Báo Anh: Hồ Chí Minh là một trong những trùm diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20

Hồ Chí Minh là một trong những trùm diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20.
Dân Việt có nên tôn thờ Hồ Chí Minh là cha già Dân Tộc không ? Tôn thờ một kẻ diệt chủng tàn ác, mà đảng csVN đang tôn như thế.(Hải)

Hãy đọc:  đường lối chánh trị của Lê-nin, Simon Leys (Essais sur la Chine, Robert Laffont, Paris, 1998) trích dẫn một câu nói kinh điển của Lê-nin tưởng cũng cần ghi ra đây để thấy tại sao cộng sản phải cai trị độc tài triệt để : « Một chế độ sẵn sàng thực thi khủng bố không giới hạn thì không thể nào bị sụp đổ được » .
Nguồn

TT Phạm Văn Đồng – Trả lời việc Cải Tạo tại Paris năm 1977

Bạn đọc Danlambao – Lãnh tụ đảng CSVN, ông Hồ Chí Minh vừa có tên trong danh sách những kẻ diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20, theo bình chọn của Daily Mail – tờ báo có lượng phát hành hàng đầu nước Anh.

Trong bài ‘Từ Stalin đến Hitlet, những chế độ diệt chủng tàn ác nhất thế giới‘ đăng hồi tháng 10/2014, nhiều tên trùm diệt chủng khét tiếng cũng đã được liệt kê như: Mao Trạch Đông, Stalin, Hitler, Pol Pot, Kim Nhật Thành…

Theo Daily Mail, Hồ Chí Minh và chế độ CSVN là thủ phạm gây ra cái chết của ít nhất 200 ngàn người dân miền Nam Việt Nam.
Về điều này, facebook Ngọc Nhi Nguyễn cho biết: “Nếu tính thêm 120 000 người dân miền Bắc chết trong cải cách ruộng đất và các phong trào Nhân văn giai phẩm, Xét lại và số dân và bộ đội chết trong chiến tranh Nam – Bắc nữa thì phải cả triệu”.
Hồ Chí Minh nằm trong danh sách những tên trùm diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20. Nguồn:
Sách vở của cộng sản luôn gọi Hồ Chí Minh bằng những ngôn từ như ‘vị cha già dân tộc’, ‘lãnh tụ kính yêu’ hay ‘anh hùng kiệt xuất’… Thậm chí, đã có thời hệ thống truyền thông CS còn bịa đặt thông tin nói rằng Hồ Chí Minh được UNESCO công nhân là danh nhân văn hóa thế giới.
Trong những năm gần đây, CSVN vẫn đang tiếp tục kêu gào và bắt buộc người dân phải ra sức học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trên thực tế, những chiến dịch phong thánh cho Hồ Chí Minh đã nhanh chóng bị phá sản từ đầu.
Qua việc tờ báo Daily Mail của Anh xem Hồ Chí Minh là một trong những tên trùm diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20, đây quả là một cú tát trời giáng đối với hệ thống tuyên truyền CSVN.
________________________

Ba Lan “công bố” TỘI ÁC của HỒ CHÍ MINH!

.
— On Sat, 3/16/13, Nguyen Quang Duy wrote:
.

Thời báo Ba Lan (Polska Times) ‘xếp hạng’ Hồ Chí Minh

BaLan HCM-1

Hồ Chí Minh- Ảnh trên tờ Polska Times(thu gọn)

“Hồ chí Minh không phải là “danh nhân” thế giới mà là tội đồ của dân tộc VN và nhân lọai”LDS

.
Tờ Polska Times tức Thời báo Ba Lanhôm 5/3 vừa đưa ra một bản xếp hạng 13 nhà độc tài đẫm máu nhất thế kỉ 20, trong đó có Hồ Chí Minh. Theo đó, Hồ Chí Minh qua 24 năm cầm quyền của mình đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người Việt qua cuộc chiến tranh đẫm máu.
Cũng như nhiều sự bình chọn trước đó của các trang mạng khác, các nhà độc tài thuộc 3 thể chế chính trị: Phát xít, Cộng sản và Quân phiệt.
Những nhân vật của Polska Time như sau:
 
* 1 – Ismail Enver, Thổ Nhĩ Kỳ, cầm quyền 1913-1918, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,1 đến 2,5 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng người Armenia
* 2 – Kim Nhật Thành, Bắc Triều Tiên, cầm quyền 1948-1994, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,6 triệu người; tội ác lớn nhất: chiến tranh Triều Tiên
* 3 – Hồ Chí Minh, Việt Nam, cầm quyền 1945-1969, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,7 triệu người; tội ác lớn nhất: chiến tranh Việt Nam
*4 – Pol Pot, Campuchia, cầm quyền 1975-1979, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,7 – 2,4 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng ở Campuchia
 
* 5 – Saddam Hussein, Irad, cầm quyền 1969-2003, chịu trách nhiệm về cái chết của 2 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng người Kurd
*6 – Yahya Khan, Pakistan, cầm quyền 1969-1971, chịu trách nhiệm về cái chết của 2 đến 12 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng ở Bangladesh
*7 – Hideki Tojo, Nhật Bản, cầm quyền 1941-1944, chịu trách nhiệm về cái chết của 4 triệu người; tội ác lớn nhất: hành quyết thường dân trong chiến tranh thế giới thứ II.
* 8 – Vladimir Lenin, Nga, cầm quyền 1917-1924, chịu trách nhiệm về cái chết của 4 triệu người; tội ác lớn nhất: nội chiến ở Nga
* 9 – Hoàng đế Hirohito Nhật Bản, cầm quyền 1926-1989, chịu trách nhiệm về cái chết của 6 triệu người; tội ác lớn nhất: thảm sát ở Nam Kinh
* 10 – Tưởng Giới Thạch, Trung Quốc, cầm quyền 1928-1949, chịu trách nhiệm về cái chết của 10 triệu người; tội ác lớn nhất: thảm sát tại Đài Loan vào năm 1947
* 11 – Adolf Hitler, Đức, cầm quyền 1933-1945, chịu trách nhiệm về cái chết của 17-20 triệu người; tội ác lớn nhất: Holocaust
* 12 – Joseph Stalin, Nga, cầm quyền 1924-1953, chịu trách nhiệm về cái chết của 40-62 triệu người; tội ác lớn nhất: Trại tập trung Gulag
* 13 – Mao Trạch Đông, Trung Quốc, cầm quyền 1943-1976, chịu trách nhiệm về cái chết của 45-75 triệu người; tội ác lớn nhất: nạn đói lớn và Cách Mạng Văn Hóa.
Cũng cần nói thêm, Polska Times là tờ báo có số lượng truy cập khá lớn. TheoAlexa Ranking, lượng người đọc của tờ này đứng hạng thứ 30.000 trong số hàng chục triệu trang mạng trên toàn thế giới.
© Đàn Chim Việt

NGUYÊN BẢN TIẾNG BA LAN TẠI ĐÂY

Hồ Chí Minh, Lê Duẩn: Hai con quỷ trong lịch sử nhân loại?

A-A 1
Ba loại quỷ
Trang mạng kể trên đã chia các nhân vật lịch sử thế giới ra làm 3 loại quái vật tùy theo mức độ tội ác mà họ gây ra cho nhân loại.
– Chịu trách nhiệm về cái chết của ít nhất 20 triệu người: Stalin, Hitler và Mao.
– Chịu trách nhiệm về cái chết của ít nhất một triệu người: Danh sách này có 15 người, trong đó có Hồ Chí Minh, Polpot, Lenin, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, Saddam Hussein…
– Chịu trách nhiệm về cái chết của trên 10.000 người: Có 16 nhân vật, trong số đó có cố Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam- Lê Duẩn.
Nếu phân theo hình thức phạm tội ác thì có 4 loại: Phát xít, cộng sản, chế độ quân phiệt và chế độ quân chủ. Chủ nghĩa cộng sản góp mặt 12 người.
Các nước “vinh hạnh” có 2 người là Nga (Stalin, Lenin), Việt Nam (Hồ Chí Minh, Lê Duẩn), Bắc Triều Tiên (cha con ông Kim). Số còn lại rơi vào Campuchia, Romania, Nam Tư (cũ), Trung Quốc, Ethiopia và Afghanistan.
*
Advertisements
This entry was posted in Hồ Chí Minh. Bookmark the permalink.

16 Responses to Báo Anh: Hồ Chí Minh là một trong những trùm diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20

  1. haiz00 says:

    Hồ Chí Minh, Lê Duẩn: Hai con quỷ trong lịch sử nhân loại?

    Để tránh tranh cãi không cần thiết, xin thưa ngay rằng, từ “con quỷ” không phải do chúng tôi tự ý sử dụng và việc tìm ra 2 “con quỷ” này cũng đến một cách hoàn toàn ngẫu nhiên.

    Bênh vực

    Một bạn đọc với nick Hiếu Nhân -có lẽ thuộc loại “mù” tiếng Anh- đã chuyển đến diễn đàn một link dẫn nhằm mục đích bênh vực cho thần tượng Hồ Chí Minh của mình. Ý kiến mà Hiếu Nhân post dưới bài viết “Ông Ngô Đình Diệm- Chí sĩ và tổng thống” như sau:

    “Ai muốn nói gì thì nói, nhưng rõ ràng ông Ngô Đình Diệm không nổi tiếng bằng chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ông Lê Duẩn. Hai người này đã được thế giới quan tâm và đưa vào danh sách vĩ nhân: History’s greatest monsters.

    Xin tạm dịch là: Những vĩ nhân thế giới”.

    Hiếu Nhân đã “tạm dịch” từ “monsters” thành vĩ nhân!

    Theo dõi những trao đổi khác của Hiếu Nhân có thể nhận thấy rằng, quả thực bạn đọc này muốn bênh vực, chứ không phải định ‘chơi xỏ’ thần tượng của mình.

    Ở một ý kiến trước đó Hiếu Nhân viết: “Đúng rồi, UNESCO đã đưa tên tuổi cụ Hồ vào danh sách các vĩ nhân (greatest monsters) thế giới nhân dịp 100 năm sinh nhật của cụ.

    Ông Lão Ngoan Đồng nói thì phải có bằng chứng, ông hãy trưng ra chứng cớ cụ Hồ là một thảm hoạ cho dân Việt Nam? Đừng ganh tị và vu oan cho một vĩ nhân như cụ Hồ”.

    Ba loại quỷ

    Trang mạng kể trên đã chia các nhân vật lịch sử thế giới ra làm 3 loại quái vật tùy theo mức độ tội ác mà họ gây ra cho nhân loại.

    – Chịu trách nhiệm về cái chết của ít nhất 20 triệu người: Stalin, Hitler và Mao.

    – Chịu trách nhiệm về cái chết của ít nhất một triệu người: Danh sách này có 15 người, trong đó có Hồ Chí Minh, Polpot, Lenin, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, Saddam Hussein…

    –  Chịu trách nhiệm về cái chết của trên 10.000 người: Có 16 nhân vật, trong số đó có cố Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam- Lê Duẩn.

    Nếu phân theo hình thức phạm tội ác thì có 4 loại: Phát xít, cộng sản, chế độ quân phiệt và chế độ quân chủ. Chủ nghĩa cộng sản góp mặt 12 người.

    Các nước “vinh hạnh” có 2 người là Nga (Stalin, Lenin), Việt Nam (Hồ Chí Minh, Lê Duẩn), Bắc Triều Tiên (cha con ông Kim). Số còn lại rơi vào Campuchia, Romania, Nam Tư (cũ), Trung Quốc, Ethiopia và Afghanistan.

    Bình chọn

    Bình chọn là một hoạt động khá phổ biến của một số trang mạng nước ngoài. Mỗi trang, tùy theo tiêu chí hay quan điểm mà có thể đưa ra những lựa chọn khác nhau.

    Trang filibustercartoons.com không cho biết ai hay những ai đã đưa ra sự bình chọn này. Song trang web đã nhiều lần đăng các bình chọn khác như 10 người Canada vĩ đại nhất hay 100 người Mỹ xuất sắc nhấttrong đó có những nhân vật như Reagan, Cliton, Luther King, George Washington…

    Filibustercartoons không phải là một trang mạng thật tăm tiếng nhưng có số lượng truy cập ở mức kha khá. Nó xếp thứ hạng khoảng 204.000 trong số hàng triệu trang mạng trên toàn thế giới. Độc giả truy cập Filibustercartoons chủ yếu đến từ Mỹ, Ấn Độ, Canada và Anh.

    © Đàn Chim Việt

  2. Pingback: 40 năm nhìn lại: Bối cảnh lịch sử đưa tới nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại VN | thienthanh2

  3. haiz00 says:

    Di sản Hồ Chí Minh:
    Ông Hồ là một tên diệt chủng ở thế kỷ 20. (Hải)

    Kính Hòa, phóng viên RFA
    2015-05-25

    Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại chiến dịch Biên giới (1950).

    Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại chiến dịch Biên giới (1950).

    Vô Đây Nghe

    Theo giấy tờ chính thức của chính quyền Việt nam thì ngày 19/5 vừa qua là sinh nhật của ông Hồ Chí Minh, người thành lập đảng cộng sản Việt nam và đưa đảng này lên cầm quyền cho đến nay. Thời gian của Tạp chí điểm blog hôm nay dành cho việc điểm lại con người và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh

    Hồ Chí Minh

    Ông Hồ Chí Minh được nói là sinh vào ngày 19/5/1890.

    Đối với người Việt nam ông là một nhân vật gây nhiều tranh cãi trong mấy chục năm lịch sử vừa qua, và ngay cả ở thời điểm hiện nay.

    Một bên thì suy tôn ông lên bậc thánh thần, rước cả tượng ông vào đền chùa để thờ. Bên kia thì xem ông là người có tội với dân tộc Việt nam vì đã đem chủ nghĩa cộng sản áp đặt lên đất nước này, và đôi khi người ta mô tả ông bằng những từ ngữ nặng nề nhất.

    Đối với thế giới ông là một người Việt nam được biết đến nhiều nhất trong lịch sử hiện đại. Trước và sau ngày sinh lần thứ 125 trên giấy tờ của ông trong năm nay, một năm quan trọng vì là năm chẳn, nhiều blogger viết về ông.

    Tác giả Lê Kỳ Sơn viết một bài rất công phu được nhiều trang blog cho đăng lại, mang tựa đề Chung quanh vấn đề nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh hiện nay. Trong bài này tác giả dùng những đại từ nhân xưng ở những ngôi thứ trọng thị nhất dành cho ông Hồ Chí Minh. Kết thúc bài tác giả viết rằng sau này, khi hận thù không còn nữa chắc chắn ông Hồ Chí Minh sẽ được đánh giá là một nhà yêu nước, và là một người anh hùng.

    Nếu chỉ với một nội dung và cách tu từ như vậy thì đáng ra bài viết này của Lê Kỳ Sơn ắt hẳn sẽ được báo chí chính thống đăng tải. Không rõ tác giả có gửi cho mấy trăm tờ báo do đảng cộng sản Việt nam kiểm soát hay không, nhưng chỉ thấy bài viết này xuất hiện trên các trang blog độc lập.

    Trong bài viết, Lê Kỳ Sơn dành ra phần cuối để nói về những khiếm khuyết của ông Hồ Chí Minh trong tư cách một nhà chính trị, một nhà cai trị. Theo tác giả thì ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm trong việc không tạo được một tập quán pháp luật cho người dân Việt nam trong thời gian ông cầm quyền. Theo ghi nhận của tác giả, thì từ lúc lên cầm quyền ở nửa nước ở miền Bắc cho đến lúc mất, trong thời gian 15 năm, ông Hồ Chí Minh chỉ thông qua được 16 bộ luật.

    Cái cơ chế chính quyền ở Việt Nam, một mặt, loại trừ khả năng sáng tạo, mặt khác, lại tạo cơ hội cho cái Ác, cái Tham và cái Ngu tha hồ nảy nở. Trong cái cơ chế ấy, không ai có thể làm điều đúng hay điều tốt được, nhưng mọi đứa ác, mọi đứa tham và mọi đứa ngu đều có thể dễ dàng tác oai tác quái

    Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc

    Khiếm khuyết thứ hai mà Lê Kỳ Sơn nói về Hồ Chí Minh là những kiến thức hạn hẹp của ông về kinh tế. Tác giả nói rằng ngay cả Tư bản luận là quyển sách nói về kinh tế của chủ nghĩa cộng sản, ông Hồ Chí Minh cũng không có điều kiện tìm hiểu sâu, và ông chưa bao giờ nhắc đến kinh tế thị trường trong những trước tác của ông.

    Và điều cuối cùng là một viễn kiến về vai trò của khoa học kỹ thuật. Lê Kỳ Sơn viết rằng dù ông Hồ Chí Minh đã chứng kiến trong thời đại của ông sự phát triển của khoa học kỹ thuật nhưng ông ít nói về vai trò của nó.

    Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc đăng lại một bài viết của ông về nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh trên trang cá nhân của mình.

    Ông nhận xét:

    Với tư cách nhà cách mạng, ông Minh có thể vấp phải một số sai lầm, nhưng nói chung, các chính sách ông đưa ra nếu không đúng đắn thì ít nhất cũng có hiệu quả. Nhờ đó, ông trở thành nhà cách mạng thành công nhất ở Việt Nam trong thế kỷ 20: Ông đánh đuổi được thực dân Pháp và ông giành được chính quyền vào tay đảng của ông.

    Không đồng ý với ông, thậm chí, căm thù ông, người ta cũng không thể phủ nhận những thành công vang dội ấy. Ông đã thành công ở chỗ tất cả các nhà cách mạng khác, trước ông, từ các nhà Cần Vương đến các nhà Duy Tân, từ Phan Bội Châu đến Phan Châu Trinh và tất cả các nhà cách mạng quốc gia khác, đều thất bại.

    Ngoài ra Giáo sư Quốc cũng nói về quan điểm của ông thế nào là một nhà lãnh đạo tốt. Theo ông thì người Việt nam hay đánh giá một vị lãnh đạo bằng cách chăm chú vào những chi tiết cá nhân của người đó. Và cái đáng quan tâm là cái cơ chế chính trị của một vị lãnh đạo lớn để lại cho xã hội chứ không phải đời tư của họ. Giáo sư Quốc nói về cái mà ông Hồ Chí Minh để lại cho đời:

    Về phương diện ý thức hệ, ông Minh chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Đó là một lựa chọn có tính lịch sử; và vì có tính lịch sử, nó vừa là trách nhiệm của ông vừa không thuộc trách nhiệm của ông.

    Nhưng việc lựa chọn cơ chế tổ chức guồng máy nhà nước thì hoàn toàn nằm trong tay ông. Chính ông là người quyết định nó, xây dựng nó và điều hành nó một thời gian dài. Có thể nói cái cơ chế ấy hoàn toàn là sản phẩm của ông. Là đứa con của ông.

    Hồ chí Minh và Mao Trạch Đông (ảnh tư liệu)
    Hồ chí Minh và Mao Trạch Đông (ảnh tư liệu)

    Một tác giả khác là nhà báo Lê Diễn Đức cũng viết về ông Hồ Chí Minh.

    Trong bài viết Hồ Chí Minh và di sản của ông, tác giả Lê Diễn Đức trích lại phần tố cáo thực dân Pháp trong bản tuyên ngôn độc lập năm 1945:

    “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

    – “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”.

    – “Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân”.

    – “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”.

    – “Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu”.

    – “Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng”.

    – “Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”.

    Tôi nghĩ Cụ Hồ Chí Minh là giỏi, nhưng cái giỏi ấy có đem lại hạnh phúc cho nhân dân không thì tôi nghi ngờ, khi mà ngay sau khi đảng của ông lên cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam thì đã có hai triệu người bỏ vào Nam, và khi đảng ấy cầm quyền trên tòan bộ lãnh thổ quốc gia thì có thêm hàng triệu người nữa bỏ nước ra đi

    ông Phạm Nguyên Trường

    Ông Lê Diễn Đức viết rằng những lời tuyên án thực dân Pháp cách đây 70 năm chính là hình ảnh của xã hội Việt nam ngày nay.

    Xã hội ấy đang nằm dưới quyền cai trị của những hậu duệ tinh thần của ông Hồ Chí Minh.

    Xã hội ấy nằm trong một cơ chế do ông Hồ Chí Minh tạo ra, hay nó chính là đứa con của ông như Giáo sư Nguyễn Hưng quốc đề cập. Giáo sư Quốc mô tả cơ chế đó như sau:

    Cái cơ chế chính quyền ở Việt Nam, một mặt, loại trừ khả năng sáng tạo, mặt khác, lại tạo cơ hội cho cái Ác, cái Tham và cái Ngu tha hồ nảy nở. Trong cái cơ chế ấy, không ai có thể làm điều đúng hay điều tốt được, nhưng mọi đứa ác, mọi đứa tham và mọi đứa ngu đều có thể dễ dàng tác oai tác quái.

    Trong một lần rao đổi với chúng tôi ông Phạm Nguyên Trường, một dịch giả sống tại Việt nam nói về ông Hồ Chí Minh:

    Tôi nghĩ Cụ Hồ Chí Minh là giỏi, nhưng cái giỏi ấy có đem lại hạnh phúc cho nhân dân không thì tôi nghi ngờ, khi mà ngay sau khi đảng của ông lên cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam thì đã có hai triệu người bỏ vào Nam, và khi đảng ấy cầm quyền trên tòan bộ lãnh thổ quốc gia thì có thêm hàng triệu người nữa bỏ nước ra đi.

    Việt nam thế kỷ 21

    Nước Việt nam của thế kỷ 21 vẫn được những nhà lãnh đạo của nó cho rằng cần phải theo đuổi chủ nghĩa Mác Lê Nin. Chủ nghĩa này chính là nền tảng của cái cơ chế chính trị xã hội đang điều khiển nước Việt nam, mà nói như Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, là đứa con của ông Hồ Chí Minh.

    Blogger Kami đặt câu hỏi Còn kiên định Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa Mác Lê Nin để làm gì? Kami trả lời trong phần kết của bài viết rằng sở dĩ những người cầm quyền ở Việt nam còn áp đặt một chủ nghĩa phản động như vậy lên đất nước Việt nam chẳng qua vì tham quyền cố vị.

    Theo Kami thì sự kiên định đó của những người cộng sản tạo cho họ được sự độc quyền chính trị, và sự độc quyền chính trị này là vô cùng độc hại, dẫn tới trình trạng vô trách nhiệm và tham nhũng vô phương kiểm soát.

    Một người khác cũng viết về sự độc quyền chính trị là ông Lê Công Giàu, một đảng viên cộng sản và từng giữ những chức vụ quan trọng trước đây. Ông Giàu viết một bài gửi đến đảng của ông đăng trên trang blog Bauxite Việt Nam. Trong đó ông nói rằng sự độc quyền luôn cản trở sự phát triển của xã hội.

    Blogger Cánh Cò cũng viết về sự độc quyền chính trị đó:

    Quyền lực cao và tuyệt đối làm cho một con người dù thông minh tới đâu cũng có khi quẩn trí. Quyền lực làm cho một nhà nước, chính phủ dễ dàng trở nên độc tài nhất là khi không có một công cụ dân chủ nào kiểm soát và kềm giữ sự quá trớn từ một chính sách đưa ra, đặc biệt với chính sách nhằm đối phó với người chống lại sự độc tài của chính phủ hay nhà nước đó.

    Quyền lực cao và tuyệt đối làm cho một con người dù thông minh tới đâu cũng có khi quẩn trí. Quyền lực làm cho một nhà nước, chính phủ dễ dàng trở nên độc tài nhất là khi không có một công cụ dân chủ nào kiểm soát và kềm giữ sự quá trớn từ một chính sách đưa ra

    Blogger Cánh Cò

    Cũng trong tháng Năm này người ta thấy xuất hiện một bài báo trên báo chí chính thống ca ngợi một sinh viên ở Hà nội rằng thay vì nghe nhạc thì anh này nghe những bài giảng về chủ nghĩa Mác Lê Nin. Bài báo kết thúc bằng câu chuyện anh sinh viên nọ được kết nạp vào đảng cộng sản Việt nam.

    Nhà báo kỳ cựu Lê Thọ Bình nhận xét về cơ chế đảng trong bậc thang xã hội, chính trị tại Việt nam trong một bài viết ngắn trên Facebook:

    Trong các trường đại học không ít sinh viên đã nhìn thấy hoạt động đoàn là nơi dễ “thăng quan phát tài” hơn phấn đấu học giỏi. Ở các cơ quan nhà nước không ít người muốn lên trưởng phòng, bạn phải có cái thẻ đảng viên.

    Một điều thú vị là trong hơn 20 năm qua những người cộng sản Việt nam lại muốn kết hợp sự độc quyền chính trị của họ với Kinh tế thị trường, mà Kinh tế thị trường lại đòi hỏi sự cạnh tranh chứ không phải sự độc quyền.

