệt động thành trung kiên của Đảng.

    Tôi cũng không nghĩ cần thiết phải có một nhu cầu hòa giải trong giới văn nghệ sĩ dù một thời đã phải đứng hai bên chuyến tuyến khác nhau. Tôi chưa gặp anh Tô Nhuận Vỹ chỉ vì chúng ta chưa có điều kiện gặp nhau chứ không phải tôi hận thù, oán trách gì anh mà không gặp. Tôi đi rất nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều anh chị chú bác trong giới cầm bút nhưng rất hiếm khi gặp một nhà văn nhà thơ mang lòng thù hận các nhà văn nhà thơ trong nước. Một số khá đông không thích tham gia vào các tác phẩm viết chung giữa các nhà văn trong nước và hải ngoại bởi vì họ không muốn làm cái loa tuyền truyền giùm cho Đảng, vả lại những tác phẩm viết chung chẳng đem lại một lợi lạc gì cụ thể khi phần lớn chỉ phát hành tại hải ngoại chứ không phải trong nước, một nơi có 80 triệu người cần phải đọc. Sau 33 năm, hàng trăm tác phẩm được viết trước 1975 tại miền Nam vẫn chưa được tái bản, chưa được công nhận, nhà văn nhà thơ gốc Việt Nam Cộng hòa vẫn còn bị đối xử như một thứ công dân hạng hai, nói chi là các nhà văn nhà thơ vượt biên sau 1975 và tác phẩm của họ được viết ra tại hải ngoại. Nếu văn học là đời sống tinh thần của con người trong một thời đại nhất định thì văn học hải ngoại hẳn phải mang đậm nét của hành trình tìm tự do đầy gian khổ, đương nhiên những tác phẩm như thế sẽ không bao giờ có mặt trong một nhà sách nào ở Việt Nam khi chế độ cộng sản còn tồn tại.

    Tình cảm giữa những người cầm bút dù bên này hay bên kia không xa cách nhiều như anh Tô Nhuận Vỹ lo lắng. Tôi còn nhớ mười năm trước, vài ngày trước khi đến WJC tham gia hội thảo, có người hỏi tôi, nếu gặp nhau trong buổi hội thảo, tôi sẽ làm gì, sẽ đối xử ra sao với những người được gọi là “văn nô cộng sản” từ Việt Nam sang. Tôi trả lời người đó rằng sau buổi hội thảo, tôi sẽ rủ các anh chị từ trong nước sang đi uống cà-phê. Mọi người ngồi chung quanh tôi hôm đó đều bật cười vì nghĩ rằng tôi nói chơi. Không, tôi nói thật. Tôi đã đi uống cà-phê với nhiều anh chị văn nghệ sĩ từ trong nước sang. Không giống như những năm đầu, thời anh Lê Lựu sang tham gia WJC trở về, viết những bài ký sự rẻ tiền được in trong hai tập ký Một thời lầm lỗi và Trở lại nước Mỹ, các anh chị đến những năm sau dễ thông cảm hơn nhiều. Gặp ai tôi cũng chỉ yêu cầu một điều, hãy viết về cuộc đời và đất nước như các anh các chị đã từng sống. Thời kỳ viết theo chỉ thị đã qua rồi, xin để lại cho các thế hệ mai sau những lời chân thật. Hơn bao giờ hết đất nước đang cần những người nói thật và sống thật.

    Đối với các em sinh viên du học cũng thế. Tôi gặp họ rất sớm. Nhiều em mới sang còn đọc thơ Tố Hữu cho tôi nghe và còn nói về “Bác Hồ là vị cha chung, là sao Bắc Đẩu là vầng Thái Dương” của các em bằng một ánh mắt hồn nhiên và hãnh diện. Tôi kiên nhẫn nghe mà không phản đối bởi vì tôi hiểu đó là tất cả những gì em có. Thế giới tri thức của em từ lớp vỡ lòng đã được đóng khung trong những bài giảng đầy tính giáo điều cuồng tín. Một tuần lễ trước khi bị xử tử hình về tội diệt chủng, Nicolae Ceausescu vẫn còn được học sinh Rumani, giống như các em học sinh Việt Nam ngày nay, ca tụng là tinh hoa kết tụ từ dòng trường giang Danube. Tôi biết sau 4 năm đại học, các em sẽ thay đổi. Các em còn trẻ nên những thói hư tật xấu, mê tín dị đoan dễ đến nhưng rồi cũng sẽ dễ đi. Bệnh sùng bái cá nhân sẽ bớt dần, nhường chỗ cho ánh sáng khoa học thâm nhập vào tâm hồn trẻ trung của các em. Quá trình đổi mới nhận thức không diễn ra trong một sớm một chiều mà là một quá trình dài, từng bước và liên tục. Các em sẽ lớn lên và trưởng thành không phải chỉ ở tuổi tác mà cả về trí thức. Mỗi thế hệ có trách nhiệm riêng trong từng giai đoạn lịch sử. Các bậc cha chú dù đúng hay sai rồi cũng sẽ lần lượt xuống đất hay lên giàn hỏa và các em sẽ phải nghiêng vai gánh vác trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Các em có quyền trách móc, đổ thừa nhưng không có quyền từ chối.

