Chú ý : Việt Nam – Trung Hoa !

Một cách nhìn về lịch sử xung đột Việt-Hoa

Nhìn tổng thể về lịch sử loài người kể từ khi còn là những bộ lạc, người ta ghi nhận sự hình thành, phát triển hoặc tiêu vong của các cộng đồng dân cư (sắc tộc, bộ lạc, xã hội thành thị…), của nhiều định chế chính trị và quyền lực quân sự, như là các quốc gia, các đế quốc, và ngay cả của nhiều nền văn minh. Tất cả những diễn trình lịch sử đó đều tuân theo quy luật biến dịch, mà trong đó có quy luật thiên nhiên khắc nghiệt: “đấu tranh sinh tồn”, thể hiện qua hiện tượng di dân và đồng hóa (kể cả bị đồng hóa). Hiện tượng này đã liên miên xảy ra từ hàng vạn năm trước và sẽ còn xẩy ra bây giờ và sau này.

(Nhân Dân Xã Hội Chủ Nghĩa)
Thể chế cai trị tại Việt Nam
là Đảng lãnh đạo, người dân chỉ tuân theo.


Vậy nếu áp dụng cách nhìn hiện tượng học “Lịch sử xã hội loài người là lịch sử di dân và đồng hóa (và bị đồng hóa)”, thì có thể thấy rõ động lực của nhiều chu kỳ biến động lịch sử trên thế giới từ xưa đến nay. Cũng từ cách nhìn này, có thể tiên liệu được động thái của nước lớn đối với các nước lân bang nhỏ hơn,và nếu ứng dựng vào lịch sử xung đột Việt Hoa sẽ nhìn thấy được bản chất đảng cầm quyền CSVN ngày nay cùng các sách lược của nó về nội trị và ngoại giao, dựa vào điều kiện và lịch sử hình thành và phát triển của nó, qua đó đánh giá được các chính sách, chiến lược nó đã và đang thực hiện (kể từ 1929), cũng như tiên liệu được kế sách của đảng cầm quyền khi đối phó với thời thế, cùng những hệ lụy của nó đối với tương lai của đất nước VN và nhất là đối với sự tồn tại của dân tộc Việt.Cũng nên ghi nhận rằng, về bản chất (định nghĩa), thì:

– “Quốc Gia (hay Nước, Đất Nước)” chỉ là một Định chế chính trị (political institution) của một vùng lãnh thổ có dân cư; Định chế thì có tính ngắn hạn và dễ thay đổi, thí dụ: Nước Chiêm Thành đã tiêu tan, Quốc-gia Việt Nam Cộng Hòa nay đã không còn nữa (thay thế bằng Nước CHXHVN Việt Nam), Nước Mỹ (Hợp chủng Quốc Mỹ Châu) thì mới có mặt từ khoảng 400 năm nay.
– “Tổ Quốc” là một khái niệm tình cảm cộng đồng đối với khu vực địa lý mà một cộng đồng dân cư đã sinh sống qua nhiều thế hệ, thí dụ: người Việt ở Mỹ chỉ vài ba thế hệ nữa là đa số dù muốn hay không cũng sẽ không còn thiết tha đến đất nước Việt, mà sẽ chỉ còn biết Tổ Quốc mình, Đất nước mình là Mỹ Quốc.
– “Dân tộc” là một tập hợp sinh học thuần nhất của những cư dân sinh sống trong một vùng địa lý.
Dân tộc là thực thể tồn tại lâu dài hơn là những định chế và tình cảm cộng đồng, và cũng là yếu tố căn bản cho Quốc Gia hoặc một cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, sự hình thành một Quốc Gia ổn định lâu dài là điều kiện cần để hình thành và phát triển nền văn hóa và văn minh đặc trưng của một dân tộc hoặc cộng đồng dân cư.

Lịch sử và Khảo cổ học đã chứng minh nhiều dân tộc (sắc tộc, bộ lạc, quốc gia…) ở vùng Hoa Nam, lưu vực sông Dương Tử đã bị xâm lược và đồng hóa bởi những sắc dân Hoa Bắc (Hán tộc)- Những sắc tộc nào di dân được xuống Đông Nam Á thì tồn tại được đến ngày nay mà không (hoặc ít) bị đồng hóa, là nhờ địa thế hiểm trở, khí hậu nhiệt đới, và sức sống (dân khí) (*1) của dân tộc đó.

Khuynh hướng nam tiến là bắt buộc đối với người phương bắc (Bắc Á: Mông, Mãn, Hán …), vì không thể bắc tiến và tây tiến được, và cũng vì cần hướng phát triển ra biển và khai thác tài nguyên biển-
Người Việt cũng vậy, sau nhiều đợt di dân và quần cư ở đồng bằng sông Hồng, sông Mã, tạm yên được với Bắc phương vài ngàn năm nhờ vào địa hình biên giới hiểm trở, cũng phải nam tiến, thôn tính và đồng hóa Chiêm Thành, Chân Lạp (nửa nước Miên) (*2), chuẩn bị tây tiến và bắc tiến bằng con đường từ phía Đông Nam (nếu thôn tính xong Miên) để thôn tính Lào. Mộng gồm thâu Đông Dương (hoặc thành lập Liên bang Đông Dương) của người Việt vẫn được ôm ấp kể từ thời các vua chúa nhà Nguyễn, vì địa lý nước Việt rất bất lợi cho sự thống nhất, an ninh lãnh thổ và phát triển kinh tế, văn hóa: rặng Trường Sơn phía Tây làm cho miền Trung quá hẹp, rất dễ bị đứt khúc ở khoảng vĩ tuyến 16-18 như lịch sử đã từng chứng minh (Trịnh Nguyễn phân tranh từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, Hiệp Định Geneve tk 19). Địa lý các nước Miên, Lào cũng bất lợi không kém. Chỉ khi hình thành được “Liên bang Đông Dương”, mở rộng địa lý đất đai và dân số thì mới hy vọng chận đứng chiến tranh xâm lược của nước lân bang phía Bắc.
Khi Thực dân Pháp lập được ách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam (Hòa ước Giáp Tuất 15/3/1874), thì lục tỉnh miền tây nam bộ mới được nhập vào VN được khoảng năm mươi năm. Trước đó một chút, nếu VN canh tân kịp đồng thời với Nhật, thì nhiều phần chắc là cho tới ngày nay VN đã kiểm soát được cả Thái Lan, Miến Điện, và trở thành mối đe dọa lớn đối với Tàu, vì biết chừng đâu sẽ có đủ thế lực để đòi lại đất cũ là Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam, thực hiện được hoài bão của vị vua anh hùng Quang Trung. (Nhưng cũng chưa biết chừng, khi gồm thâu được đất cũ, người Việt lại bị Hán hóa giống như dân Mông, Mãn, vì dân số Việt ít hơn, và văn hóa đặc trưng cũng không cao hơn, mạnh hơn….)

Nhìn chung, luật thiên nhiên chung cuộc vẫn là cạnh tranh và sinh tồn. Chủng tộc nào đoàn kết, mạnh, khôn ngoan, sanh đẻ nhiều, chấp nhận mạo hiểm, chấp nhận di dân và lai giống thì sẽ ưu thế hơn các chủng người khác. Mông cổ, Mãn Thanh về quân sự mạnh hơn Hán, nhưng cũng bị Hán hóa vì dân số Hán đông hơn và văn hóa cao hơn, hơn nữa, còn tự nguyện bị đồng hóa, vì dân Mông, Mãn vẫn thán phục, ưa chuộng văn hóa Hán tộc; Tiến trình đồng hóa với địa phương của dân du mục Bắc Á (Mông, Mãn … ) đã xảy ra từ cả vạn năm nay, cho nên nếu xét về gene, thì nhiều dân tộc đã có lai gene Mông Cổ mà không biết (Việt, Hàn, Thái, Nhật, và một số vùng bên Ấn, Hồi, Nga v…v.). Xem ra, diễn trình di dân và lai giống đối với loài người là không thể đảo ngược. Thời Hoa Kỳ lập quốc, những di dân từ Âu Châu qua đã xóa sổ hàng triệu người bản xứ, nhưng ngày nay, sự hình thành và phát triển nước Mỹ Hợp Chủng trên cơ sở các định chế dân chủ sẽ là mô hình thích hợp nhất cho diễn trình này một cách nhân bản, khác hẳn với sự hình thành các đế quốc kiểu phong kiến, thực dân cũ và mới, hoặc phát xít và cộng sản.

Xuyên suốt lịch sử, người Tàu từ Hoa Nam di dân liên tục vào VN và các nước Đông Nam Á từ rất lâu trước cả thời phong kiến bắc thuộc, hoặc vì tha phương cầu thực, hoặc tìm không gian sinh tồn hoặc qua chiến tranh xâm lược (*3), hoặc là hệ lụy các biến động chính trị cận đại, td. Thiên Địa Hội phản Thanh phục Minh, biến cố chiến tranh như Thế chiến 2 (Giải giáp phát xít Nhật). Khi họ vào ít, và không kèm tổ chức chính trị bang hội thì họ bị Việt đồng hóa, td: người Tiều (Triều Châu: Minh Hương) ở miền Trung, lục tỉnh miền Tây và Rạch Giá …, nhưng nếu họ vào nhiều và có tổ chức bang hội, thì họ thành lập khu vực riêng có tiềm năng trở thành khu tự trị (td: Chợ Lớn) (*4), nếu họ tổ chức được chính quyền thì họ tách ra làm quốc gia riêng: Singapore, Đài Loan …, không chịu tùng phục chánh quốc nữa, giống như thời xa xưa An Dương Vương xâm lăng đánh thắng Vua Hùng, và rồi Triệu Đà (207-137BC) sau khi thắng An Dương Vương vậy (*5)

Người Tàu cũng như người Việt, có đầu óc phong kiến, có mộng làm vua một cõi, đồng thời cũng có thói thần phục kẻ mạnh, là kẻ có tài gồm thâu thiên hạ. Thời xưa (trên 3000 năm trước) vốn không có nước Tàu (Trung Hoa), vùng đất đai rộng lớn đó là nơi sinh sống của rất nhiều sắc dân của hàng trăm nước lớn nhỏ, kể cả rất nhiều bộ lạc vùng rừng núi xa xôi, họ luôn luôn đánh nhau để thôn tính thêm đât đai và nô lệ (thời Xuân Thu, Chiến Quôc), chỉ sau thời Đông Chu liệt quốc, Tần Thủy Hoàng thôn tính xong 6 nước cuối cùng, nước Tàu mới thống nhứt, gọi là Trung Hoa. Nên biết nước Tần của Tần Thủy Hoàng thời Đông Chu trở về trước vốn là một sắc dân ở tây bắc nước Tàu, là giống dân lai giữa Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kỳ (Ulghur: Thổ Phồn, Hồi Hột), tạo nên người Hoa Bắc, vốn gốc du mục nên rất thiện chiến và hung bạo (*6)- Như vậy nước Tàu hình thành do chiến tranh xâm lược. Lịch sử hình thành nước Tàu là lịch sử xâm lăng và đồng hóa bằng bạo lực chiến tranh. Khi Tàu mạnh cũng vậy, mà khi Tàu yếu, lại càng cần tìm thế chính thống hoặc đánh lạc hướng những bất mãn và khủng hoảng nội bộ bằng cách gây chiến với các lân bang nhỏ yếu.

Trên thế giới từ xưa tới nay, sự kiện các nước tìm cách ảnh hưởng khống chế lẫn nhau là điều không thể không xảy ra, cũng như sự kiện các nước lớn tìm cách can thiệp, khống chế hoặc xâm lăng các nước nhỏ bằng quân sự, kinh tế, hoặc chính trị (qua sự thành lập và yểm trợ các thế lực chống đối trong nước) để thôn tính đất đai, bóc lột tài nguyên và lao động, hoặc đặt căn cứ quân sự … cũng là không thể tránh được. Những lời tuyên bố hữu nghị chỉ là bề ngoài, chỉ là thủ thuật chính trị. Chỉ khi nào có được dân khí cường thịnh, đoàn kết một lòng để xây dựng một nền kinh tế phát triển (như Nhật, Hàn) đồng thời có chánh sách ngoại giao và liên minh khôn khéo (như Thái, Phi luật Tân, Miên…), thì mới tạo nên một thực lực làm cho nước ngoài phải kiêng nể, mới giữ được độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ, hạn chế hoặc khống chế được các can thiệp từ nước ngoài. Tiếc thay, điều này dường như đã và đang không thực hiện được ở Việt Nam.

Vậy sẽ có phần thiếu sót cho cả 2 phe người Việt (Quốc, Cộng…) và các bình luận gia khi gọi cuộc chiến ở Việt Nam 1954-1975 là chiến tranh Ý- thức- hệ (quốc cộng, giai cấp … ), hoặc giải phóng (chống Mỹ cứu nước). Ngay cả chiến tranh giải thực trước 1954 cũng đã bị Tàu, kể cả Trung Hoa Dân Quốc (*7), lợi dụng chiêu bài đồng minh, đồng chí, hữu nghị, cố vấn vv…, ngoài mặt là giúp đỡ, nhưng bề trong là để thâm nhập sâu, tạo quyền lực mềm, tiêu diệt mầm mống đối lập gồm cả những nhà ái quốc có tư tưởng dân tộc độc lập, tạo ảnh hưởng văn hóa (Hủy diệt văn hóa địa phương, truyền bá văn hóa phong kiến khuyển nho, hoặc chủ nghĩa Cộng Sản…), ảnh hưởng quân sự (qua các lớp đào tạo sĩ quan, quân nhân, chuyên viên), cài thế lực chính trị (cài đạt, mua chuộc, dung dưỡng những nhân vật thân Tàu hoặc không có tinh thần dân tộc vững chắc vào các cấp chính quyền). Tàu không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để dùng ảnh hưởng vô cùng lớn của mình để thực hiện kế sách “Tằm ăn dâu”, không chỉ trong những thời kỳ có chiến tranh, mà cả trong những thời kỳ có vẻ thân thiện hữu nghị Tàu vẫn dùng mọi cách để làm yếu thế lực Việt, băng hoại tinh thần dân tộc Việt, văn hóa Việt, và cả cơ cấu tổ chức xã hội Việt, tạo điều kiện để xâm lăng như họ đã từng làm trong suốt chiều dài lịch sử.