    Và trong cuộc hôn nhân nhiều sóng gió đó người ta cũng thấy những nhà lãnh đạo cũng muốn họ có một hình ảnh khác. Người ta bàn tán nhiều đến việc ông Phó Thủ Tướng trẻ tuổi Vũ Đức Đam xuất hiện trên truyền hình Mỹ, có thể nói tiếng Anh thông thạo, và bình dân không quan cách. Blogger Viết từ Sài Gòn lại nhận xét là câu chuyện của ông Đam là một câu chuyện bình thưởng, nhưng nay nó xuất hiện ở Việt nam, lại được báo chí chính thống của Việt nam hết lời ca ngợi thì vô hình chung nó lại làm nổi bật lên hình ảnh mà tác giả gọi là ù ù cạc cạc của các vị lãnh đạo, hình ảnh tệ hại của nền giáo dục Việt nam đương đại.

    Và cuối cùng trong tháng Năm này nhạc sĩ blogger Tuấn Khanh lại nhớ về một người bạn văn nghệ của mình là nhạc sĩ Lê Hựu Hà ra đi vào tháng năm, năm 2003. Trong bài viết ấy Tuấn Khanh nhắc lại chuyện nhạc sĩ tài hoa Lê Hựu Hà bạn vong niên của ông và những văn nghệ sĩ khác tại miền Nam sau năm 1975 được khuyến cáo phải sáng tác theo cái gọi là… “Nền Văn Hóa Mới.” Tuấn Khanh viết rằng đó là một nền văn hóa mà không ít người vẫn tự hỏi là nó sinh ra từ đâu và để làm gì?

    Trong nền văn hóa ấy, nhạc sĩ Lê Hựu Hà chứng kiến việc người ta trưng thu những đĩa nhạc quí giá của âm nhạc thế giới như RollingStones, Beatles mà ông sở hữu. Và người nghệ sĩ chỉ còn cách bất lực nhìn người ta làm việc đó trong sự tuyệt vọng của men rượu, sự tuyệt vọng của kẻ chỉ uống rượu một lần duy nhất trong đời.

    Nền Văn hóa mới ấy có phải cũng là di sản của ông Hồ Chí Minh?

    Bài Đọc Chú Ý :

    Quan Điểm Ngô Đình – Hiểm Họa Xâm Lăng của Trung Cộng
    Tuổi Trẻ – Sau 30 Năm Tị Nạn Cộng Sản VN
    Hồ Chí Minh – tên Diệt Chủng thế kỷ 20
    TT Phạm Văn Đồng – Trả lời việc Cải Tạo tại Paris năm 1977
    Thanh Trừng Nội Bộ – Cộng Sản VN
    Hòa bình của nấm mồ – TT Nguyễn Văn Thiệu
    Kissinger bị dân Mỹ biểu tình Tại Thượng Viện Mỹ
    CIA Giữ Bí Mật – Bắc Việt Đầu Hàng Vô Điều Kiện 1973
    30.4.75 ngày giải phóng – kẻ xấu thắng
    Hậu Quả – Kẻ Dốt Ôm Súng Dựng Nước
    Chủ Nghĩa csVN – Sụp Đổ là Tất Yếu
    Chủ Nghĩa Cộng Sản Trên Thế Giới – Hiện Tại & Tương Lai
    Thuyền Nhân Vượt Biển – 30.4.75
    16 Tấn Vàng VNCH – csVN Nộp Liên Xô
    Trung Cộng Muốn Xóa Sổ Việt Nam Trên Thế Giới

  4. haiz00 says:

    Việt Trung Giải Mật:
    Chuyện tình giữa Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai

    ho-lai

    Trần Đông Đức tổng hợp

    Cuốn sách của tác giải Lý Minh Hán xuất bản tại Hồng Kông mang tựa đề: Tình Yêu Và Cách Mạng – giải mã bí danh của cha già dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh (Nguyên tác tựa đề Hoa Ngữ: Ái Tình Dữ Cách Mạng – Việt Nam Quốc Phụ Hồ Chí Minh bí danh giải mã) là một trong những cuốn sách Hoa Ngữ viết về Hồ Chí Minh mà đa số người Việt Nam chưa hề biết đến.

    Sự gắn bó của Hồ Chí Minh đối với Trung Quốc vẫn là những bí mật cho giới sử học Việt Nam. Do số lượng người Việt nghiên cứu Hán ngữ về mảng Hồ Chí Minh hiện nay không có nhiều vì thế có sự bỏ qua tình tiết quan trọng 50 năm tình bạn giữa Chu Ân Lai – Hồ Chí Minh vốn có sức ảnh hưởng sâu rộng đến lịch sử và thời điểm thành lập của hai chế độ cộng sản Trung Việt.

    Lý Minh Hán một chuyên gia tiếng Việt tốt nghiệp Đại Học Bắc Kinh vào năm 1969 có uy tín lớn đối với sự nghiệp nghiên cứu về Hồ Chí Minh trong thế giới Hoa Ngữ. Lý Minh Hán cũng là tác giả trong đội ngũ hợp tác Trung Việt sản xuất bộ phim “Nguyễn Ái Quốc tại Hương Cảng (tức Hồng Kông)” vào năm 2003 và từng được tiếp kiến bởi thủ tướng cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.

    Với uy tín lớn về trình độ ngữ văn cùng với sự kính trọng đối với thân thế Hồ Chí Minh, “Tình Yêu và Cách Mạng…” của Lý Minh Hán đã vén bức màn bí mật quan hệ giữa Hồ Chí Minh và Trung Quốc qua những tình tiết hết sức sinh động, lạ kỳ, nhưng đầy lý tính tới mức có thể bù đắp và liên kết những giai đoạn về Hồ Chí Minh mà người Việt Nam không thể nào lý giải được.

    Nhiều độc giả Việt Nam từng nghe đến người vợ Trung Quốc có tên là Tăng Tuyết Minh của Hồ Chí Minh do nhà nghiên cứu Hoàng Tranh thuộc viện khoa học xã hội Quảng Tây, Trung Quốc đưa ra. Nhưng rồi sau đó Hoàng Tranh bị phía Việt Nam phản ứng với phía xuất bản Trung Quốc khiến tác giả thận trọng “bế ngôn” trước sức ép quan hệ Trung Việt. Hồ Chí Minh từng tham gia Bát Lộ Quân Trung Cộng với bí danh Hồ Quang. Hồ Chí Minh với hơn 100 bí danh khác nhau – những mối tình trên quãng đường cách mạng trở thành huyền thoại đầy phong hoa tuyết nguyệt cho cả người Trung Quốc.

    “Tình Yêu Và Cách Mạng…” còn đưa ra những bối cảnh đằng sau những bí danh của Hồ Chí Minh bằng tiếng Hán rất có giá trị về việc giải mã tư liệu. Rồi thì tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Tây hoặc tiếng dân tộc thiểu số đều có sự gợi ý cho học giới rất nhiều về những chủ đề nghiên cứu chân tướng “ông Ké”.

    Thật vậy, những bí danh đó không còn là những yếu tố vu vơ tình cờ mà là những quan hệ giữa người và người, người và hoàn cảnh, phong cảnh, và cả nghịch cảnh tạo nên ngọn Đoạn Bối Sơn nhô lên ngay giữa cảnh núi rừng Trung Việt – sơn thuỷ tương liên.

    Ở Hồng Kông nơi chế độ kiểm duyệt của Trung Quốc không vươn tay tới được, Lý Minh Hán còn khai triển thêm nhiều tình tiết hơn về Tăng Tuyết Minh mà không lo ngại nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam gây sức ép qua ngã Trung Quốc như trường hợp nhà nghiên cứu Hoàng Tranh. Lý Minh Hán còn cho biết Tăng Tuyết Minh đã viết thư xin gặp cố nhân là Hồ Chí Minh nhưng cả hai phía Trung – Việt vẫn không đáp ứng. Cho đến cuối đời Tăng Tuyết Minh vẫn không thể hiểu rõ Hồ Chí Minh là người như thế nào.

    “Đồng Chí Luyến Ái”

    Trong cuốn “Tình Yêu và Cách Mạng…”, Lý Minh Hán đã ý nhị dành một chương lấy tên Đại Hồ để miêu tả tình cảm y như tình yêu giữa Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai. Những phụ nữ đến với Hồ Chí Minh đa phần đều có kết cục u buồn như trường hợp Tăng Tuyết Minh nhưng với Chu Ân Lai thì tình cảm nồng nàn cho đến phút cuối. Đại Hồ là bí danh của Hồ Chí Minh đồng thời lối xưng tụng thân mật với Tiểu Hồ tức là Chu Ân Lai. Với lối miêu tả ngụ ý cùng với sự gợi ý về tình cảm thân thiết triền miên không thể nào nguôi giữa hai lãnh tụ cao cấp Trung Việt mà họ từng gặp nhau trong thời trai trẻ ở Pháp làm cho độc giả không thể nào không hiếu kỳ về mối tình đồng chí cắt áo chia đào (dư đào đoạn tụ) có hơi hám như chuyện đồng tính của vua chúa Trung Hoa thời xưa.

    Ngay trong những năm tháng khó khăn của cách mạng văn hóa ở Trung Quốc mà Chu Ân Lai vẫn tìm cách sắp xếp cho cả đội ngũ bác sĩ Trung Quốc sang chăm sóc tận tình cho Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Tình tiết quan tâm chi li tới mức rằng lúc Hồ Chí Minh tỏ ý thèm ăn vịt quay Bắc Kinh, Chu Ân Lai đã phái chuyên cơ chở vịt từ Bắc Kinh tới Hà Nội liền. Khi Chu Ân Lai bận quốc sự ở Trung Quốc thì an bài cho cả phu nhân của mình Đặng Dĩnh Siêu, xưng tụng với nhau là Tiểu Siêu đến thăm Đại Hồ như người nhà. Có khi “Tiểu Siêu” xuống tận Việt Nam thăm viếng, khi thì đón tiếp Hồ Chí Minh sang nghỉ dưỡng ở đảo Hải Nam thư nhàn cả tháng… có khi thì tự tay đan áo tặng Hồ. Đặng Dĩnh Siêu có lẽ biết được bí mật tình cảm tay ba này… và chỉ có người cộng sản mới thấu hiểu về những quan hệ phức tạp không phù hợp với nhân tính thông thường.

    Paris là nơi thai nghén tình cảm Chu – Hồ với những tư tưởng cực đoan phóng túng để rồi gia nhập vào hàng ngũ cộng sản. Đề cao chủ nghĩa độc thân, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh xem hôn nhân là chướng ngại của sự nghiệp đời trai. Hồ Chí Minh là người dẫn đường cho Chu Ân Lai vào cộng sản lúc trẻ để sau này cả hai đều lên đến đỉnh cao quyền lực và rồi cả Chu và Hồ đều gặp nghịch cảnh đường hôn nhân và con cái.

    Thật vậy, ngày Hồ Chí Minh qua đời, Chu Ân Lai khóc than thống thiết. Cho dù quốc sự Trung Quốc bận rộn mà đường đường là thủ tướng Trung Cộng, nhà Chu Ân Lại lại đến Hà Nội đưa tang tới bốn ngày. Một trong những yêu cầu vượt qua lễ nghi ngoại giao là yêu cầu cho “tổng lý” Chu Ân Lai được thấy di thể của chủ tịch Hồ Chí Minh lần cuối trước khi tiến hành ướp xác do đội ngũ Liên Xô phụ trách. Phía Bắc Việt lúc đó đã đồng ý để cho nghi thức cáo biệt dành riêng cho Chu Ân Lai. Thứ tình cảm Chu – Hồ có khả năng đặt nền móng và sự ảnh hưởng lớn trong quan hệ Việt Trung cho đến hôm nay.

    Giai thoại Trung Quốc ghi nhận, lần đầu tiên Chu Ân Lai khóc vì thương nhớ đời trai xảy ra trong thời Quốc Cộng phân tranh tại Trung Quốc. Ngay lúc khói lửa chiến tranh, Chu Ân Lai lại phải lòng Trương Xung, một đặc phái viên của Quốc Dân Đảng. Trên bàn thương lượng thì hai bên đối đầu rắn mặt, nhưng ra khỏi phòng thì nói chuyện thân thiết Ân Lai – Hoài Nam (tự của Trương Xung) không dứt. Khi Trương Xung đột ngột qua đời vào năm 1942, Chu Ân Lai đã khóc than như muốn lật đất. Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu không có con đẻ và hôn sự giữa hai đồng chí cộng sản này vẫn là một nghi vấn. Chu Ân Lai đối với Mao Trạch Đông cũng được đánh giá là sự thống thuộc góc cạnh đồng tính luyến ái nào đó vì thế Chu Ân Lai đã sống sót trong các vụ thanh trừng trong lúc Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ đều bị hạ bệ không thương tiếc.