    Cửa nhà tôi ngày đó giống như cửa chùa, ai đến cũng được, tôi chưa bao giờ hỏi lý lịch hay căn cước người nào. Cách nói và cách trả lời với từng người có thể khác, nhưng đều chuyên chở một quan điểm chính trị và niềm tin về tương lai đất nước giống nhau. Quan điểm chính trị của tôi rất rõ ràng và đơn giản. Với tôi, cả dân tộc Việt Nam từ Bắc đến Nam, từ nhà văn nhà thơ cho đến người chưa hề viết nổi một lá thư, từ các nhà trí thức học nhiều hiểu rộng cho đến các bác nông dân tay lấm chân bùn, từ các cha cho đến các thầy, từ những người đã chết sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập năm 1930 hay còn sống hôm nay, nói chung hơn 80 triệu người, đều là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản.

    Đảng Cộng sản thắng trong chiến tranh không phải vì họ có chính nghĩa, mà bởi vì họ đã kiên trì với mục đích nhuộm đỏ Việt Nam, được tổ chức một cách tinh vi từ trung ương Đảng cho đến tận tổ ba người và khai thác triệt để lòng yêu nước sâu đậm của người dân Việt Nam. Tôi cũng có một niềm tin rằng dân tộc Việt Nam với mật độ dân số trung bình không quá đông hay quá ít, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, với lực lượng chuyên viên đông đảo trong các ngành khoa học đang có mặt trên khắp thế giới, với truyền thống yêu nước Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa vẫn chảy đầy trong huyết quản, nếu được chắp đôi cánh tự do, dân chủ, nhân bản, Việt Nam sẽ bay lên cao, sẽ thật sự trở thành một cường quốc kinh tế, cường quốc quân sự, sẽ đủ khả năng bảo vệ sự toàn vẹn vùng trời, vùng biển của tổ quốc thiêng liêng. Nếu không có tự do dân chủ, “khát vọng cất cánh” mà anh Tô Nhuận Vỹ nêu ra trong phần đầu tiểu luận chỉ là một giấc mơ tiên.

    Có người cho rằng Đảng Cộng sản đã có một thời đồng hành với dân tộc, cùng hướng đến một mục tiêu như dân tộc Việt Nam, do đó vai trò lãnh đạo của Đảng ngày nay là hệ quả tất yếu của lịch sử. Tôi không đồng ý. Đó là lý luận của kẻ cướp. Với tôi, rất nhiều đảng viên Đảng Cộng sản tham gia chống Pháp phát xuất từ lòng yêu nước và đã chết cho đất nước như tôi đã nhiều lần viết trên diễn đàn này, nhưng bản thân Đảng Cộng sản như một tổ chức chính trị chưa bao giờ đồng hành với dân tộc. Việc giành lại nền độc lập và chủ quyền đất nước từ tay thực dân là mục tiêu, là bến bờ của dân tộc Việt Nam, trong khi đó đối với Đảng Cộng sản, độc lập dân tộc chỉ là phương tiện, một chiếc cầu, một chiếc ghe họ cần có để đi qua trên đường tiến tới cách mạng vô sản. Mục tiêu đó đã được khẳng định ngay trong “Luận cương chính trị” Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú chủ trì năm 1930 và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương phê chuẩn vào tháng 4 cùng năm:”Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng; hai giai đoạn cách mạng từ cách mạng tư sản dân quyền chống đế quốc và phong kiến nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng và sau đó chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.”

    Sau 1975, một số người từng xếp bút nghiên vào rừng “Chống Mỹ cứu nước” đã phẫn nộ, kết án giới lãnh đạo Đảng đi ngược lại quyền lợi dân tộc, phản bội lý tưởng, phản bội máu xương của đồng chí họ, đưa đất nước đi vào con đường nghèo đói, độc tài, đảng trị. Nghĩ cho đúng, đó là những lời kết án thiếu cơ sở lý luận lẫn thực tế. Thật là oan cho Đảng. Nếu họ chịu khó đọc các đề cương chính trị đại hội Đảng từ ngày thành lập 78 năm trước cho đến đại hội lần thứ X cách đây hai năm, sẽ thấy Đảng Cộng sản chưa bao giờ phản bội mục tiêu của mình. Mục tiêu cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam và đặt dân tộc Việt Nam dưới quyền cai trị tuyệt đối của Đảng chưa bao giờ thay đổi. Vì một số điều kiện cách mạng và biến chuyển chính trị thế giới xảy ra ngoài tiên liệu, các chính sách của Đảng cũng phải theo đó mà áp dụng một cách thích nghi hơn, mềm dẻo hơn qua những chính sách gọi là “đổi mới”, “hội nhập” v.v…, nhưng mục đích của Đảng từ trước đến sau luôn nhất quán.