Ví dụ : Cuộc Cải Cách Ruộng Đất đẫm máu để thực hiện đấu tranh giai cấp cuồng tín kiểu Mao-ít, vụ án Nhân Văn giai phẩm rập khuôn theo chiến dịch Trăm Hoa đua nở của Tàu (Bách gia tề phóng, bách hoa tề khai)…. không thể không xảy ra vì nó nằm trong sách lược lâu dài, trong âm mưu thôn tính VN của Tàu (cộng với sự phục tùng của các lãnh tụ CS Việt). Thực chất là chỉ mượn màu đấu tranh giai cấp để che mắt mọi người, nhằm che dấu dã tâm chính là = tiêu diệt sớm những người có tinh thần dân tộc trong hàng ngũ Việt Minh, họ là những tinh hoa của dân tộc Việt, họ đều có học, đều xuất thân từ những gia đình khá giả hoặc tương đối khá giả (do đó dễ bị quy kết vào giai cấp phi vô sản), vì lý tưởng chống thực dân để giải phóng dân tộc, họ đã hết lòng chiến đấu dưới lá cờ Việt Minh do chủ nghĩa yêu nước, họ có uy tín trong dân rất cao sau nhiều chiến thắng quân sự (dĩ nhiên là với sự giúp đỡ có hậu ý của CS Tàu). Nếu những người này không bị tàn sát, thì sau này họ chắc chắn sẽ là những đảng viên cao cấp, những nhà lãnh đạo chính trị quân sự có tài và có tinh thần dân tộc, sẵn sàng bảo vệ tổ quốc trước dã tâm xâm lược của bọn bành trướng bá quyền Đại Hán- Rõ ràng là đối với kế sách xâm lược tằm ăn dâu của Tàu thì cần phải triệt sớm những lãnh tụ tương lai này, có vậy thì về lâu về dài Tàu mới nắm chắc được đảng cầm quyền CSVN để thực hiện những bước thôn tính kế tiếp.
Do vậy, phải nhìn thấy cuộc CCRĐ không phải là do sư sai lầm của các lãnh tụ CSVN hoặc sự ngu muội của cấp thừa hành, mà là sự cài đặt sắp xếp có bài bản và áp lực cực lớn của Tàu (có cả 1 đoàn cố vấn Tầu, đặc trách về CCRĐ bên cạnh Bộ chính trị Đảng CSVN lúc đó) (*8).
Không nhìn thấy rằng dã tâm cực kỳ thâm độc này của Tàu nếu được thực hiện sẽ ảnh hưởng sâu xa lâu dài thế nào đối với vận mệnh dân tộc và đất nước, thì thì quả là các lãnh tụ CSVN quá ngây thơ, không xứng đáng là nhà lãnh tụ, và vẫn phải chịu trách nhiệm với lịch sử, với nhân dân.
Nhưng nếu đã nhìn thấy dã tâm muôn thuở này của Tàu mà vẫn đang tâm nhắm mắt tàn sát đồng chí , đồng đội, đồng bào thì phải gọi là gì đây? Chính danh thì phải gọi đó là tay sai cho giặc, là bọn phản quốc, là bán nước, là có nợ máu với nhân dân-
Chỉ cần nhìn lại lịch sử và suy nghĩ về cuộc CCRD tắm máu mà bề ngoài thì xem ra vô lý này cũng đủ để thấy sự thật về bản chất của tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN ngay từ 1956, thế mà tới nay đã hơn nửa thế kỷ vẫn còn quá nhiều người còn hoang mang, vẫn bị tuyên truyền và khẩu hiệu lừa bịp, vẫn bị tiếp tục lừa gạt, vẫn tôn sùng những bàn tay nhuộm đầy máu đồng chí, đồng đội, những bàn tay đã và sắp đẩy muôn triêu đồng bào vào cái chết để thực hiện dã tâm diệt chủng và xâm lược của Tàu. Nếu cứ tiếp tục ngây thơ như thế này mãi thì thế nào cũng phải bị mất nước vào tay Tàu-

Vụ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968 mà lực lượng chính là quân đội miền Bắc xâm nhập, đã thất bại về mặt quân sự (*9 ), nhưng mục tiêu bề trong thâm sâu của chiến dịch đó chính là nhằm tiêu diệt những người chiến đấu chống chính quyền miền Nam (VNCH) vì lý tưởng dân tộc chủ nghĩa (tin rằng Mỹ xâm lăng VN như kiểu Tây thực dân), do đó đã phá nát lực lượng quân sự hậu thuẫn cho phe MTGP miền Nam. Miền Bắc đã thành công trong mục tiêu đó, vì đã mượn tay lực lượng VNCH miền Nam để làm triệt tiêu trên 70% lực lượng chiến đấu cũa MT Giải Phóng Miền Nam. Nhờ đó sau 1975, miền Bắc có thể áp đặt quyền lực chính trị và mô hình kinh tế giáo điều XHCN trên toàn miền Nam mà không bị phe miền Nam chống đối, cho dù kinh tế XHCN làm cho miền Nam phá sản, sắp chết đói.

Cũng như các vua chúa nhà Nguyễn với đầu óc phục Tàu, sợ Tàu đã làm cho Việt Nam mất cơ hội hiện đại hóa như nước Nhật cùng thời, đầu óc của những người lãnh đạo CSVN từ xưa tới nay cũng là phục Tàu, sợ Tàu, chắc không mấy người thấy được sự hiểm độc của Chủ Nghĩa CS đối với sự tồn tại của Quốc gia và dân tộc VN. Mặc dù trong Đảng CSVN cũng có người thấy được bản chất bành trướng bá quyền Đại Hán và dã tâm xâm lược của lãnh đạo CS Tàu (phe Lê Duẩn sau 1975), và tìm cách chống trả, nhưng khổ thay, do bị ngộ độc tư tưởng bởi nọc độc Chủ Nghĩa CS (*10), nên sau khi chiếm được miền nam, liền áp dụng chính sách kỳ thị chánh trị đối với người miền nam, nhất là đối với những cựu quân nhân viên chức của phe thua trận, gây nên chia rẽ dân tộc. Đồng thời vẫn giáo điều áp đặt kinh tế XHCN vào miền Nam VN làm cho nền kinh tế đang lên này bị bức tử, phá sản, tức là vẫn trúng kế của kẻ thù phương Bắc (chia rẽ dân tộc, phá hoại sinh lực kinh tế…), đồng thời chiến lược chống đối với Tàu mà dựa vào độc nhất có một nước đồng minh duy nhất theo XHCN còn lại là Liên Xô như trước đây, là 1 nước cờ bấp bênh (nước xa không cứu được lửa gần), và đã thất bại, khiến cho sự tồn vong của VN càng ở vào cái thế nguy hiểm hơn, vừa mất thêm đất đai (sau khi thua cuộc chiến biên giới Việt-Hoa 1979 và 1983), vừa lệ thuộc Tàu nặng nề thêm về mặt chính trị. Điều này gây hậu quả tai hại nghiêm trọng cho tiềm lực nước Việt, và chứng tỏ bản lãnh chính trị kém cỏi của lãnh đạo Đảng CSVN, ít ra là vào thời điểm quan trọng đó- Thử nghĩ xem, nước Mỹ sau cuộc Nội chiến Nam Bắc tàn khốc không thua gì ở Việt Nam, phe thắng trận miền Bắc nếu cũng cư xử với phe thua trận miền Nam như ở VN sau năm 1975, thì đâu có được 1 nước Mỹ hùng mạnh như ngày nay ?

Nga (Liên xô) vốn âm mưu dùng Chủ Nghĩa CS để thôn tính thế giới, kể cả Tàu, dưới chiêu bài Thế Giới Đại Đồng, nhưng Tàu to quá, Nga nuốt không nổi- Sau này kinh tế kiểu XHCN thất bại, nên Nga Xô Viết xụp đổ, không giữ được những nước nhỏ mới thôn tính được sau thế chiến II – Nhưng Tàu dùng CNCS làm bình phong thì dù thất bại về kinh tế (khi chưa đổi mới theo kiểu tư bản), vẫn có thể thôn tính được các nước Đông Dương, vì kinh tế XHCN nếu làm cho Tàu yếu một, thì sẽ làm cho các nước nhỏ bị yếu 10 lần hơn, đảng cầm quyền do bị cô lập với thế giới tư bản, sẽ phải càng phải lệ thuộc vào đàn anh để có chỗ dựa chính trị, hầu giữ vững quyền lực và quyền lợi-

Rốt cuộc các diễn biến ở VN từ 1927 dường như đều thuận lợi cho sách lược nam tiến ngàn năm không ngưng nghỉ của Tàu. Nghĩ cho cùng, về thực chất sâu xa lịch sử Việt-Tàu từ xưa đến nay toàn là Tàu đánh Việt, toàn là Tàu giấu mặt trá hình, dùng mọi thủ đoạn thâm độc tìm cách làm cho Việt đánh lẫn nhau mà suy yếu đi để dễ nuốt, dân mình Bắc Nam đều chỉ là nạn nhân, các lãnh tụ CSVN hoặc không biết, hoặc bị sai khiến, cũng chỉ là con cờ trong bàn tay phù thủy mà thôi.
Có một điều đáng tiếc, là ở miền Nam VN sau 1954, nếu ông Ngô Đình Diệm có tư tưởng cởi mở hơn, thì đã có thể kéo dài Đệ nhất Cộng Hòa thêm một thời gian đủ để xây dựng được tiềm lực vững mạnh dựa vào sự đoàn kết các đảng phái, tôn giáo và ủng hộ sâu rộng của quần chúng để tạo sức mạnh chống lại sự thao túng của Mỹ và thủ đoạn tuyên truyền của CS, giống như Lý Thừa Vãn, Phác Chính Hi cùa Đại Hàn, Lý Quang Diệu của Singapore cùng thời. Vậy thất bại của ông NĐD phát xuất từ tư tưởng cổ hủ của ông- Xuất thân từ một gia tộc quan lại, bản thân vốn cũng là một đại quan của Vua Bảo Đại, ông cũng như các anh em của ông đã không thể thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Tống Nho lỗi thời của phong kiến Tàu. Chính đầu óc phong kiến nặng nề đó đã làm cho một lãnh tụ yêu nước như ông Diệm, sau khi lên làm Tổng Thống của nền Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, không những không phát triển được mối quan hệ hợp tác với các đảng phái QG và các lực lượng chống cộng khác (Cao Đài, Hòa Hảo …) để xây dựng nền dân chủ pháp trị, mà lại còn bị ảnh hưởng của bọn xu nịnh, trở thành chế độ gia đình trị kiểu hoàng thân quốc thích, đưa chế độ vào tình trạng xa rời quần chúng, tạo điều kiện cho địch (kể cả Mỹ) tuyên truyền phá hoại, và như thế là đưa nền cộng hòa còn quá non trẻ đến chỗ sụp đổ quá sớm, không đủ thời gian để xây dựng một hệ thống chính trị và quân sự hoàn toàn mới cho phe Quốc Gia (không còn tàn dư của thời Pháp thuộc qua sự lưu dụng những công chức và sĩ quan cao cấp được Pháp đào tạo). Vậy là lại mất đi thêm một cơ hội để phục hưng sức mạnh Việt tộc chống lại âm mưu xâm lược của Tàu.

Chúng ta nay đã đều biết ai đứng đàng sau Mặt trận Việt Minh (trước 1954) và MT Giải Phóng Miền Nam (trước 1975) để giựt giây? chính là đảng CSVN, con đẻ của Quốc Tế III (Nga Xô), tay sai của đảng CS Trung Hoa. Từ lâu, CS Tàu muốn và đã dùng chủ nghĩa CS đễ thôn tính các nước Đông Dương, mở rộng biên cương xuống phía Nam để làm chủ biển Thái Bình và cả vùng Đông Á. Trong ý đồ đó, miếng xương khó nuốt nhất vẫn là một nước VN thống nhất và hùng mạnh.
Từ 3000 năm nay Tàu thất bại hoặc rất khó khăn khi muốn xâm lăng và đồng hoá VN vì ý chí dân tộc VN còn mạnh, may quá, nay Tàu vớ được Chủ Nghĩa Cộng Sản, dùng ngay mục tiêu hoang tưởng là “Đấu tranh giai cấp để tiến đến Thế Giới Đại Đồng”, tạo ra một thứ chính nghĩa ảo, kiểu “Thiên Đàng hạ giới”, lừa gạt những người cùng khổ, nhẹ dạ, cả tin, hoặc kém suy luận, kém tinh thần dân tộc để che đậy ý đồ xâm lược (của Tàu) và âm mưu bán nước (của thành phần tay sai, thân Tàu trong Đảng CSVN)-

Chiến tranh giải thực ở VN vốn không cần đổ máu nhiều đến thế (do phe phái đánh lẫn nhau, thanh toán nội bộ, đánh thí quân kiểu tấn công biển người….), nhưng với âm mưu làm yếu Việt, Tàu đã xúi dục, cổ võ, yểm trợ cho chiến tranh và phân hóa. Nhìn bề ngoài, thì giống như người Việt chống Pháp, Việt Minh đánh Việt Gian … nhưng thực ra là Hán tộc (Tàu) đánh Việt tộc bằng cách dùng ngay người Việt (Việt Minh) đánh người Việt (các đảng phái Quốc Gia, hoặc phe thân Pháp …). Lực lượng Việt tộc (chính quyền Quốc Gia, các đảng phái Quốc Gia, các tôn giáo…) biết rõ sự phụ thuộc vào Cộng Sản Tàu, Nga của các lãnh tụ Việt Minh, nhưng vì không có chỗ dựa nên đành phải dựa vào Pháp để chống Cộng, mà do Pháp thua, phải ký HĐ Geneve, nên phải cùng chạy xuống miền Nam qua Vĩ tuyến 17-
Sau đó, Tàu lại tiếp tục xúi Việt đánh Việt bằng chủ nghĩa CS và yểm trợ ồ ạt về quân sự cho Mặt Trận GPMN do CS miền Bắc dựng lên, đưa quân Tàu giả dạng Việt vào miền Bắc để miền Bắc có thể xua toàn lực thanh niên Bắc Việt vào quân Giải Phóng xâm nhập miền Nam (sinh Bắc tử Nam) (*11), một công 2 việc, vừa gây chiến tranh huynh đệ tương tàn làm suy yếu dân Việt, vừa lan tràn ảnh hưởng xuống Đông Nam Á-
Như vậy, sau 1975, mặc dù bề ngoài trông giống như phe Xã Hội CN thắng phe Tư Bản, phe Bắc Việt thắng phe Nam Việt, hoặc là Giải Phóng Miền Nam thắng Mỹ … nhưng thực ra vẫn là Tàu thắng Việt, vì Tàu đã thành công trong âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, làm cho 2 miền đều kiệt quệ, chết người, hại của.