    Thông Thân Dân Tộc

    Chuyện tình cảm của Đại Hồ và Tiểu Hồ vượt qua quan hệ quốc tế thông thường, lâm ly bi đát nhưng cũng tràn đầy kịch tính đồng chí đồng sàng – cộng dâm cộng sản. Những năm gần đây, trên mạng Trung Quốc cũng có bàn bạc về tình yêu mang tính thống thuộc của Chu Ân Lai vào Mao Trạch Đông. Trong hồi ký của Lý Chí Thỏa, bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông cũng từng nói đến những thú tiêu khiển biến thái của Mao ở Trung Nam Hải. Trong lúc đó ý kiến về tình nồng ấm giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh được ghi nhận tràn trề tạo nên chủ đề về tình đồng chí.

    Trong mối tình đồng chí Chu – Hồ này, cũng đã phát sinh ra một số cử chỉ thiện chí về mặt lịch sử mà Chu Ân Lai dành cho Việt Nam lúc đang ở vị trí lãnh đạo Trung Quốc. Chu Ân Lai đề xuất tỉnh Quảng Tây làm khu tự trị dân tộc Choang như là một ý tưởng thông thân với dân tộc Tày ở Việt Nam – thúc đẩy tình hữu nghị thân thuộc lên tầm cao mang tính bà con với nhau. Choang ở Trung Quốc và Tày ở Việt Nam vốn cùng một dân tộc, ngôn ngữ, văn hóa và đều là dân tộc thiểu số lớn nhất của hai nước Trung Việt. Đây được xem là một trong những tài sản quý giá mà quan hệ Trung Việt thường định nghĩa.

    Chu Ân Lai cũng từng mang đặt vòng hoa tại đền thờ Hai Bà Trưng ở Hà Nội. Tuy cử chỉ này không được người dân Việt Nam biết đến nhưng phía Trung Quốc xem đây vết son ngoại giao – có phần thừa nhận sự bạo tàn của Mã Viện đàn áp cuộc khởi nghĩa ở Lĩnh Nam vào thời nhà Hán. Có khả năng, vì cảm tình với Hồ Chí Minh chi phối lan tỏa sang Trung Việt hữu nghị tình, Chu Ân Lai mới có những chính sách thân thuộc để tỏ tình thương mến thương một cách đầy bí ẩn trong sự bền chặt răng môi mang tính dân tộc tương thông như thế.

    Chu Ân Lai có tình cảm uỷ mị và thân thiết với Hồ Chí Minh vô hình trung vượt qua quan hệ quốc tế hữu nghị nhưng lại ràng buộc tâm tính Hồ Chí Minh vào Trung Quốc một cách sâu sắc hơn nhưng nghẹt thở hơn.

    Sách Lý Minh Hán không nói thẳng ra nhưng ai đọc xong đều cảm nhận thứ tình cảm Hậu Bối Sơn của Chu Ân Lai trở thành tài sản ngoại giao vô giá của Trung Quốc đối với Việt Nam.

    (Trần Đông Đức tổng hợp)

    nguon

  5. haiz00 says:

    Chung Quanh Vài Luận Điểm Mới Về Hồ Chí Minh

    1 – Tìm đường cứu nước

    Hồ Chí Minh chết nay được 46 năm, mồ yên mả đẹp nhưng ông vẫn chưa được yên. Người ta đào bới lên đủ thứ chuyện về ông: bản thân, gia đình, con đường lập thân,… để xác định một Hồ Chí Minh thiệt trong lịch sử Việt Nam.

    Gác qua những phê phán, công kích hay đánh giá hoàn toàn tiêu cực về Hồ Chí Minh, chúng ta, hôm nay, chỉ ghi nhận, trong gần đây, xuất hiện vài nhận định (*) khá mới, ôn hòa, có vẻ như mang tính khách quan, phê phán tình trạng kinh tế tụt hậu, xã hội băng hoại, đạo đức bật gốc, tham nhũng tràn lang, đàn áp dã man mọi người khác chánh kiến,…và qui trách tất cả đều do “lỗi hệ thống”. Tức lỗi của chế độ. Và chế độ đó là chế độ ở Hà Nội hiện nay. Từ phê phán này, người ta mới đặt vấn đề “cần có nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào để đạt tới sự chính xác, công bằng, khách quan?”.

    Ai cũng biết Hồ Chí Minh là người cộng sản và khai sanh ra chế độ cộng sản ở Hà Nội năm 1945. Vậy ông có những liên đới trách nhiệm gì với tình trạng đất nước suy đồi hiện nay, với những tội ác “long trời lở đất” do đảng cộng sản của ông gây ra cho dân tộc liên tục từ trước tới nay hay không?

    Những luận điểm nhằm khôi phục giá trị lịch sữ Hồ Chí Minh, cho rằng ông không phải là người đầu tiên du nhập cộng sản vào Việt Nam, ông là người cộng sản theo Lê-nin chớ không phải theo Staline-Mao, ông là người yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc, dân chủ, theo Tôn Dật Tiên và Phan Chu Trinh, …

    Chúng tôi sẽ tuần tự đưa ra những luận điểm nhằm khôi phục lại giá trị lịch sử của Hồ Chí Minh và những nhận xét của chúng tôi.

    I – Công lao to lớn cứu nước, giải phóng dân tộc?

    Ngày 6 tháng 3/1946, Hồ Chí Minh ký thoả hiệp án với Pháp để rước Pháp trở lại Hà Nội với ý đồ mượn tay Pháp tiêu diệt lực lượng các đảng phái quốc gia vì lúc bấy giờ lực lượng việt minh hãy còn yếu. Có người trong hàng ngũ lãnh đạo Mặt Trận Việt Minh, lúc đó, hỏi Hồ Chí Minh: “Nhựt trao trả độc lập cho Việt nam. Tại sao ta không nhận mà còn đánh giặc?”. Hồ Chí Minh không ngần ngại giải thích: “Ta nhận độc lập đó là độc lập của các đảng phái quốc gia. Độc lập thật sự là độc lập do ta cướp được chánh quyền…”.

    Trong quá khứ có nhiều cơ hội độc lập, tránh chiến tranh đổ máu, cùng xây dựng đất nước dân chủ và phát triển. Nhưng Hồ Chí Minh đều bỏ qua và còn tuyên bố “Dù phải đánh giặc mười năm nữa để có độc lập cho ta, ta cũng phải làm”.

    Trong những cơ hội đó, độc lập đầu tiên và thật sự, cần ghi nhớ, là độc lập do Hoàng Đế bảo Đại tiếp thu ở Nhựt với đầy đủ giá trị pháp lý và cả tính chánh đáng. Nhưng biến cố này bị quên lảng do tuyên truyền của cộng sản chỉ nhắc nhở cách mạng tháng 8 và Tuyên ngôn Độc lập 2/9 của Hồ Chí Minh. Tiếp theo, chánh quyền quốc gia Đệ I Cộng Hòa vì chủ trương “bài phong đả thực” mà nhận chìm bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại thêm mấy độ sâu nữa trong quên lãng.

    Thật bất hạnh cho dân tộc! Sau khi thu hồi độc lập, ngày 17 tháng 3 năm 1945, Hoàng Đế bảo Đại ban hành Dụ số 1, long trọng xác nhận những điểm cụ thể về vận mệnh mới của Việt Nam:

    “1/ Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu “DÂN VI QUÍ”.

    2/ Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Đại-Đông-Á.

    3/ Trẫm sẽ tài định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân “.

    Nhận định về Đạo dụ này, Luật Sư Bùi Tường Chiểu (Thanh Nghị, số 107, ngày 5 tháng Năm 1945) nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của bản văn:

    “Đạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng Đạo dụ này đã nêu lên một cách tóm tắt những quả quyết rõ ràng về những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này”.

    Dựa trên “Dân Vi Quý”, ông phân tích:

    “Nay đạo Dụ số 1 đã nêu lên khẩu hiệu Dân vi quí có nghĩa là Hoàng Đế Bảo Đại đã hủy bỏ cái lý thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đã cho là không hợp thời. Đã lấy dân làm trọng, đã lấy quyền lợi dân để trên tất cả thì vua tất chỉ là một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng vụ quốc gia, tìm những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi hành. Như thế là trong nền chính trị Hoàng Đế Bảo Đại đã định đặt quốc dân ta đi vào một con đường mới” (**).

    Sau đó, Hoàng Đế Bảo Đại đã từng bước tiến hành tổ chức Chánh quyền, xây dựng đất nước bằng những nguyên tắc lấy dân chủ làm căn bản để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp của nhiều người thay vì của một thiểu số quan lại trong triều. Tức chánh sách Đại đoàn kết dân tộc. Cụ thể, Ngài cho thành lập 4 cơ quan tối cao gồm các nhơn sĩ đại diện đủ 3 Miền:

    Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp,

    Hội Đồng Cải Cách cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính,

    Hội Đồng Cải Cách Giáo dục,

    Hội Đồng Thanh Niên.

    Nhà Vua còn ban hành một số Dụ về các quyền căn bản như Tự do lập nhiệp đoàn, Tự do lập hội, Tự do hội họp, …

    Đây là những đạo luật ấn định những nguyên tắc qui định các quyền tự do căn bản của người dân của một chế độ dân chủ pháp trị thật sự.

    Chỉ trong vòng không quá 3 tháng, Chánh phủ Việt nam Độc lập đầu tiên Trần Trọng Kim, dưới sự lãnh đạo của Hoàng Đế Bảo Đại, đã thật sự chấm dứt chế độ quân chủ cả ngàn năm trong đó 400 năm triều đại Nhà Nguyễn, đã đặt được những nền móng cho một chế độ dân chủ thật sự theo nguyên tắc “do dân, vì dân” (Dân vi quí). Phải chăng đây là một cuộc cách mạng chánh trị đúng nghĩa của nó? Điều này thực hiện được tốt đẹp do lòng ái quốc và sự quyết tâm của nhà vua phối hợp với tâm huyết tha thiết đem lại nền độc lập cho Việt nam của Nội các Trần Trọng Kim.

    Nhưng nền độc lập này là của đất nước việt nam chớ không phải của cộng sản Đệ III Quốc tế nên ngày 19/8, Hồ Chí Minh đã phải ra tay “cướp chánh quyền” (sau khi chánh phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm) và dẹp bỏ tất cả các cơ chế dân chủ vừa thành lập, điển hình, ngày 22/9/1945, sau khi tuyên bố độc lập lần nữa, Hồ Chí Minh ban hành lệnh “bãi bỏ các nghiệp đoàn trên toàn cỏi Vìệt nam” và Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký Nghị định ngày 14/9/1945 giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức, đồng thời ký một Nghị định khác thành lập Hội Văn Hóa Cứu Quốc Việt nam.

    Sự hiệu lực xóa bỏ các cơ sở dân chủ của nước Việt nam độc lập do Nhà Vua Bảo Đại tuyên cáo ngày 11 tháng 3 năm 1945 là từ 1954, rồi 30/04/75, mọi quyền căn bản của người dân bị Hồ chí Minh và chế độ cộng sản do ông khai sanh tước đoạt sạch. Người dân bị chế độ độc tài khủng bố, đàn áp. Đất nước bị đảng cộng sản từng bước đưa vào vòng lệ thuộc Tàu theo cùng hệ xã hội chủ nghĩa.

    Đó là công lao to lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh chọn lựa con đường cộng sản để cứu nước và giải phóng dân tộc mà người dân, ai không cộng sản, cũng đều thấy rỏ ràng.

    II – Hồ Chí Minh phải chọn con đường cộng sản lê-nin

    Lập luận bênh vực Hồ Chí Minh giải thích rằng hồi thập niên 20 của thế kỷ trước Hồ đã phải chọn con đường Lê-nin vì “tư bản lúc đó đi chiếm thuộc địa, từ đầu đến chân nó đều thấm bùn và máu”, khác với ngày nay “đã lột xác trở thành văn minh. Cũng như vậy, Quốc tế III thời Lê-nin đầu thế kỷ XX cũng khác với cộng sản đã bị Staline và Mao hóa sau này. Nếu Quớc tế III không công khai ủng hộ các dân tộc thuộc địa – nếu cũng chỉ như Quốc tế II – chắc gì Hồ đã ngã theo chủ nghĩa cộng sản?

    Thứ hai, cũng cần phân biệt điều mà Hồ Chí Minh tự giác, chủ động lựa chọn với điều mà tình thế bắt buộc ông phải chấp nhận (khi không còn CON đường nào khác), lại càng khác xa với những điều người khác nhân danh Hồ Chí Minh đã làm! Vai trò của vĩ nhân là ở chỗ có biết nắm bắt thời cơ và tận dụng được thời cơ do thời cuộc mang lại để thành đạt mục tiêu độc lập, thống nhất hay không; còn cá nhân một lãnh tụ, dù lỗi lạc đến đâu – nhất là lãnh tụ của một nước thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu như nước ta – làm sao có thể vượt qua được vị thế yếu kém của mình, để tác động vào thời đại, nhằm thực hiện thắng lợi lý tưởng, hoài bão mà mình theo đuổi?”.