    Có người đến nay vẫn nghĩ rằng việc họ hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản để đứng lên “Chống Mỹ cứu nước” là một lý tưởng cao đẹp của cuộc đời họ, nhưng không biết rằng câu đó chỉ là một trong hàng chục khẩu hiệu có tính giai đoạn mà Đảng đã dùng. Nếu Mỹ không qua Việt Nam thì Đảng có để yên cho nhân dân miền Nam xây dựng một xã hội tự do dân chủ không? Chắc chắn là không. Dĩ nhiên, Mỹ không qua sẽ không có khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước”, nhưng Đảng có thừa chuyên viên truyên truyền chuyên nghiệp để nghĩ ra những khẩu hiệu khác không kém phần khích động.

    Tôi đồng ý với nhà văn Tô Nhuận Vỹ rằng giữa các nhà văn nhà thơ trong và ngoài nước hay đã từng đứng trên chuyến tuyến khác nhau vẫn còn “một hố sâu ngăn cách, dị biệt chua xót”, nhưng nghĩ cho đúng, cái hố sâu đó chẳng phải do nhà văn nhà thơ nào đào ra. Đó không phải là hố sâu tình cảm mà là hố sâu ý thức hệ. Theo lẽ tự nhiên, ai đào ra thì người đó phải lấp lại. Trách nhiệm hòa giải hòa hợp dân tộc, xóa bỏ các cách ngăn về ý thức hệ là trách nhiệm của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt 33 năm qua với bao nhiêu cơ hội nhưng các lãnh đạo Đảng chẳng những không thể hiện một hành động nào cụ thể để chứng tỏ tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc mà càng đào sâu hơn những hố sâu ngăn cách, làm lở loét thêm những vết thương vẫn còn đang mưng mủ trên da thịt của nhiều triệu người Việt Nam. Việc yêu cầu chính quyền Nam Dương đập bỏ tấm bia tưởng niệm đồng bào chết trên Biển Đông hay việc tổ chức rầm rộ kỷ niệm 40 năm Mậu Thân trên nỗi đau câm nín của hàng ngàn đồng bào Huế là vài ví dụ điển hình.

    Với đồng bào hải ngoại, những hành động xúc phạm hương linh của những em bé chết trôi, những bào thai ngột nước ngay lúc còn trong bụng mẹ, những oan hồn đang vất vưởng khắp Biển Đông như thế, làm sao lãnh đạo Đảng Cộng sản có thể vận động được đoàn kết trong ngoài, nhất là đối hơn hai triệu người Việt hải ngoại, để cùng đưa đất nước đi lên?

    Với đồng bào trong nước, những chương trình ca nhạc rầm rộ mừng 40 năm chiến thắng Mậu Thân, trong lúc cùng thời điểm đó trên khắp ba miền đất nước, nhất là tại Huế, hàng trăm ngàn đồng bào đang khóc trong âm thần, trong tủi nhục, trong hờn căm u uất, thì làm sao lãnh đạo Đảng có thể phát huy được nội lực dân tộc?

    Bất cứ một người Việt Nam nào với một trình độ nhận thức trung bình cũng biết những hành động vừa nêu của giới lãnh đạo Đảng là không cần thiết và quá đáng. Tôi tin ngay cả trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng cũng có người biết việc đó là phi nhân, lạc hậu, vụng về và quá đáng, nhưng họ không có chọn lựa nào khác ngoài việc phải làm, đơn giản bởi vì che đậy tội ác là phản ứng tự nhiên của những kẻ đã gây ra tội ác.

    Chim bay cần đôi cánh nhưng không phải giống chim nào có cánh cũng có thể bay cao. Chim se sẻ chỉ biết bay quanh vườn, nhảy nhót trên những cành xoài, cành ổi, nhưng để có một hạm đội Việt Nam, một phi đoàn Việt Nam, một vệ tinh Việt Nam, một phi thuyền Việt Nam, đất nước phải cần có đôi cánh phượng hoàng, nói đúng hơn là đôi cánh dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam, với những mâu thuẫn đối kháng và bế tắc ngay từ bên trong cơ cấu độc tài đảng trị sẽ không có khả năng đưa đất nước lên ngang tầm với thời đại, và do đó, việc chọn lựa một con đường thay thế là trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam trong và ngoài nước hôm nay.

    © 2008 talawas

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s