Nhớ lại, sau khi dàn xếp thỏa hiệp được với Tàu để dồn nỗ lực làm suy yếu Nga, Mỹ phản bội đồng minh, bỏ rơi VNCH, làm ngơ cho Tàu chiếm đoạt Hoàng sa của VN, cắt hết quân viện làm cho miền Nam thất trận 1974 (*12 ) – Sau đó miền Bắc xé bỏ thỏa thuận trước đây với MTGPMN (giữ miền Nam trung lập trong 2 năm rồi mới hiệp thương thống nhất 2 miền), Đảng CSVN áp đặt ngay chế độ độc tài đảng trị, chính sách kỳ thị chính trị và nền kinh tế giáo điều XHCN trên cả nước bằng cách cào bằng lực lượng sản xuất miền nam với các chiến dịch đánh Tư sản và đổi tiền (thực chất là cướp tài sản), cô lập hoặc xua đuổi những người có tinh thần dân tộc, kể cả các lãnh tụ của phe Miền Nam (Mặt Trận GPMN). Một số lớn nhân lực (vài trăm ngàn thanh niên trẻ và chuyên gia các ngành nghề quân sự, dân sự, khoa học kỹ thuật….) có tiềm năng chống Tàu hoặc xây dựng kinh tế rất lớn bị lừa vào các trại cải tạo, thực chất là các trại tù. Một số lớn dân chúng có tiềm năng xây dựng nền công nghiệp và kinh tế thị trường bị cưỡng bức đi khai khẩn vùng hoang vu (gọi là vùng kinh tế mới), bị chết chóc và đàn áp dữ dội. (*13)
Sự kỳ thị chính trị một cách quá khích và nền quản trị quá kém cỏi đã làm Kinh tế cả nước phá sản, tinh thần người dân bị suy sụp, người dân bị đẩy đến chỗ cùng quẫn đến nỗi phải vượt biển ra nước ngoài cả triệu người, là một con số rời bỏ quê hương đất nước rất lớn chưa từng có trong trong lịch sử VN- Cả triệu người, đại đa số là dân thường, kể cả dân miền Bắc (nhất là từ Hải Phòng) phải liều lĩnh chạy ra khơi bỏ quê hương mà ra đi về nơi xứ lạ quê người, bất kể chết chóc và cướp biển (khoảng 1/3 vùi thây trong biển cả), điều đó nói lên được sự cùng quẫn thất vọng của người dân đối với nền cai trị ở VN, đó thật sự là 1 sự mất máu (bleeding) rất lớn cho phe Việt tộc, cho lực lượng dân tộc chống xâm lăng về lâu về dài. Và như vậy là đã trúng thâm ý Tàu: là chia rẽ, phá hoại đoàn kết dân tộc, phá hoại tiềm lực kinh tế …Tàu còn xúi dục, yểm trọ Kmer Đỏ tàn sát người Việt và tấn công biên giới tây nam để khích VN phải xua quân qua Kam pu Chia, tốn người, hại của, mất uy tín đối với quôc tế. Vậy mà Tàu vẫn giả đò tức giận, lấy lý do VN xâm lăng Kam pu Chia, xua quân tấn công biên giới phía bắc, rõ ràng là ném đá dấu tay rồi lại thừa cơ để mượn cớ xâm lăng, cũng giống như trong lịch sử, Tàu luôn luôn nhân cơ hội nước ta suy yếu hoặc nội loạn để mà mượn cớ xâm lăng.
Cũng phải ghi nhận rằng cuộc tàn sát của Kmer Đỏ làm chết gần 2 triệu người Miên (21% dân số ) về bản chất cũng là 1 cuộc “cải cách” còn triệt để và đẫm máu hơn là Cải Cách Ruộng Đất ở VN, vốn là đòn độc hiểm của Tàu (Kmer đỏ là Mao-ít, rất tôn sùng Mao Trạch Đông) (*14), dùng người Miên giết người Miên để khống chế người Miên về lâu về dài, dùng Kmer Đỏ để răn đe, phá hoại Việt, giống như Tầu đang kề 1 lưỡi dao sẵn sang để đâm ngang hông Việt. Thảm họa diệt tộc của dân Miên trực tiếp là qua bàn tay Kmer đỏ, nhưng chính CSVN đã đưa Pon Pot, Iêng Sary và Kmer đỏ về Miên và giúp chúng lật đổ chế độ Lon Nol (15*). Do vậy, đây cũng đồng thời là âm mưu của Đảng CSVN, dùng Kmer đỏ để làm yếu dân Miên hầu thực hiện mộng Liên Bang Đông Dương.

Tóm lại Tàu muốn nuốt VN và Đông Nam Á thì đã phải chuẩn bị tình huống “tằm ăn dâu” (nuốt từ từ). Sau khi đã chuẩn bị từ năm 1927 với tay sai là Hồ chí Minh và Đảng CSVN, đến nay Tàu đã chiếm được các cao điểm quân sự ở biên giới phía Bắc (Ải Nam Quan, Đồi Lão Sơn …), làm chủ vùng biển VN, đóng quân trên Tây nguyên, lật đổ ảnh hưởng của VN tại Lào và Campuchia (16* ), bao vây VN trên bộ và ngoài biển, gài người nắm các chức vụ then chốt trong Bộ Chính trị CSVN và guồng máy an ninh & quốc phòng VN, tiêu diệt các lực lượng dân tộc, triệt hạ ý chí dân tộc, phá hoại kinh tế, văn hóa và xã hội VN thông qua nhà cầm quyền tay sai khiếp nhược (hèn với giặc, ác với dân), không bao Tàu sẽ có thể nuốt được miền Bắc, thành lập chính phủ tay sai (như Bắc Hàn).

Dĩ nhiên là trong khối quần chúng đông đảo, kể cả trong lực lượng vũ trang, nhất là quân đội, cũng còn nhiều người yêu nước, có tinh thần dân tộc mạnh, họ không thể chịu đựng được nỗi nhục mất nước, làm tay sai, làm nô lệ cho Tàu, họ sẽ tập họp lại thành thế lực chống đối đủ mạnh. Và vì mất chính nghĩa, chánh phủ tay sai của Tàu cũng sẽ bị suy yếu và chia rẽ, rốt cuộc VN sẽ lại bị tách ra làm 2 như tình thế trước 1954, phe chống Tàu sẽ rút về miền Nam, đảng Cộng Sản VN sẽ phải sụp đổ, vì đến lúc này con cờ “Đảng CS” hoặc “XHCN” sẽ hoàn toàn mất hiệu quả, trở thành lạc hậu và phản động, lúc đó là lúc sẽ nhiều nhân vật hoặc đảng chính trị với danh nghĩa phục quốc, chống cộng … xuất hiện để tranh chấp chính quyền miền Nam- Như vậy thì bàn cờ sẽ có tiềm năng quay lại cái thế tương tự thời 1945 với các đảng phái quốc gia và mặt trận Việt Minh, rồi thì sẽ tới thế cờ sau 1954 với Mặt Trận Giải phóng miền Nam- Mặc dù lịch sử diễn biến, nhưng đại thể vẫn sẽ là bổn cũ soạn lại. Do đó, những bàn tay lông lá cũ đã, đang và sẽ chuẩn bị những lá bài mới cho giai đoạn mới (từ 1975). Một cuộc “giải phóng miền Nam” nữa sẽ có thể lại được dàn dựng để gạn lọc cho hết những thành phần còn ý thức mạnh về độc lập dân tộc… cho đến khi toàn thể Đông Á trở thành Tàu hoặc phiên bang của Tàu.

Còn Mỹ thì sao? nếu VN mất vào tay Tàu thì Mỹ cũng đâu có thiệt gì đâu? Chiến lược lâu dài của Mỹ là giữ vững thế siêu cường số một- Chiến lược cốt lõi của Mỹ vẫn là bảo vệ và phát triển lợi nhuận các đại công ty tài phiệt và công kỹ nghệ- Đối với Mỹ, quyền lợi là trên hết, cho nên Mỹ vốn là cần Tàu hơn là cần VN. Thông qua nhà cầm quyền độc tài đảng trị CS Tàu, Mỹ không cần xâm lăng đất đai của Tàu cũng vẫn bóc lột được 1 tỷ rưỡi người Tàu-
Mỹ cũng chẳng sợ gì Tàu, nhưng sẽ không gây chiến để tiêu diệt Tàu, vì không có lợi- Mỹ đã thắng Nga thế nào thì cũng sẽ tính là về lâu dài sẽ thắng Tàu bằng cách tương tự, Mỹ sẽ làm Tàu phải phình to ra và tự nổ thành nhiều mảnh, y như Nga Xô Viết vậy, dù biết trước mà vẫn không tránh được…. Từ nay cho tới lúc đó, thì nếu Tàu mà ra mặt đụng độ với Mỹ, Mỹ chỉ cần xù nợ hoặc không mua hàng là Tàu sẽ gặp khó khăn rất lớn, có thể có nội loạn ngay nếu cả trăm triệu người thất nghiệp do cấm vận…. Dĩ nhiên Mỹ cũng sẽ gặp khó khăn kinh tế, vì đã có phần nào phụ thuộc vào hàng hóa rẻ tiền nhập từ Tàu. Vậy thì Mỹ cũng sẽ thỏa hiệp với Tàu để chia đôi VN giống như nước Cao ly (Hàn quốc)- Thế cờ xa sắp tới là cả 2 đều chuẩn bị thử sức nhau lâu dài ở miền Nam VN, ở biển Đông. Bọn họ đã và đang chuẩn bị rồi đó, vận mệnh dân ta nay rất là mong manh, nếu dân khí đã tuyệt, thì chỉ còn phú cho ông Trời thôi…. và nếu không phục hưng lên kịp, VN sẽ vẫn chỉ là 1 quân cờ, và vẫn còn là nơi chiến trường trắc nghiệm-

Sau 80 năm thuộc Pháp, với chính sách bóc lột kinh tế, chia để trị về chính trị (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ với 3 chế độ cai trị khác nhau), Thực dân Pháp đã làm cho VN khá kiệt quệ và chia rẽ. Đến khi Mao nhờ viện trợ của CS Nga, đánh thắng Tưởng, nắm được chính quyền, thì Mao khởi đầu chiến lược thôn tính Đông Dương – Nếu Tưởng thắng, thì cũng sẽ làm y như vậy- Tàu nào cũng giống nhau- Sẽ rất là lạ nếu thực tế lịch sử lại không xảy ra như vậy- Mộng Đại Hán nằm sẵn trong đầu bất cứ anh Tàu nào- Do đó, dĩ nhiên là CS Tàu phải điều khiển cho được cuộc chiến Đông Dương theo sách lược đó. Vậy thì chiến tranh quốc cộng ở VN kể cả trận Điên Biên Phủ, và tất cả các chính sách kinh tế chính trị của CSVN kể cả cuộc Cải cách ruộng đất đẫm máu đều nằm trong âm mưu do Tàu xếp đặt để làm suy kiệt Việt Nam mọi mặt, nhất là về kinh tế (do chiến tranh tàn phá liên miên, và kinh tế kiểu XHCN phá sản), về văn hóa xã hội và tinh thần dân tộc (ý thức về nền độc lập dân tộc bị phá sản để xây dựng Thế giới đại đồng CSCN), đạo đức xã hội bị băng hoại, thế hệ trẻ bị đầu độc, ý chí đấu tranh bị mất định hướng, bị đàn áp hung bạo đến tê liệt và suy kiệt. Người dân sẽ chỉ còn biết an thân thủ phận lo sinh kế hoặc tranh nhau hưởng thụ nếu có điều kiện.

Một khi ý chí đấu tranh suy kiệt, tinh thần dân tộc sẽ bị lụn bại (dân khí tuyệt) sẽ rơi vào cái thế buộc phải lệ thuộc ngoại bang, đưa tới mất nước và bị đồng hoá y như dân Chiêm Thành và Chân Lạp trước đây vậy. Dân ta ở VN sẽ thành ra người Tàu gốc Việt, giống như Việt kiều chúng ta thua chạy ra nước ngoài thôi, chỉ vài ba thế hệ sau là thành Mỹ gốc Việt, Tây gốc Việt, đều thành con lai hết…. Rốt cuộc đó cũng là thể hiện quy luật vận động của lịch sử loài người: Di Dân và Đồng Hoá…….
Nguy cơ trở thành người Tàu gốc Việt hiện nay là rất lớn, nếu không huy động được toàn lực nhân dân trong nước, cộng thêm yểm trợ của các nước lân bang, thì ít nhất sẽ mất miền Bắc (nếu không để bị mất Tây Nguyên). Một bộ phận dân Việt nếu tiếp tục chạy thoát được sang các nước khác hoặc các nước Âu Mỹ, thì cũng sẽ là di dân, và vài thế hệ nữa thì cũng bị lai giống hoặc đồng hóa, không còn nói được tiếng Việt nữa.

Sự tồn tại của Việt tộc luôn luôn bị đe dọa bởi chủ nghĩa bá quyền Đại Hán. Ngày nay còn bị đồng thời đầu độc bởi Chủ Nghĩa Cộng Sản. Hậu quả là sức sống của dân tộc bị mòn mỏi cùng cực- Nếu không lật đổ được CNCS và bọn tay sai thân Tầu, thì cơ may tồn tại là rất ít. Trừ phi Tàu bị Mỹ “triệt buộc”, phải phình to, và tự nổ sớm, thì may ra đất nước ta và dân ta lại tồn tại được lâu lâu hơn chút nữa… mong thay !!!

Phạm Dzũng

———————————–

Ghi chú:

(*1) Dân khí: Nói như cụ Phan Chu Trinh, phải chấn hưng dân khí trước nhất: “Chấn dân khí, hưng dân trí, hựu dân sinh… ”- Dân Nhật định cư ở vùng hải đảo nghèo nàn tài nguyên mà vẫn trở thành Đại cường- Dân Do Thái trải qua vài ngàn năm bị mất nước và bị Đức QX tàn sát, nay tụ lại chỉ có chưa đầy 8 triệu người mà cũng là 1 cường quốc khoa học kỹ thuật (nhiều Nobel khoa học nhất thế giới) và quân sự (đánh thắng liên minh 9 nước Ả Rập chỉ trong 6 ngày)- Nước Hàn cũng bị chia đôi, miền Bắc nghèo đói, nhưng miền Nam đã trở thành cường quốc kinh tế cạnh tranh được với Nhật… là do yếu tố nào? Phải chăng là “dân khí” họ cường mãnh hơn dân Việt mình khi họ đoàn kết một lòng trong chiến tranh giữ nước, trong nỗ lực tăng gia sản xuất xây dựng kinh tế, đứng lên chống lại độc tài quân phiệt để xây dựng nền dân chủ pháp trị ?-
Ý thức vững vàng của thành phần ưu tú lãnh đạo một cộng đồng(hoặc Quốc gia) về sức mạnh của sự đoàn kết toàn dân cũng là đặc điểm của dân khí cường mãnh, thí dụ:1/-Ở nước ta,với Hội Nghị Diên Hồng, vua với dân đồng lòng chống quân Mông Cổ. Thời vua Quang Trung đem quân ra Bắc 2 lần để phù Lê diệt Trịnh và sau đó đại phá quân Thanh, quân miền nam không tàn sát dân, cũng không trả thù binh lính miền Bắc- 2/-Nước Mỹ sau cuộc Nội chiến Nam Bắc tàn khốc, phe miền Bắc thắng trận đã đối xử với phe miền Nam thua trận rất cao thượng, hoàn toàn không có sự kỳ thị hoặc trả thù, kẻ thua trận vẫn được kính trọng và vẫn được bình đẳng, coi như anh em, hoàn toàn không giống như ở VN sau năm 1975.
Sức mạnh của dân tộc (dân khí) là ở chỗ: ý thức kỷ luật, ý thức tập thể thể hiện qua ý thức đoàn kết dân tộc và độc lập dân tộc trên bình diện rộng, không chỉ thể hiện ở người lãnh tụ hoặc tập đoàn cầm quyền.

(*2) Chiếm Chiêm Thành: Khởi đầu với vua Lý Thánh Tông (1069), đến năm 1693 với chúa Nguyễn Phúc Chu, xóa sổ dân Chiêm Thành-
Chiếm Miên: Khởi đầu từ 1658, Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần chiếm Biên Hòa.