    Ngày nay, người cộng sản không thể bênh vực Staline và Mao vì 2 người này đã gìết hại hằng 100 triệu nhơn dân của họ khi họ cầm quyền. Và còn qui sự cai trị bạo ngược, dã man của cộng sản ở Tàu, Bắc hàn và Việt nam là do theo Staline và Mao. Vậy Lê-nin thế nào?

    Chúng tôi, để phơi bày lại bộ mặt thật, rất thật của Lê-nin mà Hồ Chí Minh đã chọn đi theo làm cách mạng vì không có con đường nào khác – và đó là một chọn lựa của một vĩ nhơn vì tự giác – không gì bằng mời bạn đọc xem qua bức điện của Lê –nin gởi đi ngày 11 tháng 8 năm 1918 kêu gọi giết:

    “Này các đồng chí, cuộc nổi dậy của phú nông trong năm vùng của các đồng chí phải được tiêu diệt không thương tiếc. Quyền lợi của cách mạng bắt buộc, bởi vì ở khắp nơi, sự tranh đấu với phú nông từ nay đi vào giai đoạn kết thúc.

    Các đồng chí phải:

    1/ Bắt (tôi nói bắt là làm cho mọi người trông thấy) không dưới một trăm phú nông hút máu nhơn dân.

    2/ Công bố tên tuổi của chúng nó.

    3/ Tịch thâu tầt cả mùa màng của chúng.

    4/ Nhận dìện những con tin như tôi đã chỉ thị trong bức điện hôm qua. Làm điều này bằng cách trong phạm vi hơn 100 km, nhơn dân chứng kiến được, thấu hiểu, rung sợ và thét lên: người cách mạng sìết cổ và tiếp tục sìết cổ những phú nông hút máu.

    Các đồng chí hảy đánh điện trả lời đã nhận được và đã thi hành chỉ thị này.

    Lê-nin của các đồng chí” (Nicolas Werth, Lénine, Paris, 2003).

    Bức điện này là một trong hằng ngàn văn kiện của vị sáng lập ra Liên-xô chưa bao giờ được phổ biến, cả trong “Lê-nin Toàn tập” qua suốt 5 lần ấn hành trong thời gian từ 1920 tới 1960.

    Nhờ Liên-xô sụp đổ, văn khố mở cửa mà những văn kiện “kiểm duyệt của Lê-nin” mới được các sử gia tham khảo.

    Cũng về đường lối chánh trị của Lê-nin, Simon Leys (Essais sur la Chine, Robert Laffont, Paris, 1998) trích dẩn một câu nói kinh điển của Lê-nin tưởng cũng cần ghi ra đây để thấy tại sao cộng sản phải cai trị độc tài triệt để: “Một chế độ sẳn sáng thực thi khủng bố không giới hạn thì không thể nào bị sụp đổ được”.

    Hơn nữa, nên nhớ Lê-nin rất tâm đắc “Hư vô chủ nghĩa” (nihilisme). Trong quyển “Le jeune Staline – Calmann-Lévy, Paris, 2010”, tác giả người Anh S.S Montefiore kể lại chuyện Staline thởi trai trẻ được Lê-nin tuyển dụng vì bản tánh du đảng, đã có thành tích ăn cướp, để đào tạo Staline ăn cướp ngân hàng lớn lấy tiền lập đảng cộng sản. Nhà Hư vô chủ nghĩa Serge Netchaiev, trong “Giáo lý Cách mạng” nổi tiếng, dạy rỏ để trở thành người cách mạng cộng sản “Mọi âu yếm, ủy mị trong tình ruột thịt, bằng hữu, tình ái, lòng biết ơn và ngay cả danh dự phải được thủ tiêu, nhường chổ cho một thứ đam mê duy nhứt và lạnh lùng là cách mạng”.

    Chính nhóm khủng bố “Ý Chí Nhơn Dân” lúc bấy giờ lấy tư tưởng của Serge Netchaiev làm kim chỉ nam mà “Giáo lý của Nhà Cách mạng” đã khai sanh ra Lê-nin và Staline. Giáo lý dạy phải bìến cái thế giới những người du đảng này thành một sức mạnh vô địch và bất diệt” (Le jeune Staline, các trang 180-183).

    Nay mọi người đã hiểu tại sao báo Anh, Daily Mail, 10/2014, trong bài “Từ Staline đến Hitler, những chế độ diệt chủng ác nhứt thế giới” ghi tên Hồ Chí Minh vào danh sách cùng với những tên đồ tể như Staline, Mao Trạch-đông, Hitler, Kim Nhựt-thành, Pol Pot và nói rỏ thêm “Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản ở Hà nội là thủ phạm gây ra cái chết của ít nhứt 200 000 người dân Mìền nam Việt nam”.

    Vậy ai có thể nói khác hơn được Hồ Chí Minh và cái đảng cộng sản của ông vì học theo Lê-nin mà cho tới ngày nay không luôn luôn “ngập trong bùn và máu của nhơn dân việt nam từ đầu tới chơn”?

    Và Hồ chí Minh không ai khác hơn là tên tội phạm chống nhơn loại, một thứ tội bất khả thời tiêu!

    (*) Lê Kỳ Sơn, “Chung quanh vấn đề nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh hiện nay”, Việt-Studies, 17/05/2015

    Từ Quốc Hoài, “Tháo bỏ ách tắc để giử lấy độc lập và chấn hưng đất nước – Thư ngỏ gời Ban Chấp Hành tW và đảng viên đảng cộng sản việt nam”, internnet, 31/07/2014.

    (**) Phạm Cao Dương, “Lẽ ra ngay từ năm 1945, dân tộc ta đã có độc lập, tự do rồi”, trên «dhsps.org.

    Nguyễn văn Trần
    nguon

  6. haiz00 says:

    PHẢI PHÁ VỠ NHỮNG NGỤY BIỆN VỀ HỒ CHÍ MINH

    Phạm Khánh Chương
    6-6-2015

    Vậy, hoàn cảnh lịch sử phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh và Việt Minh bắt buộc phải thủ tiêu đối lập? Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh chỉ có thể làm “cuộc cách mạng Đông Dương…..bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” , phát động cuộc “trường kỳ kháng chiến” kéo dài 9 năm làm chết hàng vạn người?

    Tất cả lý luận để bênh vực Hồ Chí Minh chỉ là hình thức đánh lừa vị giác, hay nói cách khác, là tự đánh lừa mình. Biết là sai nhưng vẫn tự đánh lừa mình thì là ngu, nhưng dùng nó để đánh lừa cả người khác là bất lương, là tội ác.

    Những kẻ biện hộ cho Hồ Chí Minh lý luận rằng ông ta ảnh hưởng tư tưởng Khổng Giáo nhiều hơn tư tưởng CS, rằng những việc làm của ông ta lúc trước là do biện pháp tình thế, ngoài ý muốn, do người khác làm, rằng nhận xết về Hồ Chí Minh phải khách quan về hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, v,v….Tất cả những lý luận biện hộ đó đều là ngụy biện.

    Hồ Chí Minh xuất thân bần nông, có khuynh hướng dùng bạo lực để giải quyết vấn đề hơn dùng trí óc để tìm giải pháp. Chính vì thế, năm 1920, khi ông ta đọc được “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lenin, ông ta hoàn toàn bị CS mê hoặc vì CS chủ trương đấu tranh bạo lực để giải phóng con người, giải phóng XH.

    Nếu Cụ Phan Chu Trinh chủ trương nâng cao dân trí, hội nhập thế giới văn minh, rồi từ đó đấu tranh giành độc lập mà không cần dùng bạo lực hay cầu viện ngoại bang thì Hồ Chí Minh đã chọn con đường hoàn toàn trái ngược. Và ông ta đã đi theo, và chỉ theo con đường trái ngược đó cho tới khi chết.

    Tuy bị mê hoặc bởi chủ nghĩa CS và đi theo CS, Hồ Chí Minh khi ấy cũng không hiểu rõ CS. Chính vì không hiểu CS là gì nên tại Hội Nghị Quốc Tế Nông Dân năm 1923, Hồ Chí Minh chỉ nêu ra vấn đề thuộc địa (thực chất là nêu ra vấn đề đàn áp nông dân tại thuộc địa) mà không quan tâm (hay không biết đến) những vấn đề khác của phong trào CS trên thế giới lúc bấy giờ  như phong trào công nhân, phong trào đấu tranh ở thành thị, v.v… Điều này làm Stalin không hài lòng, gây khốn khổ cho Hồ Chí Minh đến mãi sau này, cho tới khi ông ta hiểu biết hơn về CS và “sửa sai tư tưởng” bằng phong trào Cải Cách Ruộng Đất tại VN.

    Sự mơ hồ về chủ nghĩa CS của Hồ Chí Minh còn kéo dài cho tới khi Trần Phú về triệu tập Hội Nghị Trung Ương tháng 10-1930, đổi tên đảng CSVN thành đảng CS Đông Dương, nhấn mạnh phải lấy “giai cấp chống giai cấp làm trọng tâm cho mọi đường lối đấu tranh chính trị của đảng.

    Những tay lý luận biện hộ cho Hồ Chí Minh chụp lấy cơ hội trên cho rằng khuynh hướng “tả”“những hành động bạo lực” sau đó là “ngoài ý muốn” của Hồ Chí Minh vì lúc đó Hồ Chí Minh đang ở nước ngoài. Đây chỉ là ngụy biện vì đường lối CS Quốc Tế là đường lối chung, có Hồ Chí Minh khi ấy hay không cũng vậy, Trần Phú chỉ là người làm sáng tỏ đường lối đấu tranh theo ý thức hệ CS mà những đảng viên CS, kể cả Hồ Chí Minh, phải tuân theo.

    Những kẻ ngụy biện còn cố gán cho Hồ Chí Minh ảnh hưởng Khổng Giáo để làm giảm bản chất CS của ông ta, nhưng ai học sách Nho ngày xưa mà không ảnh hưởng Khổng Giáo? Thật ra, Hồ Chí Minh cũng có ảnh hưởng bởi Khổng Giáo và một số tư tưởng dân chủ Âu Tây, ông ta từng viết “Khổng tử, Jésus, Marx, Tôn Dật Tiên,…đều có những điểm chung giống nhau, đó là cùng mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Tôi cố gắng là người học trò nhỏ của các vị ấy”, nhưng những bài viết, văn kiện của Hồ Chí Minh cho thấy ông ta chịu ảnh hưởng rất nặng tư tưởng CS của Lenin. Điều này chứng tỏ Hồ Chí Minh tuy mơ hồ về lý thuyết CS nhưng ông ta không mơ hồ về con đường mình đi và quyết tâm chọn con đường đó vì nó phù hợp với bản chất của ông ta.

    Chính vì ảnh hưởng rất nặng tư tưởng của Lenin và quyết tâm theo con đường CS, Hồ Chí Minh đã dể dàng chấp nhận lấy quan điểm “giai cấp đấu tranh giai cấp” bạo lực của Stalin và Mao làm con đường đấu tranh duy nhất để “lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế đxã hi ch nghĩa, thiết lập chuyên chính vô sản” (cương lĩnh của Đệ Tam Quốc Tế do Lenin lãnh đạo).

    Việc Hồ Chí Minh có phải là người đem CNCS hay thành lập đảng CS tại VN hay không không thành vấn đề, ông ta vẫn là một trong những đảng viên tiên phong của phong trào CS tại VN. Đảng CS do ông ta lãnh đạo và kế thừa đã tích cực áp dụng phương pháp đấu tranh bạo lực, “giai cấp chống giai cấp” của Stalin và Mao để giải quyết vấn đề đất nước.

    Ngoài ra, nếu nói sự chọn lựa đó “ngoài ý muốn” thì tại sao năm 1941, khi ban Trung Ương cũ do Trần Phú dựng lên và những người theo ông ta bị bắt và hy sinh gần hết, Hồ Chí Minh về làm lãnh tụ tối cao của đảng, ông ta không thay đổi quan điểm đấu tranh của đảng?

    Hồ Chí Minh và đảng CS có rất nhiều cơ hội để thay đổi đường lối đấu tranh hòa bình hơn, nhân bản hơn theo hướng những đàn anh đi trước và trí thức hơn ông ta như Cụ Phan Chu Trinh, nhưng ông ta và đảng CS đã không làm, vì đó không phải chủ trương của đảng CS nói chung. Nói tới  Cộng sản, Việt Minh hay sau này là Việt Cộng, là nói tới thanh trừng, khủng bố và dối trá. Bạo lực và dối trá nối tiếp bạo lực và dối trá.