(*3) AnDương Vương (Thục Phán), rồi đến Triệu Đà đều là người Hoa Nam-
Xem Lê văn Siêu, Việt Nam Văn Minh sử Cương, trg 36, NXB Thanh Niên 2004: Sáu trong 12 sứ quân thời sau vua Ngô Quyền là thổ phỉ bên Tàu chạy qua.

(*4 ) Người Hoa ở VN: http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,45688
Posted by Lê Bắc, June 08,2004
-Vào năm 1679 và 1680, khi nhà Thanh bình định được tỉnh Quảng Đông thì một số quan quân dân nhà Minh đã bỏ chạy ra nước ngoài.
-Ngoài 2 đợt di dân quan trọng đó, suốt thế kỷ 19 có nhiều người Hoa, theo tình hình xã hội, đã di dân tới Việt Nam và nhiều nước Đông Nam Á khác (cũng như một số theo đoàn mộ phu qua Hoa Kỳ)
-Khi Pháp chiếm được 6 tỉnh Nam Kỳ, vì nhu cầu đất rộng người thưa, tư bản Pháp đã chiêu mộ và khuyến khích người Hoa từ Trung Quốc và Singapore sang kinh doanh, khai thác.
– Chiến tranh Quốc Cộng ở Trung Hoa đã làm cho đất nước loạn lạc, và nhất là khi Trung Cộng chiếm toàn bộ Hoa Lục năm 1949, nhiều nhóm người Hoa cũng đã chạy trốn Cộng Sản và thiên cư sang Việt Nam (và nhiều nước Đông Nam Á khác.)
-Năm 1954, nhiều người Hoa ở Hà Nội, Hải Phòng đã di cư vào Nam
-Năm 1975-1979, với biến động ở Campuchea, nhiều người Hoa cũng đã chạy tỵ nạn sang sinh sống ở Việt Nam.
Nguồn gốc của người Hoa ở Việt Nam đa số có gốc tích từ các tỉnh duyên hải ở miền Nam Trung Quốc, chủ yếu là hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Khi sang nước ta, họ có khuynh hướng sống qui tụ thành bang hội theo nguồn gốc quê hương của họ.

(*5)Triệu Đà (207-137BC) nổi loạn chống Tần Thủy Hoàng, thua chạy về phương Nam, tiến chiếm Âu Lạc, xưng vương, đặt tên nước là Nam Việt, gồm Âu Lạc, Quảng Đông, Quảng Tây, đặt kinh đô ở Phiên Ngung thuộc tỉnh Quảng Đông (Xem Việt Nam Nước tôi, Phan Như Huyên, Garden Grove, CA, USA, 2000)

(*6) Xem Cát Kiếm Hùng, Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, trang 10-11, Người dịch : Phong Đảo, NXB Van Hóa Thông Tin Hà Nội 2004.

(*7) Lý Đông A, Chu Tri Lục 3 Cương Lĩnh (1943). http://thangnghia.com/?p=43

(*8 ) Xem Đại Nghĩa: Hồ Chí Minh và Cải Cách Ruộng Đất.http://www.danchimviet.info/archives/35479
Ông Hoàng Tùng, nguyên Tổng Biên tập báo Nhân Dân (1954-1982) kể lại trong chuyện “Bí mật HCM” cho chúng ta thấy được sự nô lệ của ông Hồ và đảng Lao Động Việt Nam (tiền thân của đảng CSVN) như thế nào: “Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi bác sang, nhất định bắt phải thực hiện CCRĐ. Sau thấy không thể từ chối được nữa, bác mới quyết định phải thực hiện CCRĐ…. Mục đích của họ không phải là CCRĐ mà là đánh vào đảng ta ….”
Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, trả lời báo Quê Mẹ khi du lịch sang Pháp sau năm 1975, ông nói: “Trong lịch sử Việt Nam từ hồi lập quốc đến nay chưa có một cuộc thanh trừng giết dân nào khủng khiếp tàn bạo như cuộc CCRĐ. Hầu như mọi cuộc đấu tố đều có sự nhúng tay của cố vấn Trung cộng. Điều đó cho thấy chính quyền HCM lệ thuộc ngoại bang như thế nào”. (Người Việt ngày 7-9-2004)

(*9) Trận Tết Mậu Thân 1968- Về lực lượng CS tham gia: Xem Wikipedia:
Quân Giải phóng thật ra toàn là quân miền Bắc vào (220.000, riêng năm 1967 xâm nhập thêm 94,000 quân), còn địa phương (MTGPMN) chỉ có 57,000 và số nằm vùng, du kích, dân quân.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Sự_kiện_Tết_Mậu_Thân#cite_ref-24 :
…“Năm 1967, hơn 94.000 cán bộ, chiến sĩ ở miền Bắc biên chế thành từng trung đoàn, sư đoàn bộ binh và binh chủng kỹ thuật bổ sung cho Trị – Thiên, Khu V, Tây Nguyên, Nam Bộ, nâng tổng số Quân giải phóng miền Nam lên 220.000 quân chủ lực và 57.000 quân địa phương (không kể dân quân, du kích, tự vệ) . . . . .

. . . . . Sau tổng tiến công Mậu Thân, vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam bị thu hẹp. Quân Giải phóng bị đẩy ra xa và suy yếu trầm trọng: các đơn vị quân sự suy yếu, các lực lượng chính trị bị lộ và bị triệt phá gần hết, thương vong cao hơn hẳn các năm trước …..”

Tại sao CSVN lại để xảy ra một thất bại quân sự như vậy? Theo lý thuyết chiến tranh, chỉ khi chắc thắng thì mới tấn công; Đối với chiến tranh nhân dân, nếu không chắc thắng 10 phần thì không nổi dậy. Các chiến lược gia và tướng lãnh CS Bắc Việt vốn dày dạn chiến trận không thể nào không biết những điều này khi phát động Tổng tấn công- Nên chú ý thêm ở đây là Tổng tấn công- Tổng nổi dậy, có nghĩa là 2 mặt giáp công, nếu tấn công thất bại, thì nổi dậy cũng thất bại, và ngược lại nếu nổi dậy thất bại, thì tấn công cũng thất bại. Làm sao Đảng bộ ngoài Bắc lại không biết rằng lực lượng MTGPMN vốn chỉ là du kích, không thể thắng được quân đội VNCH có Mỹ yểm trợ đầy đủ? làm sao họ lại không biết rằng lúc đó Mỹ vẫn yểm trợ tối đa phi pháo cho VNCH, cho nên dù có thêm quân số do bộ đội ngoài Bắc xâm nhập cũng vẫn không đủ để chiếm ưu thế cần thiết quyết định cho chiến thắng? Rõ ràng đây là 1 trận đánh chỉ để thua, khi thua thì lực lượng chính có thể rút trở lại bưng biền, nhưng lực lượng địa phương (MTGPMN) do phải “tổng nổi dậy”nên đã phải lộ mặt ra hết, và bị tiêu diệt, như vậy là thực hiện được mục đích của miền Bắc là mượn tay địch để diệt kịp thời cái thế lực có thể tranh dành quyền lực sau này.
Những người miền Nam có con em theo du kích VC mà bị chết trong cuộc chiến Mậu Thân, những bộ đội “Sinh Bắc Tử Nam” đúng ra là, thay vì oán trách “Mỹ- Ngụy”, phải nên oán trách Đảng CSVN, và bọn CS Tầu mới đúng.

(*10) Ngộ độc chủ nghĩa CS= CNCS phá hủy văn hóa truyền thống và ý thức dân tộc, phá hủy nền tảng tư duy về đạo đức cá nhân, cũng phá hủy luôn cấu trúc kinh tế và xã hội do áp dụng triết lý bạo lực về giai cấp đấu tranh kiểu cuồng tín giáo điều, cộng với lý thuyết kinh tế mác xít với biện chứng không tưởng về Thế giới Đại Đồng Cộng Sản Chủ Nghĩa, biện chứng này tạo cho Đảng cầm quyền một thứ “Chính Nghiã”, dựa vào đó để che dấu bản chất xâm lược của nước lớn, và sự thần phục, lệ thuộc của Đảng cầm quyền ở nước nhỏ- Cho nên những thành phần tinh hoa của Đảng CSVN vốn được nể phục nhờ vào bộ máy tuyên truyền đánh bóng thành những người yêu nước, đấu tranh dành độc lập dân tộc, những người này sau khi nắm quyền cai trị, họ thất bại với mô hình kinh tế XHCN làm cho cả nước nghèo đói kiệt quệ, họ bắt chước Tàu, chuyển sang kinh tế thị trường nhưng vẫn độc quyền cai trị. Khi nền kinh tế bắt đầu phát triển, qua hệ thống bè cánh, họ đã bộc lộ bản chất kiêu mạn và tham tàn vô độ, điển hình của cái thời “tư bản hoang dã”. Lợi nhuận thu về do nắm độc quyền cai trị đã biến toàn bộ cán bộ cai trị các cấp biến chất thành 1 tập đoàn mafia, “tự thực dân” bóc lột chính nhân dân mình, và để bảo vệ quyền lợi của mình và tập đoàn, những nhà cai trị này sẽ sẵn sàng bám vào thứ “chính nghĩa Thế giới Đại Đồng CSCN” có sẵn để quy phục nước đàn anh (Tàu, hoặc Nga …) và đàn áp những người dân có tinh thần dân tộc chống xâm lược.
Độc tài sanh ra độc quyền và độc quyền sẽ phải sanh ra tham nhũng hệ thống và hủ hóa cá nhân, điều này có tính quy luật, như 1 hệ lụy của sự quy phục quyền và lợi, và đã từng xảy ra trong lịch sử các nước, điển hình như là dưới triều đại Sùng Chinh thời mạt Minh: Khi Lý Tự Thành đánh tới kinh đô, dân đói, quốc khố trống rỗng nên lính cũng đói và không được trả lương để nuôi vợ con, vua phải kêu gọi các quan bỏ tiền ra để nuôi quân, nhưng không ai chịu. Sau đó thành bị phá và vua Sùng Chinh treo cổ tự vẫn. Khi phá kho nhà các quan lớn, thì thấy nhà mỗi viên quan lớn đều có vàng bạc đồ quý chất đầy kho, tính ra gấp cả trăm lần công quỹ (Xem: Cát Kiếm Hùng- Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc- Tâp III, nhà Minh & Thanh, tr. 294- Bản dịch: Phong Đào, Nhà XB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội-2005).

(*11) Theo Trần Trung Đạo: Từ Buổi Chiều Trên Nghĩa Địa Hàng Dương,http://www.trantrungdao.com/?p=290)
Sự thật bị giấu kín ( 320 ngàn quân Trung Cộng từng tham gia chiến tranh Việt Nam)

Quân số Trung cộng tham gia chiến tranh Việt nam được tiết lộ trong những tài liệu trước đây:

Bên cạnh Liên-Xô, vào thời điểm 1967 ngoài hàng vạn tấn đạn dược, vũ khí, đã có 16 sư đoàn với 170 ngàn quân Trung Quốc tại miền Bắc Việt Nam để yểm trợ cho đảng Cộng sản Việt Nam nhưng đồng thời để bảo vệ vòng đai an ninh của Trung Quốc. Tội ác của đảng Cộng sản Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam, từ các tư tưởng độc hại đến võ khí giết người, từ cải cách ruộng đất đến đến Hoàng Sa, Trường Sa, từ chiến tranh biên giới đến trận chiến Lão Sơn, không thể viết hết trong một bài, trong một cuốn sách mà phải xây dựng một trung tâm dữ kiện.

(*12) Times, Sunday 13/6/197: Pentagon Papers- The secret war.
& Tài liệu giải mật của Tòa Bạch Ốc 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ – http://www.archives.gov/research/pentagon-papers/

nguồn :
http://quanlambao.blogspot.no/2012/09/mot-cach-nhin-ve-lich-su-xung-ot-viet.html
————-

TOP HOT LINKS QUAN LÀM BÁO
1- http://quanlambao.blogspot.co.at/2012/07/hot-links-ve-thu-tuong-nguyen-tan-dung.html
2- http://quanlambao.blogspot.co.at/2012/07/hot-links-ve-tuong-nguyen-van-huong_25.html
3- http://quanlambao.blogspot.nl/2012/07/hot-links-ve-nhom-toi-pham.html

********************************

Một Nơi An Lành Cho Bác
Fri, 09/14/2012 – 15:15
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Hồ Chí Minh – Frank Kozik

“… sử dụng xác chết Hồ Chí Minh cho ‘trò chơi biểu tượng’ phục vụ mục đích tuyên truyền chính trị ích kỷ, ĐCSVN đã cố tình tấn công vào các giá trị thẩm mỹ, đạo đức của người Việt, vi phạm pháp luật, làm khổ thân xác của Hồ Chí Minh, xúc phạm nghiêm trọng phẩm giá, danh dự của người chết và người thân trong gia đình. Hãy chấm dứt trò chơi biểu tượng ngoại lai, phi pháp này!”
Đọc Tiếp …

Trong phần hậu từ của tác phẩm Chuyện Làng Ngày Ấy, nhà văn Võ Văn Trực đã cẩn thận ghi thêm đôi dòng …trấn an:” Viết lại chuyện cũ, tôi hoàn toàn không có ý đồ xấu xa moi móc những sai lầm chúng ta đã vấp phải, để rồi đổ lỗi cho người này hoặc người kia, mà cốt để chúng ta đừng lập lại những sai lầm ấy – ‘Chúng ta’ không có nghĩa chỉ là thế hệ được chứng kiến sai lầm, mà tất cả mọi thế hệ mai sau.
Từ sau đại hội Ðảng lần thứ VI, nhất là từ sau nghị quyết IV về văn hóa – xã hội của ban chấp hành trung ương Ðảng khóa VII, chúng ta thẳng thắn nhìn vào những sai lầm cũ và đề xuất phương hướng đi tới. Mọi giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc được phục hồi. Ở làng tôi, đền chùa miếu mạo, nhà thờ họ, mộ cổ, rừng cổ, cây cổ thụ đã bị phá trụi, không còn gì để phục hồi nữa. Nhưng tình làng nghĩa xóm đã dần dần được hàn gắn, mọi người lại sống trong một cộng đồng đầm ấm, cùng bắt tay khôi phục những gì còn có thể khôi phục được. Các chi họ, các dòng họ đã sửa sang lại khu mộ của tiền nhân. Ðảng ủy xã, ủy ban nhân dân xã đã xây đài tưởng niệm liệt sĩ.
Những lời “trấn an” thượng dẫn, tiếc thay, đã không mang lại kết quả như tác giả mong muốn. Bởi vậy, dù Chuyện Làng Ngày Ấy đã được giấy phép xuất bản nhưng sách chưa ra khỏi nhà in thì đã bị thu hồi, và bị “chôn sống” trong kho, với lệnh “niêm phong” vô thời hạn (*).
Qúi vị phụ trách Ban Tư Tưởng & Văn Hoá, tất nhiên, có lý do để biện minh cho sự kiện rất vô văn hóa này. Đâu có ai ngây thơ tới cỡ tin rằng “Ở làng tôi, đền chùa miếu mạo, nhà thờ họ, mộ cổ, rừng cổ, cây cổ thụ đã bị phá trụi, không còn gì để phục hồi nữa. Nhưng tình làng nghĩa xóm đã dần dần được hàn gắn, mọi người lại sống trong một cộng đồng đầm ấm, cùng bắt tay khôi phục những gì còn có thể khôi phục được.
Người ta có thể vực dậy một làng quê, một đất nước xác sơ tiêu điều trong trong mươi, mười lăm năm nhưng để khôi phục “mọi giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộcđòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức, chứ vài ba cái “nghị quyết về văn hóa – xã hội của ban chấp hành trung ương Ðảng” thì kể như là đồ bỏ!
Việc Đảng “phá trụi đền thờ, miếu mạo” đến độ “không còn gì để phục hồi” nữa đã để lại những tác hại về phương diện đạo đức – cũng như về tâm linh – ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người. Và ông Hồ Chí Minh hiện đang là một trong những nạn nhân khốn khổ, khốn nạn nhất, chứ chả phải là ai khác.

Nguồn: Dân Làm Báo
Sau khi lìa đời, thay vì được chôn cất tử tế, Hồ Chí Minh đã bị bỏ vào một cái lăng thâm u và lạnh lẽo – cùng với rất nhiều điều tiếng:
– Thi sĩ Bút Tre:”Vào trong lăng Bác âm u. Chị em phụ nữ dở mũ ra chào.”
 “… đề nghị Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính thử tính sổ xem 30 năm qua ta đã tiêu tốn vào lăng Người tổng số là bao nhiêu tiền của… Và thử xem riêng ngân sách dự chi cho năm 2000 xem có thể xây được bao nhiêu trường học cho một ngàn xã hãy còn vắng về giáo dục ở miền cao. Có thể xây bao nhiêu căn nhà để nuôi trẻ mồ côi… Có thể xây bao căn nhà dưỡng lão cho người già lão cô đơn, không nơi nương tựa. Có thể xây bao nhiêu nhà thương làm phúc chữa bệnh cho người nghèo…”
– Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh : “Tôi nghĩ một ngày nào đó, khi chúng ta vượt qua nỗi khiếp sợ của cái ngu và ác, tôi đề nghị một phương pháp xử lý lăng Hồ Chí Minh như vầy: chôn ông ta thật sâu dưới lòng đất, ngay nơi xác ông ta đang quàn, rồi dán lên bên trong, bên ngoài của tất cả những bức tường, trần và các lối đi trong lăng những đầu lâu của những nạn nhân, ưu tiên là những nạn nhân trong cải cách ruộng đất, và đổi tên thành: LĂNG NHỮNG NẠN NHÂN CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN VIỆT NAM.”
Nghe thấy ghê chết mẹ luôn. Hèn chi mà thằng chả vừa mới dứt lời thì đại gia Dũng Lò Vôi đã lật đật ôm bác Hồ bỏ liền vô chùa (Đại Nam Quốc Tự) cho nó chắc ăn.
Tuổi Trẻ Online mô tả “Đại Nam quốc tự và khách sạn 5.000 phòng, gồm 1.000 phòng được thiết kế theo kiểu cung điện với giá 5-200 USD/phòng/đêm,  4.000 phòng còn lại có giá 5-30 USD/phòng/đêm.” Thiệt là quá đã. Đúng làLạc Cảnh Đại Nam Quốc Tự. Chùa mà xây chung với chợ như vậy thì trước sau gì chị em ta ở bến Ninh Kiều, ở Đồ Sơn, ở Quế Lâm … rồi cũng sẽ nườm nượp tề tựu về Bình Dương sống chung với Bác cho coi.
Dù có tượng Phật (làm vì) bên trong chính điện, với cái thứ chùa chiền tào lao và uế tạp (với sở thú, khu ăn chơi, phòng ngủ và đĩ điếm kề bên) như thế, người Việt có tên gọi dành riêng cho nó là dâm từ.
Dâm từ, theo Việt Nam Tự Điển – Khai Trí Tiến Đức là «đền thờ thần bất chính». Còn theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình – Tịnh Paulus Của (Imprimerie Rey, Curol & Cie : Sài Gòn 1895, trang 219) là miếu thờ yêu quái. Ở dâm từ, dân gian hay thờ cúng những… dâm thần!
Nghe mà thấy ớn. Thảo nào, ngày 19 tháng 5 năm 2012 – nhân kỷ niệm lần thứ 122 ngày sinh của ông Hồ Chí Minh – sứ quán Việt Nam tại Ba Lan đã vội vã đưa Bác sang trời Âu lánh nạn. Sự kiện này được phóng viên của Đàn Chim Việt, thường trú tại Varsovie, tường thuật như sau:
“Trong phần nghi lễ chính, đại sứ Nguyễn Hoằng và phu nhân đã cùng làm lễ hô thần nhập tượng chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong nghi lễ, việc ‘mời’ linh hồn Hồ Chí Minh để nhập vào tượng trực tiếp từ Lăng trên quảng trường Ba Đình hay từ hang Pác bó, và Bác sang Ba Lan bằng phương tiện giao thông nào là một điều bí hiểm thuộc ‘bí mật ngoại giao’ mà ông Hoằng đại sứ giữ kín không tiết lộ.”
 
Ông đại sứ và phu nhân trong nghi lễ nhập hồn vào tượng. Ảnh: ĐCV
Ở một đất nước mà cái cột đèn (nếu) có chân cũng chạy luôn thì chuyện Bác phải đi tị nạn cũng không có gì là lạ. Chỉ có điều đáng phàn nàn là Bác ngồi chưa ấm chỗ thì đã có sự cố xẩy ra.
Ở quê nhà, thiên hạ đang xôn xao về việc “Hồ Chí Minh sẽ làm thành hoàng tại các đình làng. Theo chỉ đạo của Quận ủy & UBND quận Tây Hồ, Ban Quản lý đình làng Phú Xá (làng Sù – phường Phú Thượng, Tây Hồ, HN) đưa tượng Hồ Chí Minh vào đình làng này để thờ cùng thành hoàng làng (vốn ngự ở đình đã gần 300 năm). Cũng theo chỉ đạo, 3 nhà sư trong trang phục Phật giáo đã sử dụng 1 đầu trâu và 3 bát máu tươi để cúng cho hồn tượng thêm ‘linh.’
Dự buổi lễ khánh thành tượng Hồ Chí Minh ở đình làng vào sáng hôm sau có các quan chức: Bí thư Quận ủy, Chủ tịch UBND quận Tây Hồ, đại diện các ban ngành đoàn thể của quận, phường. Tổng giám đốc Khu đô thị Nam Thăng Long, Tổng giám đốc Tổng công ty Cổ phần Bao bì xuất khẩu (hai đơn vị tài trợ chính) đã tham dự. Giá trị bức tượng khoảng hơn 2 tỉ đồng.Tới đây, quận sẽ chỉ đạo các Ban quản lý đình làng trên địa bàn quận học tập và làm theo để phấn đấu mọi đình làng đều phải có tượng Hồ Chí Minh được thờ cùng thành hoàng làng.”

Quận Tây Hồ dùng đầu trâu & máu tươi hô thần nhập tượng Hồ Chí Minh. Nguồn: http://youtu.be/j7VXAIRbBSE
Trên dương thế mâm nào mà không có Bác. Qua cõi khác, Bác lại tiếp tục bao thầu trọn gói và tuốt luốt khắp mọi nơi thì cũng tốt thôi. Tuy nhiên, tưởng cũng nên tìm hiểu thêm về ý nghĩa của hai thành hoàng (một cách đàng hoàng) chút xíu.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia có ghi như sau:
“Thành hoàng (chữ Hán: 城隍) là vị thần được tôn thờ chính trong đình làngViệt Nam. Vị thần này dù có hay không có họ tên & lai lịch, dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào, thì cũng là chủ tể trên cõi thiêng của làng & đều mang tính chất chung là hộ quốc tỳ dân (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó…
Thành hoàng xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành, hoàng là cái hào bao quanh cái thành; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành…
Các thứ hạng
Cũng theo sách Việt Nam phong tục, thì mỗi làng phụng sự một vị Thần hoàng; có làng thờ hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là Phúc Thần.
Phúc Thần có ba hạng:
  • Thượng đẳng thần là những thần danh sơn Đại xuyên, và các bậc thiên thần như Đông thiên vương, Sóc thiên vương, Sử đồng tử, Liễu Hạnh công chúa…Các vị ấy có sự tích linh dị, mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, cho nên gọi là Thiên thần. Thứ nữa là các vị nhân thần như: Lý Thường KiệtTrần Hưng Đạo…Các vị này khi sanh tiền có đại công lao với dân với nước; lúc mất đi, hoặc bởi nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ. Các bực ấy đều có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng, lịch triều có mỹ tự bao phong làm Thượng đẳng thần.
  • Trung đẳng thần là những vị thần dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ công trạng; hoặc là có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc là những thần có chút linh vị, tới khi nhà vua sai tinh kỳ đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng liệt vào tự điển, mà phong làm Trung đẳng thần.
  • Hạ đẳng thần do dân xã thờ phụng, mà không rõ sự tích ra làm sao, nhưng cũng thuộc về bực chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần.
Ngoài ba bực thần ấy, còn nhiều nơi thờ bậy bạ, như: thần bán lợn, thần trẻ con, thần ăn xin, thần chết nghẹn, thần tà dâm, thần rắn, thần rết…Các hạng ấy gọi là tà thần, yêu thần, đê tiện thần vì dân tin bậy mà thờ chớ không được vào tự điển, không có phong tặng gì…
Bác, rõ ràng, thuộc loại “thần bậy bạ” nhưng chưa có danh xưng tên nên tôi mạo muội xin đề xuất  gọi tên ngài là … thần chết. Cũng theo Wikipedia:” Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 3 đến 5 triệu người Việt.” Nếu không có Bác, chắc chắn, đã không có hai cuộc chiến rất thần thánh và hoàn toàn không cần thiết vào thế kỷ vừa qua. Và ngoài Bác ra ai mà có đủ khả năng đẩy “từ 3 đến 5 triệu người Việt” vào … chỗ chết?
Tưởng Năng Tiến
(*) Chuyện Làng Ngày Ấy do NXB Lao Động ấn hành tháng 6 năm 1993. Nhà văn Xuân Cang chịu trách nhiệm xuất bản. Nhà văn Ma Văn Kháng chịu trách nhiệm bản thảo. Tác phẩm này được in lại (năm 2006) bởi Tạp Chí Văn Học, ở California.

Đọc thêm:
Những sự thật Hồ Chí Minh :
Phần 1: http://danlambaovn.blogspot.no/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-1.html#.UF3_xo0aPW4
Phần 2: http://danlambaovn.blogspot.no/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-2-ho.html#.UF4AEY0aPW4
Phần 3: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-3-bac.html
Phần 4: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-4.html
Phần 5: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-5-noi.html
Phần 6: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-6-du.html
Phần 7: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-7-tri.html
Phần 8: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/07/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-8-ai.html
Phần 9: http://danlambaovn.blogspot.no/2012/07/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-9-ho.html#.UF4AT40aPW5
Phần 10: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/07/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-10.html#.UAhHUHBhNBp
Phần 11: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/07/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-11-lua.html#.UBr0Lsge6Fc
Phần 12: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/08/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-12-su.html#comment-613669652
Phần 13: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/08/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-13_9.html#.UDJVDkRhNBo
Phần 14: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/08/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-14-ai.html#.UDJWGERhNBo
Phần 15: http://danlambaovn.blogspot.com/2012/09/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-15.html#.UFPtthhhNBo

—————————————————————–

Sự thật bị giấu kín
(320 ngàn quân Trung Cộng từng tham gia chiến tranh Việt Nam)


Quân số Trung cộng tham gia chiến tranh Việt Nam được tiết lộ trong những tài liệu trước đây:
Bên cạnh Liên-Xô, vào thời điểm 1967 ngoài hàng vạn tấn đạn dược, vũ khí, đã có 16 sư đoàn với 170 ngàn quân Trung Quốc tại miền Bắc Việt Nam để yểm trợ cho đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng đồng thời để bảo vệ vòng đai an ninh của Trung Quốc. Tội ác của đảng Cộng sản Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam, từ các tư tưởng độc hại đến võ khí giết người, từ cải cách ruộng đất đến đế n Hoàng Sa, Trường Sa, từ chiến tranh biên giới đến trận chiến Lão Sơn, không thể viết hết trong một bài, trong một cuốn sách mà phải xây dựng một trung tâm dữ kiện.

Sự thật bị giấu kín :
Bao nhiêu lính Trung Quốc tham gia cuộc chiến VN ?
(320 ngàn quân Trung Cộng từng tham gia chiến tranh Việt Nam)
Trần Trung Đạo

Quân số Trung cộng tham gia chiến tranh Việt nam được tiết lộ trong những tài liệu trước đây: 

Bên cạnh Liên-Xô, vào thời điểm 1967 ngoài hàng vạn tấn đạn dược, vũ khí, đã có 16 sư đoàn với 170 ngàn quân Trung cộng tại miền Bắc Việt Nam để yểm trợ cho đảng Cộng sản Việt Nam nhưng đồng thời để bảo vệ vòng đai an ninh của Trung cộng. Tội ác của đảng Cộng sản Trung cộng đối với dân tộc Việt Nam, từ các tư tưởng độc hại đến võ khí giết người, từ cải cách ruộng đất đến đến Hoàng Sa, Trường Sa, từ chiến tranh biên giới đến trận chiến Lão Sơn, không thể viết hết trong một bài, trong một cuốn sách mà phải xây dựng một trung tâm dữ kiện.

Trần Trung Đạo: Từ Buổi Chiều Trên Nghĩa Địa Hàng Dương 

http://www.trantrungdao.com/?p=290

Advertisements
This entry was posted in zThông Tin. Bookmark the permalink.

One Response to Chú ý : Việt Nam – Trung Hoa !

  1. haiz00 says:

    Phần 3 Việt-Nam Sử-Lược Tân-Biên từ năm 1973 đến năm 2012

    Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc biên-khảo. – Ngày hiệp-định Ba-Lê có hiệu lực, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ghi nhận có hơn 1000 vụ vi phạm của Việt cộng. Ngoài ra, trong suốt năm 1973 còn có 5 trận giao tranh lớn xảy ra ở Cửa Việt, Sa Huỳnh, Hồng Ngự, Trung Nghĩa và Tống Lê Chân.

    – Trong đó căn cứ Tống Lê Chân bị quân Việt cộng tấn công ngay ngày hiệp định Paris có hiệu lực (28/01/1973), người anh hùng tử thủ là Trung tá Lê Văn Ngôn cùng Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng. Để dứt điểm căn cứ này, quân Việt cộng phải huy động Công trường 9, cùng trung đoàn 271, một Trung đoàn pháo, một Trung đoàn phòng không cũng như một Lữ đoàn xe tăng. Chưa kể quân trừ bị và chận viện. Cuộc chiến dứt điểm bắt đầu từ 05/04/1974 đến 1 giờ sáng ngày 13/04/1974 mới chiếm được đồn.

    Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng và Trung tá Lê Văn Ngôn chỉ còn 259 binh sĩ đã chiến đấu đến cùng và phải mở đường máu rút lui.

    Căn cứ Tống Lê Chân bị quân Việt cộng tấn công dồn dập trong 512 ngày. Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng và Trung tá Lê Văn Ngôn đã làm sáng danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và xứng đáng là những chiến sĩ chiến đấu cho Hòa bình. Hòa bình của đất nước Việt Nam thân yêu.