    Hồ Chí Minh đã khéo léo dùng chiêu bài “dân tộc”, “yêu nước” để che dấu bộ mặt thật Việt Minh-Cộng Sản với nhân dân VN, nhưng không thể qua mắt được người Mỹ. Người Mỹ và các nước Tây phương biết rõ Hồ Chí Minh không phải là “nhà ái quốc” hay người theo “chủ nghĩa dân tộc” (dù có vài người tin như vậy!), Hồ Chí Minh chỉ là một đảng viên đảng CS Quốc Tế dưới sự lãnh đạo của CS Xô-viết.

    Tình hình VN lúc bấy giờ rất phức tạp (Pháp, Nhật, Tàu, phe phái, v.v…), nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh của đảng CS do Hồ Chí Minh lãnh đạo có thay đổi nhưng quan điểm đấu tranh hoàn toàn không thay đổi. Kết quả, tháng 8-1945, thay vì kết hợp với chính phủ Trần Trọng Kim để xây dựng một nhà nước dân chủ, đa đảng, Hồ Chí Minh chọn việc cướp chính quyền, loại bỏ chính phủ đầu tiên của VN, một chính phủ hợp hiến của một quốc gia độc lập, độc lập không đổ máu.

    Tháng 5-1946, Hồ Chí Minh qua Pháp dự Hội Nghị Fontainebleau, thực chất là tránh mặt cho Võ Nguyên Giáp thủ tiêu các đảng phái khác như Quốc Dân Đảng, Việt Cách, Việt Quốc, Đại Việt và những người Trotskist, tức là thủ tiêu những người không cùng đường lối, không cùng ý thức hệ CS.

    Thật ra, dù Hiệp Ước 1946 thành công hay thất bại, dù Pháp có phá vỡ Hiệp Ước hay không, Hồ Chí Minh và đảng CS cũng sẽ sử dụng vũ lực vì tư tưởng sử dụng bạo lực để cướp chính quyền đã có từ trước. Ngày 19-5-1941, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII, Hồ Chí Minh đã khẳng định, trích:

    cuộc cách mạng Đông Dương sẽ kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”.

    Tư tưởng bạo lực của QTCS luôn chi phối mọi suy nghĩ và hành động của ông ta.

    Tháng 3-1947, lấy lý do Pháp phá vỡ Hiệp Ước, Hồ Chí Minh kêu gọi tiêu thổ, trường ký kháng chiến. Năm 1951, tình hình thuận lợi cho phép Hồ Chí Minh lộ mặt, đưa đảng CS ra hoạt động công khai trở lại, lấy tên là đảng Lao Động VN.

    Lê Diễn Đức viết trong “Hồ Chí Minh và di sản của ông”, trích:

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Geneva năm 1954…. Ngay lập tức Hồ Chí Minh đã phản bội lại chính mình, phản bội lại tất cả những điều mà ông ta sử dụng nó để đưa người dân vào 9 năm kháng chiến trường kỳ”.

    Không! Hồ Chí Minh không phản bội lại ông ta, ông ta chỉ không cần phải dấu mặt thật nữa thôi!

    Không thể nào nói một người như Hồ Chí Minh không hiểu rằng nếu sử dụng bạo lực là sẽ có đổ máu. Kéo cả dân tộc vào đấu tranh bạo lực thì máu sẽ thành sông, xương thành núi, nhưng ông ta vẫn bất chấp, không những thế, còn tìm mọi cách để thực hiện (đấu tranh bạo lực). Rất nhiều nước thuộc địa đã dành được độc lập, tự do mà không cần phải mất nhiều xương máu như vậy.

    Một người ái quốc hay theo chủ nghĩa dân tộc, lấy dân làm gốc, không bao giờ lấy xương máu nhân dân để làm phương tiện cho mục đích chính trị của đảng phái mình, trừ khi người đó bị lôi cuốn bởi một quyền lực u mê vô hình nào đó. Quyền lực u mê vô hình ở đây là chủ nghĩa CS mà Hồ Chí Minh suốt đời “không chỉ là một người cộng sản Việt Nam mẫu mực, Người còn là chiến sĩ cộng sản quốc tế trong sáng, thuỷ chung, luôn quan tâm đến sự phát triển chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế”.

    Một số người bênh vực Hồ Chi Minh cho rằng, trong giai đoạn phức tạp của lịch sử lúc đó,do tình thế bắt buộc,  Hồ Chí Minh không thể chủ động lựa chọn mà phải chấp nhận (khi không còn con đường nào khác). Đây là cách ngụy biện nguy hiểm nhằm mục đích đổ lỗi cho người khác. Những tay ngụy biện còn đi xa hơn cho rằng, xét công-tội của Hồ Chí Minh phải xét tới hoàn cảnh lịch sử phức tạp lúc ấy.

    Hoàn cảnh lịch sử phức tạp lúc ấy đã cho phép Cụ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ VN đầu tiên mà không cần phải đổ máu (dù vẫn chịu sự bảo hộ của quân dội Nhật – lúc đó đã thất trận, giải giáp và chuẩn bị rút về nước).

    Vậy, hoàn cảnh lịch sử phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh và Việt Minh bắt buộc phải thủ tiêu đối lập? Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh chỉ có thể làm “cuộc cách mạng Đông Dương…..bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” , phát động cuộc “trường kỳ kháng chiến” kéo dài 9 năm làm chết hàng vạn người?

    Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy, bắt buộc Hồ Chí Minh viết thư nặc danh vu cáo bà Nguyễn Thị Năm, một người địa chủ có công với đất nước? Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy bắt buộc Hồ Chí Minh phải tiến hành Cải Cách Ruộng Đất làm chết cả trăm ngàn người, trong đó hơn 70% là vô tội?

    Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy, ép Hồ Chí Minh và đảng CS do ông ta lãnh đạo phải tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam kéo dài hơn 20 năm với hàng triệu người chết mà ruốt cuộc, sau 40 năm thống nhất, đất nước càng ngày tụt hậu, nghèo nàn và lệ thuộc vào Tàu?

    Tất cả chỉ vì Hồ Chí Minh là đảng viên trung kiên của đảng CSQT, suốt đời sống là làm việc theo chỉ thị của đảng CSQT (nay là đảng CS Tàu). Những kẽ kế thừa ông ta hiện nay vẫn đang “tiếp tục kế thừa tư tưởng và phát huy sự nghiệp” của ông ta.

    Một người tự trọng sẽ không cho phép mình đổ thừa hoàn cảnh để chạy tội. Không có dân tộc nào trên thế giới muốn có một lãnh đạo như Hồ Chí Minh để bị dẫn dắt đi hết chổ chết này tới chổ chết khác.

    Người VN nào vẫn xem ông ta là “cứu tinh dân tộc“, hãy nhìn lại chặng đường hơn 80 năm qua của dân tộc, của đất nước từ khi có đảng CS dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đề suy nghĩ lại. Những trí thức VN hãy có đủ bản lĩnh trí thức để thoát khỏi sự nô lệ của cái bóng ma quái Hồ Chí Minh, trí thức bị nô lệ tư tưởng không phải là trí thức.

    Lịch sử VN đời đời lên án Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc là những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà“,“rước voi về giày mả tổ“, bất chấp hoàn cảnh lịch sử lúc ấy như thế nào. VN này nay bị mất đất, mất biển, đất nước bị lệ thuộc Tàu cộng, tất cả chỉ vì Hồ Chí Minh là “chiến sĩ cộng sản quốc tế thuỷ chung“. Hồ Chí Minh rổi đây cũng sẽ bị lịch sử phê phán như vậy

    Hồ Chí Minh là “nhân vật lịch sử”, Hồ Chí Minh  không phải là “thánh” để mà tôn thờ và Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải là “cha già dân tộc”. Những kẻ gọi Hồ Chí Minh là “cha già dân tộc” là những kẻ đang sĩ nhục tổ tiên và phỉ báng dân tộc.

    Ngày sau dù chế độ nào cầm quyền đi nữa thì người ta cũng sẽ học về Hồ Chí Minh, nhưng học về Hồ Chí Minh không phải để làm theo mà để tránh vết xe đổ của lịch sử, tránh những nguy cơ gây tổn thất, mất mát, đau khổ cho dân tộc và cả nguy cơ mất nước mà Hồ Chí Minh và những kẻ CS kế thừa của ông ta đã và đang làm hiện nay.

    ____________________

    Tham Khảo:

    – Lê Kỳ Sơn, “Chung Quanh Vấn Đề Nhận Thức và Đánh Giá Hồ Chí Minh Hiện Nay”
    – Từ Quốc Hoài, “Tháo Bỏ Ách Tắc Để Giữ Lấy Độc Lập và Chấn Hưng Đất Nước (kỳ 2)
    – Nguyễn Văn Trần, “Chung Quanh Vài Luận Điểm Mới Bênh Vực Hồ Chí Minh”
    – Lê Diễn Đức, “Hồ Chí Minh và Di Sản Của Ông”
    – Phạm Cao Dương, “Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945, Dân Tộc Ta Đã Có Độc Lập, Tự Do Rồi”
    – TS Lê Mạnh Hùng, “Chính Phủ Trần Trọng Kim Năm 1945”
    – Bút Sử, “Những Chuyện Bên Lề Hội Nghị Fontainebleau 1946”
    – Lịch Sử Đảng CSVN, “10 đến 19-5-1941 :Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII. Mặt trận Việt Minh”
    – “Lời Dặn Khiêm Nhường Của Người Cộng Sản”

    Phạm Khánh Chương
    nguon

  7. haiz00 says:

    CHUNG QUANH VÀI LUẬN ĐIỂM MỚI BÊNH VỰC HỒ CHÍ MINH

    Hình bên: Hồ Chí Minh là một trong “13 tên độc tài khát máu
    (13 Deadliest Dictator) theo tờ The Dailybeast

    Nguyễn Văn Trần
    5-06- 2015

    Hồ Chí Minh chết nay được 46 năm, mồ yên mả đẹp nhưng ông vẫn chưa được yên. Người ta đào bới lên đủ thứ chuyện về ông :  bản thân, gia đình, con đường lập thân, … để xác định một Hồ Chí Minh  thật trong lịch sử  Vìệt Nam .

    Gác qua những phê phán, công kích hay đánh giá hoàn toàn tiêu cực về Hồ Chí Minh, chúng ta, hôm nay, chỉ ghi nhận, trong gần đây, xuất hiện vài nhận định (*) khá mới, ôn hòa, có vẻ như mang tính khách quan, phê phán tình trạng kinh tế tụt hậu, xã hội băng hoại, đạo đức bật gốc, tham nhũng tràn lang, đàn áp dã man mọi người khác chánh kiến, …và qui trách tất cả đều do ” lỗi hệ thống ” . Tức lỗi của chế độ . Và chế độ đó là chế độ ở Hà nội hiện nay .Từ phê phán này, người ta mới đặt vấn đề « cần có nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào để đạt tới sự chính xác, công bằng, khách quan ? » .

    Ai cũng biết Hồ Chí Minh là người cộng sản và khai sanh ra chế độ cộng sản ở Hà nội năm 1945. Vậy ông có những liên đới trách nhiệm gì với tình trạng đất nước suy đồi hiện nay, với những tội ác “long trời lở đất ” do đảng cộng sản của ông gây ra cho dân tộc liên tục từ trước tới nay hay không ?

    Những luận điểm nhằm khôi phục giá trị lịch sử Hồ Chí Minh, cho rằng ông không phải là người đầu tiên du nhập cộng sản vào Việt nam, ông là người cộng sản theo Lê-nin chớ không phải theo Staline-Mao, ông là người yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc, dân chủ, theo Tôn Dật Tiên và Phan Chu Trinh, …

    Chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với những luận điểm nhằm khôi phục, vớt vát lại giá trị lịch sử của Hồ Chí Minh. Tại sao ?

    I – Công lao to lớn cứu nước, giải phóng dân tộc ?

    Ngày 6 tháng 3/1946, Hồ Chí Minh ký thoả hiệp án với Pháp để rước Pháp trở lại Hà nội với ý đồ mượn tay Pháp tiêu diệt lực lượng các đảng phái quốc gia vì lúc bấy giờ lực lượng Việt minh hãy còn yếu. Có người trong hàng ngũ lãnh đạo Mặt Trận Việt Minh, lúc đó, hỏi Hồ Chí Minh : « Nhựt trao trả độc lập cho Việt nam. Tại sao ta không nhận mà còn đánh giặc ? » . Hồ Chí Minh không ngần ngại giải thích : “Ta nhận độc lập đó là độc lập của các đảng phái quốc gia . Độc lập thật sự là độc lập do ta cướp được chánh quyền ...” .

    Trong quá khứ có nhiều cơ hội độc lập, tránh chiến tranh đổ máu, cùng xây dựng đất nước dân chủ và phát triển . Nhưng Hồ Chí Minh đều bỏ qua và còn tuyên bố « Dù phải đánh giặc mười năm nữa để có độc lập cho ta, ta cũng phải làm » .