    Sau khi đem đơn vị về đến An Lộc, Trung tá Lê Văn Ngôn được cử đi học khoá Tham Mưu Trung Cấp được cử về Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở trách nhiệm trung đoàn phó. Sau ngày 30/4/1975, Trung tá Ngôn cũng như biết bao chiến sĩ khác, lọt vào tay giặc và bị đưa ra miền Bắc. Một tối mùa thu 1977, ông lặng lẽ qua đời tại liên trại Yên Báy. Nhà văn quân đội Phan Nhật Nam đã đem người đàn em vắn số của mình ra mộ huyệt chôn cất.

    – Mao Trạch Đông chủ tịch nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa ra lịnh cho quân đội Trung cộng tấn chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam Cộng Hòa ngày 17 tháng 1 năm 1974.

    – Vào lúc 10 giờ sáng ngày 19 Tháng 1 năm 1974, hạm đội Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa dưới sự chỉ huy của Đại tá Hà Văn Ngạc đã đồng loạt nổ súng vào chiến hạm của Hải quân Tàu cộng khi họ hành động xâm chiếm đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

    Sau nửa tiếng đồng hồ giao tranh thì hai bên đều rút lui vì hai bên đều thiệt hại nặng cả. Bên HQVN chiếc Nhật Tảo bị chìm, tử thương 58 người (đa số thuộc chiến hạm Nhật Tảo và số còn lại thì gồm có hai người nhái trên đảo). Mỗi chiến hạm có một số bị tử thương. Phía Tầu Cộng cũng bị thiệt hại nặng nề, một chiếc bị chìm, về nhân mạng có một số sĩ quan cao cấp bị tử thương, thành ra không thể nói bên nào chiến thắng hay chiến bại. Trong lúc đó một lực lượng hùng hậu gồm 17 chiến hạm khác từ Hải Nam đang hướng về hướng Hoàng Sa, trong đó có 13 chiến hạm với bốn chiếc tiềm thủy đỉnh loại tàu ngầm .

    Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa có tăng cường thêm hai chiếc nữa tức là sáu chiếc, nhưng khi hai chiếc sau đang trên đường tới thì có tin phi cơ phản lực của Trung Cộng từ đảo Hải Nam đến dội bom. Trong khi đó tầm hoạt động của phi cơ F5 và A37 của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa không thể nào bay tới Hoàng Sa được, để tránh thiệt hại không cần thiết hạm đội Việt Nam Cộng Hòa phải bắt buộc rút lui.

    Quân chủng Hải Quân đã chọn ngày 19/1 hằng năm làm ngày tưởng niệm và vinh danh các chiến sĩ HQ đã hy sinh bảo vệ Tổ quốc đại dương.

    Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là Tư Lệnh Hải Quân vùng I Duyên Hải yêu cầu Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ cứu vớt người trên biển. Khi sự việc xảy ra rồi, không có chiến hạm nào của Mỹ đến cứu vớt.

    – Khi Tầu cộng xâm lăng Hoàng sa của Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc đã hoàn toàn im lặng không có một phản ứng nào. Họ âm thầm đàm phán về biên giới với Tầu cộng từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1974 nhưng không đạt được một kết quả nào.

    – Đến đầu năm 1975, gần hai năm sau Hiệp định ngưng bắn, tình hình Việt Nam ở trong giai đoạn lạ lùng, không hòa cũng không chiến.

    Ông Henry A. Kissinger, Cố vấn an ninh của Tổng thống Nixon, tác giả Hiệp định Paris, được lãnh nửa giải hòa bình Nobel đồng thời thăng chức Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ; còn Tổng thống Nixon phải từ chức vì vụ tai tiếng Watergate; ông Gerald Ford cầm đầu khối đa số Hạ viện Mỹ được cử thay thế.

    Uy tín Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu ngày càng sa sút, còn Ngoại trưởng Trần Văn Lắm lãnh chức Chủ tịch Thượng viện.

    – Đầu năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu theo kiểu quân đội nhà nghèo. Nhưng từ hai năm qua, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã không được cải tổ để thích ứng với tình hình chiến trường mới.

    – Các Sư đoàn tổng trừ bị như Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù được cử trấn giữ các vùng đất như binh sĩ sư đoàn Bộ Binh làm mất tính năng động cần thiết khi tình hình chiến trường sôi động.

    – Quân khu V của Việt cộng tổ chức chiến dịch H-9 tấn công hai địa điểm Nông-Sơn và Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng-Nam. Họ tung vào các Sư đoàn 324B (hay Sư đoàn Điện Biên), 308, và Sao vàng.

    Ngày 06/08/1974, Thượng-Đức thất thủ. Tiểu đoàn 79 Biệt Động Quân đã rút khỏi nơi này. Số phận của Tiểu đoàn này cũng giống như tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân khi rời khỏi căn cứ Tống Lê Chân, những binh sĩ anh dũng này đã không được nhắc đến tên tuổi…

    Bộ tổng tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa gởi Sư đoàn Nhảy Dù ra Quảng-Nam tăng viện, nhưng đã quá trễ.

    Các trận đánh ác liệt đã xảy ra giữa Sư Đoàn Nhảy Dù và 3 sư đoàn Việt cộng diễn ra trên các cao điểm 1235 và 1062. Trận đánh khởi sự từ ngày 15 Tháng Tám đến ngày 8 tháng mười một năm 1974. Đây là trận đánh lớn nhất trong quân sử Việt Nam sau khi Hoa Kỳ rút lui, và cũng là một trong những trận hiển hách nhất của QLVNCH. Cuối cùng quân Việt cộng đã phải rút khỏi đồi 1062 trước sức chiến đấu dũng mãnh và gan dạ của các chiến sĩ Nhảy Dù.

    Sau khi Hoa Kỳ rút quân, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hoà như sau:
    -Tài khoá 1973 : hai tỷ mốt (2,1 tỷ)
    -Tài khoá 1974 : một tỷ tư (1,4 tỷ)
    -Tài khoá 1975 : bẩy trăm triệu (0,7 tỷ).

    Nghĩa là ngày càng giảm thiểu.

    Và đưa đến hậu quả là : Ngân khoản 700 triệu chỉ cung cấp được phân nửa nhu cầu tối thiểu của quân đội VNCH, trong năm 1975 hoạt động quân sự của Việt cộng gia tăng 70% hơn năm trước. Sau khi trừ đi 46 triệu cho USDAO, số tiền còn lại được chia ra như sau:
    – Không quân: Cần 414 triệu; nhận 183 triệu – 44% ngân khoản yêu cầu.
    – Lục quân: Cần 841 triệu; nhận 458 triệu – 54% ngân khoản yêu cầu.
    Như vậy, từ số tiền 1 tỉ 283 triệu của ngân sách quân viện năm 1975, VNCH chỉ được 654 triệu – chỉ bằng 51% ngân khoản cần thiết”.

    Thực trạng bi thảm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được ghi nhận vào tháng 02/1975 như sau:
    Ðạn – Số ngày tồn kho
    Ðạn M-16 (5.56 ly) – 31
    Ðạn phóng lựu 40 ly – 29
    Ðạn súng cối 60 ly – 27
    Ðạn súng cối 81 ly – 30
    Ðạn pháo 105 ly – 34
    Ðạn pháo 155 ly – 31
    Lựu đạn – 25

    – Trong khi đó, về phía Việt cộng nhận được số lượng viện trợ quân sự trong giai đoạn 1973-1975: Tổng số 724,512 tấn gồm 75,267 tấn hàng hậu cần , 649,246 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật, trong đó Liên Xô: 65,601 tấn, Trung Quốc 620,354 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác : 38,557 tấn.

    – Lê Đức Thọ của miền Bắc, người thương thuyết và ký hiệp định Paris với Kissinger chối bỏ phần còn lại của giải Hòa bình Nobel, ông và đảng cộng sản Việt Nam đang chuẩn bị ráo riết cuộc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.

    – Sau khi ký Hiệp định Paris, Hà Nội cho khởi công xây tuyến đường xa lộ Ðông Trường Sơn hay hành lang 613, song song với đường mòn Hồ Chí Minh nhưng nằm trong địa phận Việt Nam Cộng Hoà từ Ðồng Hới cho tới Lộc Ninh, đến đầu năm 1975 thì công trình hoàn thành dài 1,200 km. Dọc theo Ðông Trường Sơn là hệ thống dẫn dầu từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh. Bắc Việt huy động hàng nghìn xe máy ủi, hàng vạn bộ đội, công nhân, thanh niên xung phong, dân công .. ngày đêm phá núi san đèo, xây cống, lắp đường, dựng cầu.. đường rộng 8 m.. xe vận tải cỡ lớn chạy hai chiều được, ngày đêm chở hàng trăm nghìn tấn đạn dược quân nhu cho chiến trường. Họ đã xử dụng 16 ngàn xe vận tải để chuyên chở binh khí, kỹ thuật, đạn dược, lương thực… chuẩn bị cho chiến trường miền Nam trong hai năm 1973 và 1974. Chiều dài toàn bộ hệ thống chiến lược Trường Sơn tới 1975 là 16 ngàn km gồm 5 hệ thống đường trục dài 5,500 km, 21 đường trục ngang dài 1,020 km, một đường hệ thống dẫn dầu dài 5,000 km.

    – Theo một cựu trung tá không quân Việt Nam Cộng Hoà cho biết đường xâm nhập của Việt cộng hiện rõ trên bản đồ nhưng miền Nam không đủ lực lượng để ngăn chặn, đồng thời Hoa Kỳ ngăn cản không cho không quân VNCH đánh phá, họ đe doạ cắt viện trợ nếu không nghe theo. Một số nhà nghiên cứu, giới chức quân sự cho rằng viện trợ quân sự của Nga, Trung Cộng cho miền Bắc năm 1975 gấp 3 hoặc 4 lần năm 1972. Sự thực thì không phải như vậy, số lượng vũ khí đạn dược năm 1975 của CSBV nhiều gấp bội lần năm 1972 vì họ mang vào Nam được nhiều hơn, khối lượng hàng viện trợ vũ khí đạn dược như ta đã thấy trong hai giai đoạn này (1972 và 1975) không thay đổi mấy, coi như tương đương .

    Quân Bắc xâm Việt cộng mở chiến dịch tấn công Phước Long làm bàn đạp tấn công thủ đô Sài Gòn. Họ mở hai mũi tấn công vào mặt đông bắc thành phố Tây Ninh với trung đoàn 205; đồng thời tấn công pháo kích đơn vị Địa Phương Quân trấn thủ trên núi Bà Đen; 3 trung đoàn 33, 812, 274 thuộc sư đoàn 6 vc tấn công hai quận Hoài Đức và Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy. Đây là các trận đánh hỏa mù để cầm chân những lực lượng tinh nhuệ của quân đoàn III Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Ngày 26/12/1974, quân Việt cộng tấn công thị xã Phước Long và phi trường Sông Bé. Đồn trú nơi đây có Tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 Sư đoàn 5 Bộ binh, ba đại đội Thám báo của các sư đoàn 5, 18, 25, cùng những đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân quân số vào khoảng 6000 người. Trong khi chiến trường đang căng thẳng, các đơn vị trú phòng tại đây được tăng viện thêm đại đội 1 và 4 thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Hơn sáu ngàn binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa phải chống lại một lực lượng tấn công đông gấp ba lần. Các đơn vị Việt cộng tấn công gồm hai sư đoàn 3 và 7, hai trung đoàn biệt lập, hai trung đoàn pháo và phòng không cùng với một trung đoàn chiến xa, tất cả đặt dưới quyền điều khiển của quân đoàn IV Việt cộng.

    Quân lực VNCH tăng cường tối đa các phi vụ yểm trợ cho quân bạn, nhưng sức người có hạn. Nên ngày 9/1/1975, Phước Long thất thủ.

    Quân Bắc xâm Việt cộng mở chiến dịch Tây nguyên với mục đích cắt đôi Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 10/3/1975, Việt cộng nổ súng tấn công Ban Mê Thuột với các sư đoàn 320 Điện biên và F10. Trách nhiệm phòng thủ có Đại tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng BMT và Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lịnh phó sư đoàn 23 bộ binh kiêm Tư lịnh mặt trận Ban Mê Thuột. Quân trú phòng tại chỗ là Trung đoàn 53 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh dưới quyền điều khiển của Trung tá Võ Ân. Cuộc giao tranh đã xảy ra ác liệt ngay tại mặt trận phi trường Phụng Dực. Ngày 11/3/1975, quân Việt cộng được tăng cường quân số lên gấp 10 lần và đó là một ngày giao tranh đẫm máu nhất tại mặt trận phi trường Phụng Dực. Hầm chỉ huy của Đại tá Vũ Thế Quang bị Không quân ném lầm hai trái bom, nên đã mất liên lạc với bộ tư lịnh quân đoàn II từ phút đó.

    Ngày 12/3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú Tư lịnh quân đoàn II quyết định tăng cường binh sĩ để tái chiếm Ban-Mê-Thuột. Trung đoàn 44 và 45 thuộc Sư đoàn 23 bộ binh đã được một lực lượng trực thăng tới 46 chiếc HUIB và Chinook không vận vào Phước An. Đây là cuộc hành quân trực thăng vận lớn nhất kể từ sau Hiệp định Paris được ký kết vào năm 1973. Ngoài TĐ45BB, còn có sự tăng cường của Liên đoàn 21 Biệt Động Quân. Cuộc tăng viện đang diễn ra tốt đẹp, trong đó tinh thần binh sĩ các cấp lên rất cao, thì đột ngột có lịnh lui binh sau cuộc họp ngày 14/03/1975 giữa Thiếu tướng Phạm Văn Phú cùng Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang.

    Hậu quả cuộc lui binh trên tỉnh lộ 7b này là Quân đoàn II đã bị xóa sổ, và giải tán. Tướng Phạm Văn Phú bị cách chức rồi tự sát để giữ tròn khí tiết của một vị tướng lãnh vào ngày 30/4/1975.

    Ngày 19 tháng 3/1975, Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh QĐ I – QK I về Sài Gòn để gặp Tổng thống Thiệu trình bày kế hoạch rút quân của quân đoàn. Cuộc họp bắt đầu 11 giờ, cùng với sự hiện diện của Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Theo ghi nhận của Tướng Viên, kế hoạch của Trung tướng Trưởng rất chu đáo và được tiến hành theo hai phương cách:

    – Phương cách thứ nhất: Các lực lượng từ Huế và Chu Lai theo Quốc lộ 1 cùng một lúc rút về Đà Nẵng.

    – Phương cách thứ hai: Nếu địch cắt Quốc lộ 1 thì sẽ rút quân về ba nơi: Đà Nẵng, Huế và Chu Lai. Tuy nhiên Huế và Chu Lai chỉ là nơi tập trung tạm thời để sau đó các đơn vị được hải vận về Đà Nẵng. Đà Nẵng sẽ trở thành nơi cố thủ của SĐ 1 BB, SĐ 2 BB, SĐ 3 BB, SĐ TQLC và 4 Liên đoàn BĐQ .