    Trong những cơ hội đó, độc lập đầu tiên và thật sự, cần ghi nhớ, là độc lập do Hoàng Đế bảo Đại tiếp thu ở Nhựt với đầy đủ giá trị pháp lý và cả tính chánh đáng . Nhưng biến cố này bị quên lãng do tuyên truyền của cộng sản chỉ nhắc nhở cách mạng tháng 8 và Tuyên ngôn Độc lập 2/9 của Hồ Chí Minh . Tiếp theo, chánh quyền quốc gia Đệ I Cộng Hòa vì chủ trương « bài phong đả thực » mà nhận chìm bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại thêm mấy độ sâu nữa trong quên lãng .

    Thật bất hạnh cho dân tộc ! Sau khi thu hồi độc lập, ngày 17 tháng 3 năm 1945, Hoàng Đế bảo Đại ban hành Dụ số 1, long trọng xác nhận những điểm cụ thể về vận mệnh mới của Việt nam :

    «  1. Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu « DÂN VI QUÍ » .

    1. Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Đại-Đông-Á.
    2. Trẫm sẽ tài định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân “.

    Nhận định về Đạo dụ này, Luật Sư Bùi Tường Chiểu (Thanh Nghị, số 107, ngày 5 tháng Năm 1945) nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của bản văn :

    Đạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng Đạo dụ này đã nêu lên một cách tóm tắt những quả quyết rõ ràng về những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này ” .

    Dựa trên « Dân Vi Quý », ông phân tích :

    “ Nay đạo Dụ số 1 đã nêu lên khẩu hiệu Dân vi quí có nghĩa là Hoàng Đế Bảo Đại đã hủy bỏ cái lý thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đã cho là không hợp thời. Đã lấy dân làm trọng, đã lấy quyền lợi dân để trên tất cả thì vua tất chỉ là một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng vụ quốc gia, tìm những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi hành. Như thế là trong nền chính trị Hoàng Đế Bảo Đại đã định đặt quốc dân ta đi vào một con đường mới ” (**).

    Sau đó, Hoàng Đế Bảo Đại đã từng bước tiến hành tổ chức Chánh quyền, xây dựng đất nước bằng những nguyên tắc lấy dân chủ làm căn bản để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp của nhiều người thay vì của một thiểu số quan lại trong triều . Tức chánh sách Đại đoàn kết dân tộc . Cụ thể, Ngài cho thành lập 4 cơ quan tối cao gồm các nhơn sĩ đại diện đủ 3 Miền :

    Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp,

    Hội Đồng Cải Cách cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính,

    Hội Đồng Cải Cách Giáo dục,

    Hội Đồng Thanh Niên .

    Nhà Vua còn ban hành một số Dụ về các quyền căn bản như tự do lập nhiệp đoàn, tự do lập hội, tự do hội họp, …

    Đây là những đạo luật ấn định những nguyên tắc qui định các quyền tự do căn bản của người dân của một chế độ dân chủ pháp trị thật sự .

    Chỉ trong vòng không quá 3 tháng, Chánh phủ Việt nam Độc lập đầu tiên Trần Trọng Kim, dưới sự lãnh đạo của Hoàng Đế Bảo Đại, đã thật sự chấm dứt chế độ quân chủ cả ngàn năm trong đó 400 năm triều đại Nhà Nguyễn, đã đặt được những nền móng cho một chế độ dân chủ thật sự theo nguyên tắc « do dân, vì dân  » (Dân vi quí). Phải chăng đây là một cuộc cách mạng chánh trị đúng nghĩa của nó ? Điều này thực hiện được tốt đẹp do lòng ái quốc và sự quyết tâm của nhà vua phối hợp với tâm huyết tha thiết đem lại nền độc lập cho Việt nam của Nội các Trần Trọng Kim .

    Nhưng nền độc lập này là của đất nước Việt Nam chớ không phải của cộng sản Đệ III Quốc tế nên ngày 19/8, Hồ Chí Minh đã  phải ra tay « cướp chánh quyền » (sau khi chánh phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm) và dẹp bỏ tất cả các cơ chế dân chủ vừa thành lập, điển hình, ngày 22/9/1945, sau khi tuyên bố độc lập lần nữa, Hồ Chí Minh ban hành lệnh « bãi bỏ các nghiệp đoàn trên toàn cõi Vìệt nam » và Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký Nghị định ngày 14/9/1945 giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức, đồng thời ký một Nghị định khác thành lập Hội Văn Hóa Cứu Quốc Việt nam .

    Sự hiệu lực xóa bỏ các cơ sở dân chủ của nước Việt nam độc lập do Nhà Vua Bảo Đại tuyên cáo ngày 11 tháng 3 năm 1945 là từ 1954, rồi 30/04/75,mọi quyền căn bản của người dân bị Hồ chí Minh và chế độ cộng sản do ông khai sanh tước đoạt sạch . Người dân bị chế độ độc tài khủng bố, đàn áp . Đất nước bị đảng cộng sản từng bước đưa vào vòng lệ thuộc Tàu theo cùng hệ xã hội chủ nghĩa .

    Đó là công lao to lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh chọn lựa con đường cộng sản để cứu nước và giải phóng dân tộc mà người dân, ai không cộng sản, cũng đều thấy rỏ ràng .

    II – Hồ Chí Minh phải chọn con đường cộng sản Lê-nin

    Lập luận bênh vực Hồ Chí Minh giải thích rằng hồi thập niên 20 của thế kỷ trước Hồ đã phải chọn con đường Lê-nin vì

    « tư bản lúc đó đi chiếm thuộc địa, từ đầu đến chân nó đều thấm bùn và máu », khác với ngày nay « đã lột xác trở thành văn minh . Cũng như vậy, Quốc tế III thời Lê-nin đầu thế kỷ XX cũng khác với cộng sản đã bị Staline và Mao hóa sau này . Nếu Quốc tế III không công khai ủng hộ các dân tộc thuộc địa – nếu cũng chỉ như Quốc tế II – chắc gì Hồ đã ngã  theo chủ nghĩa cộng sản ?

     Thứ hai, cũng cần phân biệt điều mà Hồ Chí Minh tự giác, chủ động lựa chọn với điều mà tình thế bắt buộc ông phải chấp nhận (khi không còn con đường nào khác), lại càng khác xa với những điều người khác nhân danh Hồ Chí Minh đã làm ! Vai trò của vĩ nhân là ở chỗ có biết nắm bắt thời cơ và tận dụng được thời cơ do thời cuộc mang lại để thành đạt mục tiêu độc lập, thống nhất hay không; còn cá nhân một lãnh tụ, dù lỗi lạc đến đâu – nhất là lãnh tụ của một nước thuộc địa  nghèo nàn, lạc hậu như nước ta – làm sao có thể vượt qua được vị thế yếu kém của mình, để tác động vào thời đại, nhằm thực hiện thắng lợi lý tưởng, hoài bão mà mình theo đuổi ? » .

    Ngày nay, người cộng sản không thể bênh vực Staline và Mao vì 2 người này đã gìết hại hằng 100 triệu nhơn dân của họ khi họ cầm quyền . Và còn qui sự cai trị bạo ngược, dã man của cộng sản ở Tàu, Bắc Hàn và Việt Nam là do theo Staline và Mao . Vậy Lê-nin thế nào ?

    Chúng tôi, để phơi bày lại bộ mặt thật, rất thật của Lê-nin mà “Hồ Chí Minh đã chọn đi theo làm cách mạng vì không có con đường nào khác – và đó là một chọn lựa của một vĩ nhơn vì tự giác – không gì bằng mời bạn đọc xem qua bức điện của Lê –nin gởi đi ngày 11 tháng 8 năm 1918 kêu gọi giết :

    « Này các đồng chí, cuộc nổi dậy của phú nông  trong trong năm vùng của các đồng chí phải được tiêu diệt không thương tiếc . Quyền lợi của cách mạng bắt buộc, bởi vì ở khắp nơi, sự tranh đấu với phú nông từ nay đi vào giai đoạn kết thúc .

    Các đồng chí phải :

    1/ bắt (tôi nói bắt là làm cho mọi người trông thấy) không dưới một trăm phú nông hút máu nhân dân.

    2/ Công bố tên tuổi của chúng nó.

    3/ Tịch thâu tất cả mùa màng của chúng .

    4/ Nhận dìện những con tin như tôi đã chỉ thị trong bức điện hôm qua . Làm điều này bằng cách trong phạm vi hơn 100 km, nhơn dân chứng kiến được, thấu hiểu, rung sợ và thét lên : người cách mạng sìết cổ và tiếp tục sìết cổ những phú nông hút máu .

    Các đồng chí hãy đánh điện trả lời đã nhận được và đã thi hành chỉ thị này .

    Lê-nin của các đồng chí » 

                                                           (Nicolas Werth, Lénine, Paris, 2003)

    Bức điện này là một trong hằng ngàn văn kiện của vị sáng lập ra Liên-xô chưa bao giờ được phổ biến, cả trong « Lê-nin Toàn tập » qua suốt 5 lần ấn hành trong thời gian từ 1920 tới 1960 .

    Nhờ Liên-xô sụp đổ, văn khố mở cửa mà những văn kiện « kiểm duyệt của Lê-nin » mới được các sử gia tham khảo .

    Cũng về đường lối chánh trị của Lê-nin, Simon Leys (Essais sur la Chine, Robert Laffont, Paris, 1998) trích dẫn một câu nói kinh điển của Lê-nin tưởng cũng cần ghi ra đây để thấy tại sao cộng sản phải cai trị độc tài triệt để : « Một chế độ sẵn sàng thực thi khủng bố không giới hạn thì không thể nào bị sụp đổ được » .

    Hơn nữa, nên nhớ Lê-nin rất tâm đắc « Hư vô chủ nghĩa » (nihilisme) . Trong quyển « Le jeune Staline – Calmann-Lévy, Paris, 2010 », tác giả người Anh S.S Montefiore kể lại chuyện Staline thởi trai trẻ được Lê-nin tuyển dụng vì bản tánh du đảng, đã có thành tích ăn cướp, để đào tạo Staline ăn cướp ngân hàng lớn lấy tiền lập đảng cộng sản . Nhà Hư vô chủ nghĩa Serge Netchaiev, trong « Giáo lý Cách mạng » nổi tiếng, dạy rỏ để trở thành người cách mạng cộng sản « Mọi âu yếm, ủy mị trong tình ruột thịt, bằng hữu, tình ái, lòng biết ơn và ngay cả danh dự phải được thủ tiêu, nhường chổ cho một thứ đam mê duy nhứt và lạnh lùng là cách mạng » .

    Chính nhóm khủng bố « Ý Chí Nhơn Dân » lúc bấy giờ lấy tư tưởng của Serge Netchaiev làm kim chỉ nam mà  « Giáo lý của Nhà Cách mạng » đã khai sanh ra Lê-nin và Staline . Giáo lý dạy phải bìến cái thế giới những người du đảng này thành một sức mạnh vô địch và bất diệt » (Le jeune Staline, các trang 180-183) .

    Nay mọi người đã hiểu tại sao báo Anh, Daily Mail, 10/2014, trong bài “ Từ Staline đến Hitler, những chế độ diệt chủng ác nhứt thế giới » ghi tên Hồ Chí Minh vào danh sách cùng với những tên đồ tể như Staline, Mao Trạch-đông, Hitler, Kim Nhựt-thành, Pol Pot và nói rõ thêm « Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản ở Hà nội là thủ phạm gây ra cái chết của ít nhứt 200 000 người dân Mìền nam Việt nam » .

    Vậy ai có thể nói khác hơn được Hồ Chí Minh và cái đảng cộng sản của ông vì học theo Lê-nin mà cho tới ngày nay không luôn luôn « ngập trong bùn và máu của nhơn dân việt nam từ đầu tới chơn » ?

    Và Hồ chí Minh không ai khác hơn là tên tội phạm chống nhơn loại, một thứ tội bất khả thời tiêu !

    _____________

    Chú thích:

    (*) Lê Kỳ Sơn, « Chung quanh vấn đề nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh hiện nay », Việt-Studies, 17/05/2015

          Từ Quốc Hoài, « Tháo bỏ ách tắc để giữ lấy độc lập và chấn hưng đất nước – Thư ngỏ gời Ban Chấp Hành TƯ và đảng viên đảng cộng sản Việt nam », internnet, 31/07/2014 .

    (**) Phạm Cao Dương, « Lẽ ra ngay từ năm 1945, dân tộc ta đã có độc lập, tự do rồi », trên «dhsps.org .

    Nguyễn văn Trần
    Trí Nhân Media
    nguon

  8. haiz00 says:

    Hội Nghị Thành Đô : Nguyên Nhân – Diễn biến – Hậu Quả

    22-maho

    Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.