    Ngoài các đơn vị kể trên còn có Lữ đoàn 1 Nhảy Dù cũng được tăng phái cho Quân Đoàn I với điều kiện không được sử dụng để tung vào chiến trận.

    Ngày 20 tháng 3/1975, khi vừa đặt chân xuống Đà Nẵng, Trung tướng Trưởng nhận được một công điện “mật khẩn” của Tổng thống Thiệu do Bộ Tổng Tham Mưu chuyển. Tổng thống Thiệu khuyên Tướng Trưởng tùy nghi ứng phó và làm sao chỉ giữ một mình Đà Nẵng mà thôi vì không thể nào phòng thủ nổi ba thành phố Huế, Đà Nẵng và Chu Lai cùng một lúc được. Đồng thời Lữ đoàn 1 ND được lệnh lên đường về Sài Gòn ngay khuya đêm đó.

    Lại một lần nữa, lịnh rút quân đột ngột của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã khiến các đơn vị thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng như của Quân khu I như Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư đoàn 1 bộ binh, các Liên đoàn Biệt Động Quân, Địa Phương Quân – Nghĩa Quân, Thiết Kỵ, Pháo binh v.v…bị thiệt hại trầm trọng về nhân sự cũng như khí cụ, đưa đến tình trạng bất khiển dụng như Quân đoàn II.

    Ngày 08/4/1975, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu Tư lịnh phó Quân đoàn III bị ám sát ngay tại văn phòng tư lịnh phó. Và đây cũng là ngày mặt trận Xuân Lộc – Long Khánh bùng nổ và kéo dài đến 20/4/1975. Ngày 10/04/1975, Tướng Nguyễn Văn Hiếu được tổng thống VNCH truy thăng Trung tướng. Cố Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu bị ám sát khi đang chuẩn bị kế hoạch phản công chống đoàn quân Bắc xâm Việt cộng bằng kỵ binh. Cái chết đột ngột không sớm không muộn khi kế hoạch phản công vừa hình thành hay vì một nguyên do nào khác liên quan đến việc điều tra tham nhũng trong quân đội?

    Hơn nữa cái chết đột ngột của Tướng Nguyễn Văn Hiếu làm chúng ta liên tưởng đến việc tử nạn trực thăng của Đại tướng Đỗ Cao Trí ngày 23/02/1971, khi ông từ vùng III đáp trực thăng đi vùng I nhậm chức Tư lịnh quân đoàn hầu cứu vãn cuộc hành quân Lam Sơn 719 đang bị sa lầy.

    Hai cái chết vào hai thời điểm nêu trên của hai vị Tướng lãnh tài ba lỗi lạc đã khiến nhiều người trong chúng ta phải thắc mắc: Có phải thế lực nào đó trong bóng tối nhất quyết không muốn Đại tướng Đỗ Cao Trí và Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu trở thành cứu tinh của Quân lực và quốc gia Việt Nam Cộng Hòa? Và từ đó đã ra tay hạ sát hai vị Tướng này. Quả tình sự ra đi của hai vị chiến Tướng vừa nêu là một mất mát lớn lao cho tộc Việt.

    Trở lại với tình hình chiến sự khi Xuân Lộc là căn cứ quân sự của SĐ18BB do Thiếu tướng Lê Minh Đảo làm tư lịnh bao gồm: Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh và các đơn vị Kỷ Thuật thuộc mọi Binh chủng của QLVNCH. Quân đoàn IV Việt cộng gồm các sư đoàn 6, 7 và 341. Ngoài ra còn tăng cường thêm sư đoàn 325 và Liên đoàn 75 Pháo binh đủ loại.

    Trên đường tiến quân về Sài Gòn, quân vc bắt buộc phải đi ngang Xuân Lộc – Long Khánh. Cho nên trận chiến đã diễn ra rất ác liệt giữa quân trú phòng và quân vc ngay từ những giờ phút đầu tiên.

    Ngày 12/04/1975 chiến trường Xuân Lộc được tăng cường Lữ đoàn 1 Nhảy Dù của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh.

    Mũi tiến công để chiếm Sài Gòn của quân vc đã bị khựng lại nơi đây vì gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của tất cả các đơn vị trú phòng. Bộ tư lịnh hành quân của vc bắt buộc phải thay đổi tư lịnh chiến trường, họ đưa Tướng Trần Văn Trà vào thay Tướng Hoàng Cầm và đưa thêm quân tăng viện.

    Quân vc dùng “chiến thuật biển người”, “tiền pháo hậu xung” liên tục tấn công và cuối cùng đã tràn ngập tuyến phòng thủ của Chiến đoàn 52 Bộ binh của Đại tá Ngô Kỳ Dũng ngày 15/04/1975. Để chận đứng đà tiến của vc tràn về Sài Gòn và Biên Hòa, Thiếu tướng Lê Minh Đảo đã xin xử dụng bom BLU.82 (Daisy Cutter), một loại bom nổ đặc biệt có sức công phá cực mạnh trong một phạm vi rộng lớn.

    Ngày 16/4/75 Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III – Lữ đoàn 3 Kỵ Binh do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi chỉ huy đã giao tranh dữ dội với vc tại Ngã Ba Dầu Giây.

    Qua 12 ngày đêm ác chiến với quân Bắc xâm Việt cộng, Xuân Lộc – Long Khánh vẫn vững vàng trước cơn bảo lửa. Quân đoàn IV vc tham chiến tại mặt trận đã bị thiệt hại nặng nề về sinh mạng, pháo binh, xe tăng, v.v… nên Bộ tư lịnh chiến dịch hồ chí minh đã vội vàng thay đổi kế hoạch tiến chiếm Sài Gòn.

    Ngày 20/04/1975, Sư đoàn 18 Bộ binh (QLVNCH) cũng như các đơn vị được lịnh lui binh. Cuộc lui binh đã diễn ra tốt đẹp, với tổn thất của các đơn vị bạn rất giới hạn. Cuộc lui binh này nhằm phòng thủ vòng đai an ninh gần Sài Gòn cũng như phi trường Biên Hòa vì quân vc sau khi không chiếm được Xuân Lộc nên đã rẽ sang con đường khác và theo Quốc lộ 15 tiến vào thủ đô Sài Gòn qua Biên Hòa. Tinh thần của các đơn vị QLVNCH tham chiến còn vững vàng, quân trang, đạn dược còn đầy đủ chứ không thiếu thốn hay bị mất tinh thần mà phải lui binh.

    Cùng ngày, Ðại Sứ Mỹ Graham Martin gặp TT Thiệu và yêu cầu ông Thiệu nên từ chức để sớm có thương thuyết với CS bằng chính phủ mới của Dương Văn Minh. Chiều ngày hôm đó thì Phan Rang lọt vào tay Cộng quân và Cộng quân cũng cố tình xua cho dân chúng di tản để làm rối loạn tinh thần dân chúng ở Saigòn.

    Ngày 20/04/1975, cũng là ngày phòng tuyến xa của quân đoàn III dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị thất thủ. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang Tư lịnh sư đoàn 6 Không quân bị quân việt cộng bắt trên đường triệt thoái.

    Trước khi bị ám sát chết ngày 08/04/1975, Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu được Bộ tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đề cử trách nhiệm phòng thủ Phan Rang, nhưng không hiểu vì lý do gì quyết định này lại thay đổi. Đặt giả thuyết, nếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu được trao trách nhiệm phòng thủ Phan Rang một cách thật sự, có lẽ tình hình chiến sự sẽ có nhiều thay đổi thuận lợi hơn cho QLVNCH và đất nước Việt Nam.

    Ngày 21/04/1975, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu từ chức và trao quyền lại cho Phó tổng thống Trần Văn Hương. Mặc dù với số tuổi 71, phó tổng thống Trần Văn Hương đã can đảm đứng ra gánh lấy trọng trách điều hành quốc gia trong cơn bảo lửa.

    Từ ngày 1/04/1975 đến ngày 30/04/1975, quân đoàn IV của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn còn nguyên vẹn và trong tinh thần sẳn sàng chiến đấu.

    Tình hình quân sự ngày 28/04/1975 khi Đại tướng Dương Văn Minh nhậm chức Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa như sau:

    – Tại các vùng trong và ngoài của thủ đô Sài Gòn, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn khoảng trên dưới khoảng 60 ngàn binh sĩ đó là chưa kể còn khoảng trên dưới gần 70 ngàn binh sĩ thuộc quân đoàn IV của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, để đối đầu lại với khoảng 280 ngàn quân Bắc xâm Việt cộng.

    – Lực lượng quân sự của Quân đoàn IV do Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lịnh gồm có:

    18 Liên đoàn Biệt Động Quân; 5 Thiết đoàn và 17 Chi đoàn Kỵ binh với 493 chiến xa đủ loại; Sư đoàn 4 Không quân đóng ở phi trường Trà Nóc, Cần Thơ với khoảng 100 phi cơ đủ loại; Về bộ binh có các Sư đoàn 7, 9 và 21; Hải quân có 4 Duyên đoàn và 9 Giang đoàn với 600 tàu đủ loại.

    Tương quan lực lượng giữa Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và quân Bắc xâm Việt cộng được ghi nhận như sau trong lãnh thổ quân đoàn III:

    – Phòng tuyến Bình Dương về hướng Bắc có Sư đoàn 5 Bộ binh đóng ở Lai Khê, bảo vệ Quốc lộ 13 và đối thủ là Sư đoàn 1 Việt cộng.

    – Phòng tuyến Biên Hòa về hướng Đông có Sư đoàn 18 Bộ binh của Thiếu tướng Lê Minh Đảo sau khi rút khỏi Xuân Lộc về trấn thủ Long Bình, Biên Hòa; Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III của Chuẩn tướng Trần Quang Khôi chỉ được lịnh trấn tại Dầu Giây-Hưng Lộc, sau đó là phòng thủ Biên Hòa (chứ không phải Sài Gòn); Lữ đoàn 468 Thủy quân Lục Chiến của Trung Tá Huỳnh Văn Lượm phụ trách đối đầu với các Sư đoàn 2, 304, 325 quân Việt cộng.

    – Phòng tuyến Vũng Tàu do Lữ đoàn 1 Nhảy Dù của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh phụ trách đối đầu với Sư đoàn 3 sao vàng Việt cộng.

    – Phòng tuyến Long An trấn giữ bởi Sư đoàn 22 Bộ binh đối đầu với các Sư đoàn 8, 24 và 6, trừ bị là các Sư đoàn 7, 9 và 3 Việt cộng; Liên đoàn 6 và 8 Biệt Động Quân đối đầu với các Sư đoàn 8, 5, 262 Việt cộng.

    – Phòng tuyến Củ Chi do Sư đoàn 25 Bộ binh của Chuẩn tướng Lý Tòng Bá trấn đóng ở Củ Chi, nơi đây Sư đoàn đã đối đầu với Sư đoàn 50 Việt cộng; Liên đoàn 9 Biệt Động Quân đối đầu với Sư đoàn 232, 27, 71 của Việt cộng.

    Ngoài ra, quân đoàn III VNCH còn có 14 Tiểu đoàn Pháo binh với 376 đại pháo đủ loại; 7 Thiết đoàn Kỵ binh với gần 700 chiến xa đủ loại; Sư đoàn 3 Không quân đóng ở Biên Hòa và Sư đoàn 5 Không quân đóng ở Sài Gòn; Hải quân có 4 Hải đoàn Duyên phòng và 6 Giang đoàn với 700 tàu đủ loại; Các đơn vị Địa Phương Quân Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ cũng như Cảnh Sát Quốc Gia và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.

    Tuy nhiên qua cách bố phòng, chúng ta có thể nhận thấy một điều, hầu hết các đơn vị lớn và thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ đóng ở vòng đai xa thủ đô Sài Gòn, không có một đơn vị tinh nhuệ nào được lịnh trực tiếp bảo vệ thành phố đông dân này (nếu chúng tôi không nhầm). Sài Gòn đã bị bỏ ngỏ từ trước, nhất là khi phòng tuyến Củ chi của Sư đoàn 25 Bộ binh bị xuyên thủng, quân Bắc xâm Việt cộng đã thâm nhập Sài Gòn một cách dễ dàng.

    – Về phía quân Bắc xâm Việt cộng bao gồm các quân đoàn I, II, III , IV tổng cộng 15 sư đoàn bộ binh, ngoài ra còn có 5 Lữ đoàn bộ binh biệt lập, 4 Trung đoàn chiến xa, 6 trung đoàn đặc công.

    Kể từ khi quân Bắc xâm Việt cộng phát động cuộc tổng tấn công chiếm thủ đô Sài Gòn ngày 26/04/1975, thì Sư đoàn 25 Bộ binh có căn cứ tại Củ Chi bị thất thủ khi quân đoàn III vc gồm các Sư đoàn 320, 316, 70, 968 tấn công dồn dập, Chuẩn tướng Lý Tòng Bá một Tướng lãnh tài ba lỗi lạc rốt cuộc phải thúc thủ và bị bắt tại mặt trận đêm 29 rạng sáng 30/4/1975 do quyết định sai lầm từ vị Tư lịnh quân đoàn III.

    Sư Ðoàn 5 Bộ Binh do Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ làm tư lịnh đóng ở Lai Khê, tình hình không có gì đặc biệt. Nhưng sáng hôm sau khoảng 10 giờ 30, khi nghe Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng cộng sản, Tướng Lê Nguyên Vỹ cho kéo cờ trắng. Sau đó, ông nghiêm trang chào quốc kỳ rồi trở về văn phòng tự sát. Tướng Lê Nguyên Vỹ đền nợ nước đúng ngày 19 tháng 3 năm Ất Mão (Âm Lịch), tức ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Dương Lịch).

    08 giờ sáng ngày 30/4/75, liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị cắt đứt, Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi quyết định họp các chỉ huy trưởng để tham khảo ý kiến. Tất cả cùng quyết định kéo quân về giải vây thủ đô. Đoàn quân giải vây thủ đô gồm:

    Lữ Ðoàn 2 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Lô chỉ huy tiến theo Ðường Sắt phía phải về Saigòn.
    Lữ Ðoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến của Trung Tá Huỳnh Văn Lượm tiến theo phía trái Ðường Sắt
    Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh và Liên Ðoàn 33 Biệt Ðộng Quân tiến theo Xa lộ Biên Hòa về Saigòn.
    Chiến Ðoàn 315 của Trung Tá Ðỗ Ðức Thảo tiến về Cầu Bình Triệu.
    Chiến Ðoàn 322 của Trung Tá Nguyễn Văn Liên tiến theo sau Chiến Ðoàn 315.
    Chiến Ðoàn 318 của Trung Tá Nguyễn Ðức Dương đi phía sau các đơn vị để yểm trợ.

    Tuy nhiên khi các chiến xa của Lữ đoàn 3 Kỵ Binh tiến tới gần nhà thờ Fatima, Bình Triệu, thì Tướng Trần Quang Khôi nghe được lịnh buông súng đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Đó là ngày 30 tháng 4 năm 1975 lúc 10 giờ 25 phút sáng.

    Khi lịnh đầu hàng ban hành, vì không chấp nhận đầu hàng kẻ thù, Trung tá Nguyễn Văn Long (Cảnh Sát Quốc Gia) đã tự sát bằng súng lục lúc 11giờ 30 dưới tượng đài Thủy Quân Lục Chiến phía trước tòa nhà Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Tư lịnh phó quân đoàn IV tự sát vào lúc 20 giờ 45 phút tối ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Thiếu tướng Phạm Văn Phú nguyên Tư lịnh quân đoàn II quân khu II tự tử bằng thuốc độc ngày 29/04/1975 và chết vào trưa ngày 30/04/1975 khi nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng Việt cộng.

    Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam tư lịnh Quân Ðoàn IV Quân khu IV, đã quyết định không đầu hàng Việt cộng và tuẫn tiết vào sáng ngày 01 tháng 5 để bảo vệ khí tiết của một vị tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông tự sát khi mới 48 tuổi.

    Chuẩn tướng Trần Văn Hai Tư lịnh Sư đoàn 7 Bộ binh tự sát bằng thuốc độc chiều ngày 30/4/1975.

    Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn Tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện, chiến đấu đến cùng và bị bắt lúc 11 giờ đêm ngày 1/5/75 khi bộ chỉ huy Tiểu khu thất thủ.

    Và còn nhiều, rất nhiều gương trung liệt khác của quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong ngày 30/4/1975 vì không chấp nhận đầu hàng quân Bắc xâm Việt cộng.

    Một trang sử đã lật qua !

    – Sau khi chiếm Sài Gòn quân Bắc xâm Việt cộng đã cướp 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa do phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo trao tay. Rồi đổ cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đem đi ngoại quốc.

    – Ngày 10/05/1975, quân Bắc xâm Việt cộng tập trung Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong chính sách “tập trung cải tạo” thực tế là đi tù. Hàng trăm ngàn người đã bị đày ải trong các trại tù từ Nam chí Bắc; trong số đó có những người đã bị chết trong các trại tù do bịnh tật, do sự trả thù, do sự vượt thoát không thành và bị hạ sát. Con số có thể lên đến hàng ngàn, hàng chục ngàn người bị chết trong các trại tù trá hình từ Nam chí Bắc.

    – Ngày 14/08/1975 Đại tá Hồ Ngọc Cẩn tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện bị Việt cộng hành quyết.

    – Từ ngày 02/09 đến 27/12/1975, Việt cộng hành quyết 7 sĩ quan và viên chức hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa ở trại tù Suối Máu, tỉnh Đồng Nai.

    – Ngày 18/09/1975 đổi tiền lần thứ nhất.

    – Ngày 10/11/1975 chiến dịch đánh tư sản mại bản lần đầu do Nguyễn Hữu Thọ cầm đầu.

    – Ngày 22/12/1975 Việt cộng tiến hành thống nhất hai miền Nam Bắc và chính thức khai tử Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (một bình phong, con cờ trong âm mưu thôn tính miền Nam) bằng cách chỉ xử dụng lá cờ đảng sao vàng làm “quốc kỳ” cho nước Việt Nam thống nhất.

    – Từ 02/01 đến 13/08/1976, quân chiếm đóng Việt cộng xử tử hình 17 sĩ quan và viên chức hành chánh VNCH ở trại tù Suối Máu, tỉnh Đồng Nai.

    – Ngày 12/02/1976, Việt cộng tấn công nhà thờ Vinh Sơn ở Sài Gòn và giết 3 vị linh mục. Một số thành viên của tổ chức Liên Tôn bị bắt, trong đó có Linh mục Quang Minh.

    – Ngày 12/03/1976, Trần Văn Phác, bộ trưởng thông tin Việt cộng ra lịnh tịch thu, tiêu hủy “sách báo đồi trụy, phản động” ở miền Nam Việt Nam. Đây là lần thứ ba đạo quân Bắc xâm diệt chủng văn hóa của tộc Việt.

    – Ngày 05/06/1976, Trần Trọng Tân, trưởng ban khoa giáo thành ủy Sài Gòn ra thông báo tổ chức các khóa học chánh trị cho giới văn nghệ sĩ miền Nam, và sau đó là những đợt truy lùng bắt bớ văn nghệ sĩ trên toàn miền Nam.

    – Từ khi sài Gòn bị thất thủ, hàng ngàn, hàng vạn người dân Việt đã liều mạng bỏ xứ ra đi. Họ dùng đủ mọi phương tiện, bằng tàu bè, bằng đường bộ để vượt thoát ra khỏi chế độ Cộng sản Việt Nam. Do đó đã đưa đến cao trào vượt biển vào năm 1979. Có những người may mắn đến được bến bờ tự do, rồi được định cư ở một nước thứ ba; nhưng có những người vượt biển khác đã để xác thân lại dưới lòng biển sâu; và có những người phụ nữ Việt Nam bị hải tặc Thái Lan cưỡng bức, rồi hoặc giết, hoặc bắt đi đem bán cho các nhà “tiếp khách” ở Vọng Các. Con số nạn nhân vượt biển tìm tự do lên đến khoảng 1 triệu 500 ngàn người. Và con số người đến được bến bờ tự do, không dưới 3 triệu người, định cư rải rác trên thế giới từ Mỹ sang Âu.

    – Ngày 26/12/1978, quân Bắc xâm Việt cộng xua 200 ngàn quân xâm lăng Cao Miên.

    – Ngày 17/02/1979, Tầu cộng xua hơn 500 ngàn quân tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.


    Thăng Long ngàn xưa huy hoàng rực rở biết bao nhiêu thì Thăng Long ngàn năm sau ê chề nhục nhả không bút mực nào diễn tả được.

    Đó là phải kể từ khi đảng Cộng Sản Việt Nam làm chủ Thăng Long năm 1954, họ đã hành xử như một thế lực xâm lăng của ngoại bang từ phương Bắc.

    Nói một cách rõ ràng hơn chính đảng Cộng sản Việt Nam đã biến mình thành làm cánh tay nối dài của Trung cộng trong mục tiêu xâm lược, nô lệ hóa dân tộc Việt Nam từng bước một qua nhiều thời kỳ khác nhau.

    Từ cải cách ruộng đất 1956 đến tiến hành xâm lược quốc gia Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, núi xương sông máu trải dài trên đất nước đã một thời tự hào có nền văn hiến chi bang. Ngoài ra cần phải kể thêm đến hải chiến Hoàng Sa năm 1974 giữa hải quân Việt Nam Cộng Hòa và Trung cộng.

    Dòng sử cận đại của tộc Việt đã đề danh không biết bao nhiêu anh hùng, anh thư, chiến sĩ, danh tướng đã hết lòng chiến đấu, hy sinh cho lý tưởng tự do, tự cường của nước nhà. Từ anh hùng Nguyễn Thái Học, Cô Giang, Cô Bắc, đến anh hùng Huỳnh Phú Sổ, anh hùng Ngô Đình Diệm, anh hùng Ngô Đình Nhu cho đến anh hùng Trương Quang Ân, Lưu Trọng Kiệt, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Hiếu, Ngụy Văn Thà, Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Xuân Phúc, Võ Đằng Phương, Trần Văn Hương, Trương Văn Sương, Nguyễn Văn Trại v.v… họ đã là những biểu tượng sáng ngời của nền văn hiến chi bang, một thời là Đại Việt Quốc.

    Điều đáng tiếc đối với dân tộc Việt Nam là tài nguyên, vật lực đổ xuống chỉ để cho nhu cầu chiến tranh, cũng như bành trướng chủ nghĩa Cộng sản phục vụ cho sự bành trướng xuống phương nam của quân Trung cộng.

    Sau ngày thống nhất đất nước bằng bạo lực vào thời điểm 30/04/1975, đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đẩy con dân Việt Nam vào những cuộc chiến tranh khác như chiến tranh biên giới Việt Trung 1979, chiến tranh biên giới Cao Miên; cuộc chiến Núi Đất; thảm sát Trường Sa 1988 v.v…

    Cỏn phải kể đến biên giới phía Bắc, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm, Vịnh Bắc Bộ, rừng đầu nguồn, Tây Nguyên, Hoàng sa, Trường Sa, đảo Bạch Long Vỹ, tất cả đều được đảng Cộng Sản Việt Nam dâng cho quân Trung cộng để đánh đổi sự tồn tại chính trị của họ.

    Người dân Việt không ngồi yên cho đảng Cộng sản thực hiện điều họ mong muốn. Đó là nô lệ hóa dân tộc trở thành quận huyện của Tàu. Những người dân này đã biểu hiện ý chí chống ngoại xâm cũng như quyết tâm đòi dân quyền, nhân quyền cho tộc Việt. Trong đó tiêu biểu là người tù chính trị xuyên thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu; Linh mục tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lý, Hòa thượng Thích Quảng Độ, tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, ông Vi Đức Hồi, ông Nguyễn Văn Bảy, ông Nguyễn Văn Lía, cô Đỗ thị Minh Hạnh, Đặng Phương Nghiêm, Trần Huỳnh Duy Thức, Điếu cày Nguyễn Văn Hải, Bùi thị Minh Hằng, anh ba Sài Gòn, Tạ Phong Tần v.v…cho dù thân họ nằm trong nhà tù nhỏ xã hội chủ nghĩa, nhưng tâm hồn, ý chí họ phóng khoáng, cao thượng luôn giữ vững tấm lòng son sắt đối với dân, với nước, bất chấp gian lao, khổ sở, cũng như những sự hành hạ về thể xác và tinh thần mà nhà đương cuộc đã dành cho. Ý chí đấu tranh bất khuất của họ đã làm dư luận quốc nội và quốc tế quan tâm sâu sắc, và những định chế quốc tế, cho đến các tổ chức phi chánh phủ đồng loạt lên tiếng đòi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức cho những người chiến sĩ quả cảm này.

    Liên quan đến cuộc họp ở Thành Đô (Tứ Xuyên), Trung cộng đầu tháng 9/1990 giữa lãnh đạo cộng sản Việt Nam và Cộng sản Tàu, theo Nguyễn Cơ Thạch bộ trưởng ngoại giao đã nhận định rằng: “một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu!”. Một lời than áo não. Lời cảnh báo đó, đến ngày hôm nay vẫn còn có giá trị.

    Năm 2010 kỷ niệm một ngàn năm thành Thăng Long được thành lập, thay vì tổ chức sự kiện này trong niềm tự hào dân tộc để phát huy, chấn hưng dân khí, đảng Cộng sản Việt Nam lại hành động một cách khác (2).

    Họ tổ chức thật rình rang, tốn kém lễ lộc này để mừng quốc khánh Trung cộng ngày 01/10 nhưng lồng dưới tiêu đề kỷ niệm đại lễ ngàn năm Thăng Long. Đây là một sự đánh tráo lịch sử, làm nhục cho lịch sử dân tộc. Hành động này đã hoàn toàn làm mất đi ý nghĩa thiêng liêng của lễ kỷ niệm ngàn năm.

    Dư luận trong, ngoài nước đã phản ứng rất dữ dội sự đánh tráo lịch sử, làm nhục tổ tiên của đảng Cộng sản Việt Nam vào lúc đó.

    Tháng 05/2011, xảy ra sự kiện tàu hải giám Trung cộng cắt dây thép tàu Bình Minh của Việt Nam cộng sản. Đứng trước sự kiện khiêu khích này nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phản ứng rất yếu ớt, nhu nhược.

    Thế nhưng người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước đã bất chấp sự nhu nhược, hèn hạ của nhà cầm quyền hiện tại, họ đồng loạt tổ chức biểu tình phản đối hành động xâm lấn của Trung cộng; đặc biệt người Việt hải ngoại còn nêu bật thủ phạm bán nước là nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam và tố giác hành động xâm lược của quân Trung cộng trước công luận quốc tế.

    Ngày 11/10/2011, ông Nguyễn phú Trọng, Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam đã cùng với Hồ cẩm Đào, chủ tịch nước Trung cộng chứng kiến lễ ký thỏa hiệp Việt Nam – Trung Cộng liên quan đến các vấn đề tranh chấp biển Đông (3).
    Ngày 24/12/2011, Hội Nghiên Cứu Sử Học Việt Nam tại Âu Châu đã ra Tuyên Cáo Chống Nội Thuộc Nước Tàu Lần Thứ 7 (4)

    Vào ngày 5 tháng 1 năm 2012 nhà cầm quyền huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, đã điều động công an đến cướp đất của ông Đoàn Văn Vươn. (5)

    Trong khi vụ cướp đất Tiên Lãng đang ầm ĩ cả trong lẫn ngoài nước, ngày 19/01/2012, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đã mời bà Trần Ngọc Sương – nguyên giám đốc Nông trường sông Hậu và những người liên quan đến vụ án Nông trường sông Hậu đến tòa để nghe phán quyết đình chỉ vụ án.

    Phóng viên Việt Hà của đài RFA cho biết vào rạng sáng ngày 24/04/2012, nhà cầm quyền tỉnh Hưng yên đã huy động 3000 công an, bộ đội đến cưỡng chế cánh đồng 70 ha của dân chúng xã Xuân Quan huyện Văn Giang.

    Khoảng 2000 người dân của ba xã Xuân Quan, Phụng Công và Cửu Cao đã chống trả quyết liệt với 3000 công an, bộ đội bị lạm dụng thi hành nhiệm vụ.

    Việc cưỡng chế đất ở Văn Giang Hưng Yên có liên quan đến công ty Ecopark. Người đứng đằng sau Ecopark là đương kim thủ tướng Nguyễn tấn Dũng.

    1000 công an (không có quân đội như lần cướp đất ở Văn Giang) cùng chó săn được huy động để đàn áp hơn 100 người dân địa phương ở Vụ Bản ngày 09/05/2012.

    Hành động cướp đất cướp của dân một cách công khai, và dã man đã khiến nhiều nhân sĩ, trí thức trong nước, hải ngoại còn nặng lòng với dân tộc đã lên tiếng chỉ trích.

    Các vụ cướp đất cướp của dân chưa yên thì ngày 06/05/2012, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tổ chức khánh thành tượng Đức Thánh Trần ở đảo Trường Sa nhằm đánh lạc hướng dư luận.

    Trong hội nghị Tổng kết năm 2011 của Bộ Khoa học và Công nghệ được tổ chức ngày 11/01/2012, ông Nguyễn tấn Dũng đã nhấn mạnh “Chúng ta quyết tâm làm điện nguyên tử. Không làm điện nguyên tử không có điện. Theo tính toán đến năm 2020, Việt Nam sẽ thiếu điện nghiêm trọng”.

    Thực ra, đây là phương tiện tham nhũng đối với đảng Cộng sản Việt Nam, cho dù việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân sẽ vô cùng bất lợi cho dân tộc Việt Nam.

    Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tạo ra ba quả bom treo lơ lửng trên đầu dân tộc Việt Nam.

    Chỉ có con đường cách mạng dân chủ mới thoát khỏi sự cai trị độc tài của đảng Cộng sản Việt Nam và chấm dứt tình trạng diệt chủng dân tộc qua ba quả bom bùn đỏ, đập nước, hạt nhân. Con đường cách mạng dân chủ sẽ là quả bom thứ tư, mà đối tượng nhắm đến không ai khác chính Cộng sản Việt Nam sẽ là mục tiêu hướng tới.

    http://www.truclamyentu.info/lich-su-viet-nam2.htm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s