    Lê Duy San

    Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam, bọn “lãnh đạo” Hà Nội cảm thấy Trung Cộng quá lấn áp Việt Nam; nếu không sớm thoát khỏi sự kìm kẹp này thì sớm muộn gì, Việt Nam, nếu không trở thành một tỉnh của Tầu thì cũng trở thành một nước nô lệ Tầu như hai lần Bắc thuộc trước. Do đó bọn lãnh đạo Hà Nội đã thi hành chính sách đánh tư sản mại bản để không những cướp đoạt tài sản của người miền Nam mà cả của người Hoa và trục xuất người Hoa ra khỏi Việt Nam bằng cách cho vượt biên bán chính thức. Điều này đã làm cho Trung Cộng nổi giận. Không những thế, bọn lãnh đạo Hà Nội còn xua quân sang Cao Miên để đánh nhau với bọn Khmer Đỏ là bọn đang cầm quyền và được Trung Quốc ủng hộ và trợ giúp lúc bấy giờ. Trung Cộng cho rằng bọn lãnh đạo Hà Nội là một bọn “ăn cháo đá bát” và cần phải dậy cho chúng một bài học. Đó là nguyên nhân của cuộc chiến Việt Trung vào năm 1979.

    Tuy nhiên cuộc chiến Việt Trung 1979 vẫn không làm bọn lãnh đạo Hà Nội khiếp sợ, vì chính Trung Quốc cũng thiệt hại và đã phải rút lui, chỉ chiếm giữ một số đất vùng biên giới, Ải Nam Quan và thác Bản Giốc. Hơn nữa, bọn lãnh đạo Hà Nội vẵn còn chỗ dựa vũng chắc, đó là Liên Sô, một cường quốc vẫn còn đang ở vị thế vững mạnh nhất nhì thế giới về quân sự. Do đó chúng vẫn tiếp tục đánh nhau với Khmer Đỏ và dựng lên một chính phủ thân Việt Nam do Heng Samrin làm chủ tịch.

    I/ Nguyên nhân đưa đến Hội Nghị Thành Đô.

    Sau 10 năm chiến tranh với Khmer Đỏ (1979-1989), Việt Nam tổn phí cũng nhiều. Hơn nữa, Liên Sô, lúc bấy giờ do Gorbachev nắm quyền, chủ trương xét lại, nên bọn lãnh đạo Hà Nội không còn trông mong gì ở Liên Sô nữa. Năm 1989, bức tường Bá Linh xụp đổ. Cộng Sản Hà Nội càng cảm thấy rất nguy hiểm nếu vẫn cứng dắn với Trung Quốc nên đã quyết định rút quân toàn bộ khỏi Campuchia để làm hài lòng Trung Cộng và ngỏ ý muốn sang thăm Trung Quốc để hàn gắn lại tình hữu nghị hai nước. Trung Cộng cũng biệt vậy, nhưng thấy Mỹ đã thay đổi chính sách đối với Cộng Sản Việt Nam, nên cũng cảm thấy nếu qúa cứng dắn với Cộng Sản Việt Nam có thể bất lợi. Do đó mà Hội Nghị Thành Đô đã được manh nha hình thành. Theo các tư liệu được Trung Quốc tiết lộ thì vào chiều ngày 28/8/1990, Đại Sứ Trung Cộng Trương Đức Duy ở Việt Nam đã nhận được chỉ thị từ trong nước để chuyển tới Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh một thông điệp như sau: “Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười thăm nội bộ Trung Quốc từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9 năm 1990, cũng hoan nghênh Cố Vấn Phạm Văn Đồng cùng đi.” (Xem thêm tại http://nghiencuuquocte.net/forums/topic/hoi-nghi-thanh/).

    Hội Nghị Thành Đô, đúng ra là một Mật Hội bán nước, được diễn ra vào ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại tỉnh Tứ Xuyên bên Tầu. Cả hai “chính phủ” Trung Cộng và Việt Cộng đều không chính thức loan báo về bất cứ một tin tức gì về Hội Nghị này. Người ta chỉ mới biết được trong 2 năm gần đây nhờ Wikileaks và một vài tài liệu khác như Nhật Ký của Lý Bằng, Hồi Ký của Trần Quang Cơ, bài viết của Lý Gia Trung (Tham Tán Chính Trị ĐSQ Trung Cộng), bài viết của Trương Thanh (Vụ Phó Vụ Á Châu Bộ Ngoại Giao Trung Cộng) v.v…mà phiá Trung Cộng đã tiết lộ.

    II/ Nội dung Hội Nghị Thành Đô.

    Lý Bằng, Giang Trạch Dân, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng.

    Hội nghị thành Đô không hề nói gì tới những thiệt hại mà Trung Cộng đã gây cho Việt Nam trong chiến tranh Việt Trung năm 1979 và cũng không đề cập gì tới những phần đất của Việt Nam ở biên giới, đến Ải Nam Quan, đến thác Bản Giốc mà Trung Cộng đã chiếm. Trái lại, đảng Cộng Sản Việt Nam lại xin được làm một khu tự trị trực thuộc Bắc Kinh. Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Biên bản buổi họp kín giữa Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư đảng CSVN, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện phía Việt Nam, và Giang Trạch Dân, TBT/CSTQ, Lý Bằng, Thủ tướng Trung Cộng, đã họp 2 ngày từ 3 và 4-9-1990, tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Tài liệu chi tiết như sau:

    “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.

    “Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN “giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”

    Tháng 11 năm 1991, sau hội nghị Thành Đô, lãnh đạo cao cấp hai đảng, hai nước liên tiếp thăm viếng lẫn nhau. Sự giao lưu, hợp tác giữa hai bên về các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá v.v… được mở rộng, nâng lên tầm cao là bước đầu của việc hội nhập.

    Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành “đại cuộc” đó. Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.

    Ngày thứ bảy, 31 tháng 5, 2014 đài BBC đưa tin như sau: “Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.

    Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh

    GS Carl Thayer cho biết: “Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể”, do đó ta có thể nhận ra ‘mâu thuẫn gia đình’ nằm trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc. Còn Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch của Việt Cộng thì than thở: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.” Chính vì lời nói này mà ông đã bị mất chức Ngoại Trưởng.

    Cho dù Wikileaks không tiết lộ, thì xuyên qua những hành động hèn nhát và bất động mà đảng CSVN đã thể hiện và nhiều người đã xác nhận đó là hành động bán nước và Hội Nghị Thành Đô là Hội Nghị Bán Nước..

    Do kinh nghiệm ở hai khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã kiềm chế CSVN bằng cách đặt chiếc vòng kim cô lên đầu CSVN cho nên những tên Hán gian hiện nay như cá nằm trên thớt, không dám cựa quậy hay phản đối gì.

    HBSơn, PVĐồng, NVLinh, Giang Trạch Dân, (áo xám đứng giữa), LBằng, ĐMười, và HHà.

    Theo Huỳnh Tâm tác giả bài “Tiến Trình Đàm Phán Bí Mật Thành Đô 1990” thì “Kỷ yếu hội nghị bí mật Thành Đô 1990”, mà Nguyễn Văn Linh đã ký kết gồm có 5 qui ước Việt Cộng phải tuân thủ thực hiện:

    1 – Xác định chủ quyền vùng đảo Bạch Long Vĩ và Vịnh Bắc Bộ.
    2 – Laoshan thuộc về lãnh thổ Trung Cộng.
    3 – Xác định chủ quyền biên giới Trung-Việt từ đất liền đến Biển Đông.
    4 – Áp đặt luật pháp Trung Quốc vào Việt Nam.
    5 – Kế hoạch đưa quân đội Trung Quốc vào Việt Nam.

    Kết quả của Hội Nghị Thành Đô là Giang Trạch Dân đã cho CSVN thời gian 30 năm để tiến hành “sự nghiệp vĩ đại” đối với Việt Nam cho nên gọi đó là “đại cuộc” và việc thực hiện chương trình 30 năm nằm trong khuôn khổ “4 tốt và 16 chữ vàng”. Vì thế cứ mỗi lần có tranh chấp gì thì Bắc Kinh khuyên nhũ Việt Cộng hãy vì “đại cuộc”, và CSVN luôn luôn cam kết thực hiện 4 tốt là: “Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt” và 16 chữ vàng là: “Láng giềng hữu nghi, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai”. Và tất cả những Tổng bí thư, chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và thủ tướng của Việt Nam đều phải qua diện kiến lãnh đạo Trung Cộng. Tổng bí thư, chủ tịch nước của Việt Nam đều phải ký những bản Tuyên bố chung xác định quyết tâm thúc đẩy, hợp tác toàn diện trên phương châm 4 tốt và 16 chữ vàng mà thực chất là hoàn tất lộ trình 30 năm (1990-2020), để sát nhập vào “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.

    Tóm lại, hội nghị Thành Đô không những để tái lập bang giao giữa hai nước được tổ chức công khai vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, mà còn là để cho CSVN xin được sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc tức sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc. Vì thế gọi Hội Nghị Thành Đô là Hội Nghị Bán Nước của Việt Cộng cũng không sai.

    Cho mãi đến khi Wikileaks phổ biến tài liệu mật đó thì người Việt ở nước ngoài mới biết đến, nhưng đối với đa số người trong nước thì nó vẫn còn là một bí mật. Vì thế, để lừa bịp nhân dân Việt Nam, chương trình 30 năm mà hai đảng Cộng Sản nầy thực hiện được ngụy trang dưới những từ ngữ mỹ miều như “đại cuộc”, “phương châm 16 chữ vàng”, “hợp tác chiến lược toàn diện”, “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác toàn diện” v.v…

    Bọn Tàu được vào Việt Nam không cần Visa nhập cảnh, nên tự do đi lại như chúng đã từng đi vào Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông. Bọn chúng đã có mặt trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của đất nước Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng bọn Tầu.

    Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, từ việc thuê đất 306,000 hecta trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc, từ Bauxite Tây Nguyên đến Cà Mau, chúng di dân tới ở và có thể thành lập nhiều sư đoàn của đạo quân thứ năm với những công nhân người Hoa, mà thực chất là binh sĩ, tình báo, đặc công. Họ nắm trong tay những bản đồ vị trí các nhà máy điện, nhà máy nước, các cơ quan quốc phòng, cơ xưởng sản xuất v.v…

    Chúng thuê dài hạn những đất đai mầu mỡ của Việt Nam và cho di dân tới tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà công an Việt Nam không được vào đó để kiểm soát.

    “Trung tâm thương mại Đông Đô Đại Phố “ở Bình Dương

    ”Sau Casino của người Hoa ở Đà Nẵng chỉ dành cho người nước ngoài, lại đến khu phố dành riêng cho người Hoa ở Bình Dương, Hà Tĩnh v.v… nơi mà người Việt cũng không được bén mảng tới. Vậy trong tương lai, người Việt còn được sử dụng một phạm vi đất đai là bao nhiêu bởi vì biển, rừng, đô thị đều tràn ngập người Hoa ?

    Phố Tàu là khu vực riêng biệt của cộng đồng người Hoa, người Việt khó len chân vào. Phố Tàu ở Bình Dương mang tên “Trung Tâm Thương Mại Đông Đô Đại Phố”, trong đó có một trường Đại học quốc tế Miền Đông, một bịnh viện có cả 1,000 giường cho bệnh nhân, một khu vực ăn chơi, giải trí gồm: các sân vận động thể thao, sân golf, các cửa hiệu thương mại, các nhà hàng sang trọng v.v…

    Bọn Tàu sinh hoạt theo phong tục tập quán của họ và luật pháp Việt Nam Cs bị bỏ ra ngoài. Nhân viên công lực CSVN không được vào để kiểm tra cần thiết hay để kiểm soát an ninh khu vực. Ngay cả nghĩa địa người Hoa ở Việt Nam cũng là một khu vực riêng biệt bất khả xâm phạm. Vậy thử hỏi chủ quyền quốc gia của Việt Nam còn hay đã mất?

    Lê Duy San 10/ 6/2015
    nguon

  9. haiz00 says:


    sau 60 năm phản tỉnh

  10. Pingback: Báo Anh: Hồ Chí Minh là một trong những trùm diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20 « ghequaconloc

  11. Pingback: Trăm năm trồng người | Quảng Ngãi Nghĩa Thục

  12. Pingback: Trăm Năm Trồng Người – Thạch Đạt Lang | Thơ Quê Hương

  13. Pingback: Trăm năm trồng người – Thạch Đạt Lang | CHÂU XUÂN NGUYỄN

  14. Pingback: Vụ côn đồ mang vũ khí đến giáo xứ Thọ Hoà uy hiếp LM nói lên điều gì? | Thơ Quê Hương

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s